Những giải pháp cơ bản để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái - Pdf 28

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Qua hơn 20 năm đổi mới và phát triển, kinh tế Yên Bái đã phát
triển và tăng trưởng với tỷ lệ khá cao và ổn định so với các tỉnh thuộc miền
núi phía Bắc (tốc độ tăng trưởng GDP/người từ 1986-2000 đạt 7.81%) cơ
cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, đời sống nhân dân tiếp tục được cải
thiện.
Bên cạnh những kết quả đạt được Yên Bái là tỉnh miền núi còn
gặp nhiều khó khăn, điểm xuất phát nền kinh tế thấp, vẫn là tỉnh nghèo,
kinh tế hàng hoá chậm phát triển.
Văn Yên là một huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Yên Bái, với tốc độ
tăng trưởng và phát triển ngần như tương ứng với sự phát triển chung của
toàn tỉnh.
Bên cạnh đó Huyện Văn Yên vẫn là một huyện nghèo của tỉnh Yên Bái,
khả năng tận dụng hết nguồn lực để phát triển kinh tế chưa phát huy được
tối đa. Đời sống của nhân dân còn nhiều hạn chế và thiếu thốn. Tình hình
trên do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân đáng quan tâm là do chúng
ta chưa xem xét đầy đủ đến một chiến lược phát triển toàn diện mà trong đó
kế hoạch 5 năm đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc định hướng phát
triển kinh tế xã hội.
Xuất phát từ luận cứ trên cùng với thời gian thực tập ở phòng Tài
Chính – Kế hoạch của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái, em đã tìm hiểu về
chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh từ 2001-2010 cũng như kế hoạch 5
năm 2006 -2010 của huyện Văn Yên.
Từ đó em lựa chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp là:
“ Những giải pháp cơ bản để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội 5 năm 2006-2010 của huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái ”
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

- Bên cạnh những ưu điểm nổi bật thì thị trường bên trong nó cũng
chứa đựng nhiều khuyết tật, như vậy đòi hỏi Nhà Nước phải có biện pháp
can thiệp vào nền kinh tế để hạn chế thấp nhất những khuyết tật của thị
trường. Điều này cũng có nghĩa là đòi hỏi Nhà nước phải tham gia vào việc
giải quyết các vấn đề trong hoạt động của nền kinh tế.
Vì vậy việc Nhà Nước can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế để
hạn chế khuyết tật là một yếu tố khách quan. Nhà Nước thường sử dụng
các công cụ để điều tiết thị trường đó là một trong những công cụ sau: luật
pháp các chính sách kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, kế hoạch phát triển kinh
tế – xã hội và huy động các lực lượng kinh tế của Nhà Nước.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong hệ thống những công cụ nói trên thì kế hoạch phát triển kinh tế – xã
hội có nhiệm vụ xác định được những mục tiêu cũng như các phương
hướng phát triển nền kinh tế và đưa ra những giải pháp để thực hiện được
các phương hướng và mục tiêu đó.
Dựa vào những định hướng về phát triển kinh tế xã hội mà nhà nước
đã sử dụng đồng bộ những công cụ khác nhau nhằm thực hiện và đạt được
những mục tiêu đã vạch ra, sao cho hiệu quả kinh tế phù hợp với điều kiện
của đất nước ta.
a. Khái niệm về kế hoạch hoá:
Kế hoạch hoá là sự thể hiện ý đồ phát triển của chủ thể quản lý đối
với một đối tượng quản lý và phương thức tác động để đạt được các mục
tiêu đặt ra: làm gì? làm như thế nào? ai làm? khi nào?
Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội là một trong những phương thức
quản lý của nhà nước bằng mục tiêu. Nó thể hiện ở việc chính phủ cần xác
định về các mục tiêu kinh tế – xã hội cần phải hướng đến một trong những
một thời kỳ nhất định (trong một năm, 5 năm) và cách thức để đạt được

trường. Những kế hoạch đúng phải là những kế hoạch phản ánh được lợi
ích của các bên tham gia quan hệ trên thị trường.
Mặt khác thị trường chỉ có thể giải quyết được các vấn đề có tính
chất ngắn hạn, lâu dài, bền vững. Do đó việc sử dụng kế hoạch như một
công cụ để Nhà nước hướng dẫn thị trường và điều chỉnh thị trường nhằm
kết hợp giữa lợi ích ngắn hạn với lợi ích dài hạn, giữa sự phát triển trước
mắt với sự phát triển bền vững của đất nước.
+ Kế hoạch có tính linh hoạt, mềm dẻo: kế hoạch trong nền kinh tế thị
trường không phải là kế hoạch cứng nhắc mà là kế hoạch hết sức mềm dẻo
và linh hoạt thích hợp với điều kiện của thị trường. Điều đó có nghĩa là tuỳ
theo tình hình biến đổi của thị trường mà phải có kế hoạch thích ứng sao
cho phù hợp với yêu cầu của thị trường mà vẫn đảm bảo được mục tiêu của
kế hoạch. Vì vậy cần đảm bảo theo yêu cầu của kế hoạch.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Kế hoạch chỉ mang tính định hướng, kế hoạch đưa ra một loạt các
phương hướng sẽ phải đạt được trong tương lai với những chỉ tiêu cụ thể.
Điều này có nghĩa là những biện pháp mệnh lệnh hành chính trực tiếp
không được sử dụng, mà chủ yếu sử dụng các biện pháp gián tiếp để cho
nền kinh tế đạt được mục tiêu mà kế hoạch đã đưa ra.
- Trong xây dựng kế hoạch thì coi việc xây dựng kế hoạch là việc hình
thành nên các kịch bản, từ đó xây dựng nên nhiều phương án ứng với điều
kiện cụ thể, mục đích cụ thể. Qua đó ta có thể đưa ra các giải pháp lựa chọn
phương án tối ưu. Mặt khác chỉ tiêu kế hoạch phải được xây dựng trong
một khoảng và phải tạo ra được các phương án thay thế khác nhau .
Trong việc triển khai thực hiện kế hoạch áp dụng nguyên tắc thay đổi
theo kiểu dựa vào mục tiêu theo dõi mục tiêu và điều khiển theo sự biến
động của bên ngoài. Để sao cho kế hoạch thực hiện một cách không cứng

- Chiến lược phát triển là tổng hợp những phân tích, những đánh giá
và lựa chọn về căn cứ, những quan điểm, những mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội của đất nước trong một khoảng thời gian dài trên mười năm và
những chính sách cụ thể để có thể thực hiện những mục tiêu đã đưa ra. Đây
được coi là bộ khung của kế hoạch để có thể dựa vào đó để xây dựng kế
hoạch ngắn hạn.
+ 5 năm là thời gian bắt đầu một nhiệm kỳ Đại Hội Đảng toàn quốc
mới, cùng với một nhiệm kỳ chính trị. ở đấy họ có thể rút ra được những
điều còn hạn chế chưa được thực hiêntrong kế hoạch 5 năm vừa qua, để
thực hiện kế hoạch 5 năm tiếp theo cho hoàn chỉnh và đạt hiệu quả cao hơn.
Kế hoạch 5 năm là kế hoạch cụ thể hoá chiến lược phát triển trong
dài hạn của nền kinh tế nhằm xác định những mục tiêu, định hướng, những
nhiệm vụ, các chương trình, các cân đối vĩ mô chủ yếu và các giải pháp
chính sách có giá trị hiện hành trong thời gian 5 năm.
Kế hoạch 5 năm được xác định trong thời gian đó để phù hợp với
một chu kỳ phát triển của nền kinh tế, trong một chu kỳ đó nó thể hiện
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được bản chất của một bộ phận kinh tế nào đó. Trong thời gian 5 năm đó
không quá dài để khi phát hiện được hạn chế để có thể xử lý kịp thời.
Trong môi trường hiện tại tiến bộ phát triển khoa học hiện đại thì 5
năm là thời gian trung bình để hình thành các công trình, dự án cơ bản
trong hệ thống phát triển các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân, để có thể
đưa vào sử dụng và đánh giá phát huy hiệu quả vốn đầu tư. Kế hoạch 5
năm là khoảng thời gian không dài để đánh giá và cho các chỉ tiêu kế hoạch
mang tính thực tiễn. Từ đó, chúng ta mới có thể xây dựng định hướng mới
cho kế hoạch trong 5 năm tới.
5 năm là khoảng thời gian đảm bảo cho tính định hướng, chính xác

thống kế hoạhc hoá vì nó là một trong những bước đi đầu tiên làm kế hoạch
xây dựng nền móng cho nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp đáp
ứng được nhu cầu phát triển của toàn cầu.
Mặt khác nghị quyết đại hội 8 đã dần đặt ra yêu cầu sử dụng kế
hoạch 5 năm là chủ yếu và có phân ra từng năm, để đặt mục tiêu cụ thể.
Vậy nhằm để nâng cao chất lượng trong công tác Kế Hoạch Hoá ở
nước ta cần coi trọng kế hoạch 5 năm và lấy kế hoạch 5 năm là hình thức
quản lý chủ yếu để định hướng phát triển theo kế hoạch 5 năm làm lòng
cốt.
Một trong những chỉ tiêu để hoàn thành kế hoạch 5 năm là kế hoạch
hàng năm.
Kế hoạch hàng năm:
Kế hoạch hàng năm là một trong những công cụ triển khai cụ thể hoá
kế hoạch 5 năm. Nó phân đoạn 5 năm ra từng năm cụ thể để có thể hoàn
thành kế hoạch 5 năm một cách chắc chắn và bền vững.
Kế hoạch hàng năm nằm trong bộ khung của kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội 5 năm và dựa trên chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất
nước, các nghành, các địa phương sẽ dựa vào bản kế hoạch hàng năm để
xây dựng kế hoạch phát triển của các ngành và của địa phương.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cũng có thể nói đây là kế hoạch để điều hành, quản lý những chỉ
tiêu, nó bao gồm cả việc thiết lập những cân đối lớn dựa trên cơ sở nghiên
cứu, dự báo những nhu cầu của thị trường và điều chỉnh một cách hợp lý
cho các kế hoạch tiếp theo.
Mặt khác kế hoạch hàng năm còn là công cụ để hoàn thiện kế hoạch
5 năm, có tính chất bổ xung dựa vào những vấn đề mới chưa có trong nội
dung của kế hoạch 5 năm, nó là sự bổ xung cần thiết để kế hoạch 5 năm trở

gian thực hiện.
Xây dựng hệ thống các quan điểm phát triển dựa vào chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội cuả đất nước và sự phân kỳ các giai đoạn phát triển.
Nội dung này bao gồm thiết lập hệ thống các tư tưởng chỉ đạo xây dựng kế
hoạch xuyên suốt trong thời kỳ kế hoạch. Một số quan điểm cần phải được
nghiên cứu là.
- Quan điểm về việc kết hợp tăng trưởng ổn định bền vững và tạo
điều kiện phát triển cho giai đoạn, quan điểm về kết hợp hài hoà kinh tế và
xã hội, quan điểm về phát triển toàn diện, quan điểm về kết hợp nguồn lực
và khai thác nguồn nội lực bên ngoài.
Xác định mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển của nền kinh tế. ở cấp
tổng thể nền kinh tế, cần xác định hệ thống mục tiêu kinh tế vĩ mô, bao
gồm một số mục tiêu cơ bản :
- Tăng trưởng kinh tế mà mục tiêu tổng quát là tốc độ gia tăng GDP,
theo đó là tốc độ gia tăng ngành công nghiệp, nông, lâm, ngư nghiệp, dịch
vụ.
- ổn định tài chính trong tỉnh, tăng khả năng và tiềm lực tài chính, xử
lý hài hoà quan hệ tích luỹ - tiêu dùng, tăng khả năng đầu tư phát triển.
- Tăng khả năng đối ngoại, xuất - nhập khẩu và thu hút nguồn vốn từ
bên ngoài.
- Bảo đảm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, phát triển dân trí, cải
thiện dân sinh và các mặt xã hội.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Xây dựng hệ thống các cân đối vĩ mô chủ yếu, bao gồm việc tính
toán và xác định các cân đối về tích luỹ tiêu dùng, cân đối ngân sách, cân
đối về đầu tư phát triển kinh tế - xã hội với việc huy động toàn bộ nguồn
lực phát triển trong nền kinh tế, cân đối về xuất - nhập khẩu, cân đối về cán

trước để đào tạo cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch,
xây dựng quy hoạch, xây dựng chính sách. Vì vậy: nội dung của công tác
dự báo là:
- Phân tích xu thế phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hay một địa
phương nào đó và dự báo phát triển của những linh vực trong sự phát triển
kinh tế xã hội như thu nhập, việc làm, sự phát triển đồng bộ…
- Phân tích ảnh hưởng của thị trường kinh tế thế giới tác động đến
nền kinh tế trong nước.
- Xác định những nhân tố tác động đến kinh tế - xã hội đất nước, như
nguồn nguyên nhiên liệu, giá cả, sức mua của nhân dân, những thay đổi về
thị trường, tâm lý người tiêu ding, sự tiến bộ của khoa học công nghệ.
Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Việc xác định quan điểm, mục tiêu phát triển việc định hướng cơ
cấu kinh tế - xã hội và các chính sách chủ yếu để huy động mọi nguồn lực,
mọi yếu tố cả bên trong và bên ngoài nhằm tạo ra những động lực phát
triển là nội dung cốt lõi của kế hoạch phát triển. Khi đã xác định được kế
hoạch thì việc phát triển kinh tế - xã hội sẽ có cơ sở vững chắc, tạo điều
kiện để biến kế hoạch thành hiện thực.
- Nội dung cơ bản của việc xác định kế hoạch 5 năm là các phương
án phát triển kinh tế vĩ mô dài hạn và trung hạn, trong đó có các chỉ tiêu cơ
bản như tốc độ tăng trưởng GDP của vùng được lập kế hoạch, phát triển xã
hội, định hướng kinh tế đối ngoại, ...
- Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thành phần kinh tế, hợp tác
đầu tư... đối với nền kinh tế cũng như các vị trí trọng điểm và các ngành
quan trọng.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Xây dựng quy hoạch tổng thể, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Về nội dung kế hoạch: do nhận thức được rõ vai trò của các lĩnh vực
văn hoá, xã hội đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, đặc biệt trong điều kiện
xã hội Việt Nam với đa số là lao động trong ngành nông nghiệp đơn giản
nên trong kế hoạch các năm từ 1991 - 1996 đã chuyển hướng từ kế hoạch
phát triển kinh tế sang kế hoạch phát triển kinh tế. Hệ thống các mục tiêu
chiến lược này là:
+ Mục tiêu kinh Tế
+ Mục tiêu xã hội.
+ Mục tiêu tổng hợp.
Để thực hiện được các mục tiêu này, cần phải có sự phối hợp, kết
hợp thực hiện bởi các nhà lãnh đạo thông qua hệ thống tham mưu của mình
và hệ thống kế hoạch hoá trong cả nước.
- Hệ thống chỉ tiêu kế hoạch :
+ Giảm các chỉ tiêu mang tính pháp lệnh
+ Tăng các chỉ tiêu kinh tế, chỉ tiêu xã hội và chỉ tiêu lồng ghép của
hai chỉ tiêu kinh tế và xã hội.
- Hệ thống các chính sách vĩ mô điều tiết sự phát triển:
Các chính sách phải là khuôn mẫu cho các đơn vị cấp dưới sử dụng
và thực hiện. Cần đảm bảo tính đầy đủ, đơn giản, cụ thể. Bảo đảm sự
thống nhất giữa các loại chính sách với nhau và tính ổn định của các loại
chính sách.
Kế hoạch kinh tế hàng năm bao hàm các chính sách linh hoạt, phù
hợp với những thay đổi ở trong và ngoài nước mà không dự kiến hết trong
khi xây dựng kế hoạch 5 năm. Kế hoạch bổ sung và thúc đẩy cho kế hoạch
5 năm thực hiện thành công.
Xây dựng các chương trình quốc gia và dự án phát triển.
Các chương trình quốc gia được tiến hành đồng thời với việc xây
dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B

có hiệu quả nhất.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Dự án là phương tiện để gắn kết kế hoạch và thị trường, nâng cao
tính khả thi của kế hoạch , đồng thời đảm bảo khả năng điều tiết thị trường
theo định hướng xác định của kế hoạch .
- Dự án góp phần giải quyết quan hệ cung cầu về vốn trong phát triển
kinh tế - xã hội và giải quyết quan hệ cung cầu về sản phẩm hàng hoá, dịch
vụ trên thị trường.
- Dự án góp phần cải thiện đời sống dân cư và cải tiến bộ mặt kinh tế
- xã hội của từng vùng và của cả nước.
Do các vai trò trên, dự án phát triển rất được coi trọng trong hệ thống
kế hoạch hoá ở Việt Nam hiện nay. Nó là công cụ thực hiện nhiệm vụ, mục
tiêu của kế hoạch với hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất.
b) Phương pháp xây dựng Kế Hoạch 5 năm.
Có 2 phương pháp xây dựng kế hoạch 5 năm đó là:
- Kế hoạch 5 năm “ Thời kỳ”
- Kế hoạch 5 năm “Cuốn chiếu”.
Phương pháp 1: Kế hoạch 5 năm “Thời kỳ”
Xây dựng kế hoạch này trong khoản thời gian là 5 năm, với mốc
phân đoạn cố định (ví dụ: xây dựng kế hoạch 2001 - 2005, kế hoạch 2006 -
2010...).
Cách tính toán chỉ tiêu xây dựng và tính bình quân trên một năm của
cả thời kỳ hoặc tính chỉ tiêu cho các năm cuối.
- Ưu điểm:
Phương pháp này dễ tính toán vì muốn xây dựng kế hoạch cho 5 năm
tiếp theo thì lấy số liệu kế hoạch và thực tế của kỳ trước rồi nhân với hệ số
phát triển bình quân của các giai đoạn trước. Bên cạnh đó, là cũng dễ quản

đến luôn phải điều chỉnh kế hoạch. Điều này đồng nghĩa với việc gây sự
tốn kém trong xây dựng và khó thực hiện các kế hoạch vì bị thay đổi nhiều
lần nếu kế hoạch được xây dung ban đầu không phù hợp.
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNGII.
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH TRONG
GIAI ĐOẠN 2006 – 2008
I. TÓM TẮT TÌNH HÌNH ĐẶC ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU TỔNG
QUÁT CỦA KẾ HOẠCH 5 NĂM 2006 - 2010 CỦA HUYỆN VĂN YÊN.
1. Tóm tắt tình hình đặc điểm của huyện Văn Yên:
Văn Yên là một huyện vùng thấp của tỉnh Yên Bái được thành lập ngày
1 tháng 3 năm 1965 theo quyết định 117 – CP do hội đồng Chính phủ ban
hành ngày 16 tháng 12 năm 1964. Tính đến nay huyện có 27 xã và 1 thị
trấn. Huyện Văn Yên nằm ở toạ độ 104 độ 23’ đến 104 độ 60’ kinh đông,
21 độ35 đến 22 độ 10’ vĩ bắc. Phía tây nam giáp huyện Văn Chấn và Mù
Cang Chải, phía tây Bắc Huyện Trấn Yên. Chiều dài của huyện là 55 km,
nơi rộng nhất là 35 km. Toàn huyện có diện tích là 1.363 km2 với hơn
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
22.000 dân, mật độ dân số trung bình là 19.000 người/ km2 có 11 dân tộc
đang sinh sống góp công xây dựng làng bản quê hương tươi đẹp.
Do điều kiện thời tiết ở đây là nhiệt đới gió mùa, nhiều nắng, nhiều
mưa nền nhiệt độ cao. Khí hậu mát ở vùng cao cho phép trồng nhiều dược
liệu quý và chăn nuôi gia súc như bò, dê, hươu, nai… Rừng Văn Yên thuộc
rừng á nhiệt đới và nhiệt đới núi cao với nhiều loại cây lá kim như pơmu,

chất, tinh thần trí tuệ của tất cả các tầng lớp nhân dân trong huyện, dưới sự
lãnh đạo của Đảng theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa. Đi đôi với phát
huy nội lực và tranh thủ tối đa các yếu tố bên ngoài, vượt qua những khó
khăn, thách thức, phát triển các ngành sản xuất gắn với hoàn thiện quan hệ
sản xuất, đẩy mạnh Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá cải thiện rõ rệt đời
sống nhân dân trong huyện, khắc phục từng bước chống tụt hậu về kinh tế
và khoa học công nghệ. Tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển Kinh tế –
Xã hội của huyện trong chiến lược phát triển kinh tế chung của tỉnh và của
SV: Đỗ Văn Thành – Lớp Kế hoạch 46B
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cả nước. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm 11 - 15% và ở
mức cao hơn.
Phát triển kinh tế thị trường với nhiều thành phần theo định hướng
Xã Hội Chủ Nghĩa, lấy kinh tế Nhà nước làm chủ đạo, kinh tế Nhà nước và
kinh tế hợp tác xã là nền tảng trong quá trình phát triển. Phát huy mọi tiềm
năng của các thành phần kinh tế, khuyến khích mọi hoạt động kinh doanh
hợp pháp của các thành phần kinh tế, phát huy tác dụng tích cực của cơ chế
thị trường, hạn chế mặt tiêu cực của nó để thực hiện công bằng và tiến bộ
Xã hội. Phát triển kinh tế thị trường gắn liền với đẩy mạnh cải cách hành
chính đổi mới bộ máy Nhà nước.
Phát triển kinh tế của huyện hội nhập với sự phát triển của tỉnh và
của cả nước. Để có nền kinh tế phát triển thì biết phát huy nội lực là yếu tố
quyết định, nhưng cần phải biết tận dụng tối đa những lợi thế bên ngoài, tạo
nên một sức mạnh tổng hợp trong chiến lược phát triển Kinh tế – Xã hội
của huyện.
Coi trọng nhân tố con người, từng bước đào tạo, bồi dưỡng và phát
triển nguồn nhân lực có kiến thức về khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý
tiên tiến đủ sức tiếp thu có hiệu quả khoa học công nghệ phục vụ sản xuất

so vi nm 2005,
- Bỡnh quõn lng thc u ngi n nm 2010 l 339,2 kg tng
39,1kg so vi nm 2005.
Bng k hoch v mt s ch tiờu kinh t xó hi ch yu
Giai on
2006 2007 2008 2009 2010
1) Tổng sản phẩm trong nớc(GDP
giá 1994)
Tr. đồng
- Tốc độ tăng trởng % 11,3 11,5 11,5 11,5 11,7
Trong đó: Nông, lâm, ng nghiệp Tr. đồng 276.000 297.00
0
323.700 349.000 379.000
- Công nghiệp xây dựng Tr. đồng 126.000 148.00
0
171.400 204.000 239.500
- Dịch vụ Tr. đồng 119.500 136.00
0
152.400 169.000 188.000
SV: Vn Thnh Lp K hoch 46B
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyờn thc tp tt nghip
- GDP bìnhquân đầu ngời(giá TT) N.đồng 3.900 4.350 4.850 5.400 6.100
2) Cơ cấu GDP (giá thực tế)
- Nông, lâm, ng ngiệp % 52,6 51,2 49,7 48,2 47,0
- Công nghiệp xây dựng % 20,1 21,2 22,4 23,6 24,5
- Dịch vụ % 27,3 27,6 27,9 28,2 28,5
3) Tổng vốn đầu t toàn xã hội
Tr. đồng 155.143 174.421 193.860 213.260 244.350

.
Cỏc lnh vc kinh t ch yu:
a. Sn xut nụng nghip:
Ngnh nụng lõm nghip chim t trng ln trong ton b nn kinh
t. Vỡ vy t nm 2006 2010 tip tc chuyn dch c cu kinh t ni
ngnh, cõy trng vt nuụi nõng cao giỏ tr trong sn xut nụng lõm
nghip, phn u n 2010 giỏ tr sn xut ngnh nụng lõm nghip l 379
t ng chim 47% giỏ tr ton b nn kinh t.
- Cõy lng thc: Chuyn mnh sang hng sn xut ging lỳa cú
cht lng cao nh HT1, AYT 77, chiờm hng, cõy cú ht nh ngụ gúp
phn n nh lng thc phn u n 2010.
SV: Vn Thnh Lp K hoch 46B
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Diện tích lúa là 5.500 ha, năng suất cả năm trên 100 tạ/ha, diện tích
ngô 2010 bằng 1800 ha, năng suất trên 40 tạ/ha đưa tổng sản lượng lương
thực có hạt lên 40.855 tấn.
- Sắn: ổn định vững chắc diện tích sắn đến 2010 bằng 4000 ha trong
đó sắn công nghiệp đạt 3000 ha; đảm bảo canh tác bền vững và phát huy
hiệu quả phục vụ đủ sản lượng sắn củ tươi cung cấp cho nhà máy chế biến
tinh bột sắn.
- Cây công nghiệp – cây ăn quả:
+ Cây dứa: Thâm canh tốt diện tích dứa hiện có, phấn đấu đưa diện
tích năm 2010 là 2.500 ha sản lượng 80.000 tấn đảm bảo nguyên liệu cho
nhà máy dứa hộp xuất khẩu hoạt động.
+ Cây mía: Diện tích mía giảm để chuyển một số diện tích sang
trồng dứa đến năm 2010, diện tích cây mía còn lại là 600 ha đủ nguyên liệu
cho sản xuất đường phục vụ tiêu dùng trong huyện và các vùng lân cận.
+ Cây chè: Cung cấp đủ sản lượng chè búp tươi cho nhà máy chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status