VỀ NGUYÊN TẮC CẤM DÙNG VŨ LỰC HOẶC ĐE DỌA
DÙNG VŨ LỰC
TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ
Ngày nay, trong các mối quan hệ quốc tế, với xu thế toàn cầu hóa, các quốc gia ngày càng
xích lại gần nhau, không một quyết định chính trị nào có thể trở thành niềm hy vọng và
mang ý nghĩa trong đời sống quốc tế nếu nó không được xây dựng trên cơ sở các nguyên
tắc cơ bản của luật quốc tế. Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất để giải quyết các
vấn đề tranh chấp giữa các quốc gia là nguyên tắc không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ
lực trong quan hệ quốc tế. Nguyên tắc này được áp dụng để giải quyết các tranh chấp về
lãnh thổ, khai thác sử dụng biển, nhân quyền... Do bất cứ lĩnh vực nào trong quan hệ giữa
các quốc gia hiện nay đều có thể bị đe dọa bởi việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ
lực nên việc tuân thủ nguyên tắc này là điều hết sức cần thiết cho sự ổn định, phát triển
trong hòa bình an ninh của thế giới ngày nay.
1. Sự hình thành và phát triển
“Không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực” trước khi được thừa nhận là nguyên tắc cơ
bản của luật quốc tế đã được các văn bản pháp lý quốc tế như Công ước Lahay năm 1899
về giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế và Công ước năm 1907 về hạn chế sử dụng
vũ lực đối với quốc gia vi phạm cam kết quốc tế đề cập tới nhưng mới chỉ thể hiện được ở
một số khía cạnh. Như vậy lần đầu tiên các công ước quốc tế đã ghi nhận việc tiến hành
chiến tranh không còn là quyền của quốc gia, nhưng cũng chưa đưa ra những quy định
ngăn cấm chiến tranh, mà chỉ kêu gọi các quốc gia “với khả năng có thể” thì ngăn ngừa
nguy cơ dẫn tới dùng vũ lực.
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) đã xuất hiện Quy chế Hội Quốc Liên.
Điều 12 Quy chế Hội Quốc Liên quy định các nước thành viên không được sử dụng chiến
tranh khi chưa áp dụng các biện pháp hòa bình. Như vậy, mặc dù đã có bước tiến mới so
với Công ước Lahay 1899 và Công ước năm 1907 nói trên nhưng Quy chế Hội Quốc Liên
vẫn chưa đưa ra quy định cấm dùng vũ lực, vẫn coi việc áp dụng vũ lực là phương pháp
cuối cùng để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Tiếp đến là Hiệp định Paris 1928 về khước
từ chiến tranh. Hiệp định này xác định: “Các quốc gia thành viên lên án việc sử dụng
chiến tranh để giải quyết các tranh chấp, xung đột quốc tế và cam kết không dùng chiến
tranh như một công cụ quốc sách trong quan hệ với nhau”. So với các công ước quốc tế về
• Không tổ chức, khuyến khích, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các
hành vi khủng bố tại quốc gia khác;
• Không tổ chức, giúp đỡ các băng đảng vũ trang, nhóm vũ trang, lính đánh thuê đột
nhập phá hoại lãnh thổ quốc gia khác;
• Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược.
Như vậy nguyên tắc này không chỉ bao gồm việc cấm sử dụng lực lượng vũ trang hoặc
khuyến khích sử dụng vũ trang mà còn cấm cả những biện pháp khác nhằm chống lại chủ
quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia.
Thuật ngữ “vũ lực” theo Hiến chương LHQ không chỉ đơn thuần là sức mạnh vũ trang.
Khái niệm “vũ lực” được sử dụng trong Hiến chương được hiểu là sức mạnh vũ trang hay
bao gồm cả các loại sức mạnh phi vũ trang khác như sức mạnh về kinh tế, chính trị, sử
dụng lực lượng vũ trang không nhằm tấn công xâm lược quốc gia khác nhưng để gây sức
ép, đe dọa đến quốc gia đó. Ví dụ: tập trung quân ở biên giới với số lượng lớn, chuẩn bị
một cuộc tấn công tập trận ở biên giới nhằm biểu dương lực lượng đe dọa quốc gia láng
giềng, gửi tối hậu thư đe dọa quốc gia khác... Những hoạt động này cũng bị coi là vi phạm
nguyên tắc “cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực”.
3. Quyền tự vệ trong nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong
quan hệ quốc tế
Do việc sử dụng vũ lực đã bị nghiêm cấm, mọi thành viên của LHQ trong quan hệ đối
ngoại của mình, đều không được phép sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực. Tuy nhiên
cùng với xu thế phát triển của thời đại, các quan hệ quốc tế ngày càng phức tạp. Nhằm đối
phó với tình hình, bảo vệ nền hòa bình và an ninh quốc tế, bên cạnh nguyên tắc “cấm dùng
vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực”, tại khoản 4 Điều 2, Hiến chương LHQ còn đưa ra những
quy định ngoại lệ đối với việc sử dụng vũ lực, trong trường hợp xảy ra tấn công vũ trang
nhằm vào bất kỳ thành viên nào của LHQ mà Hội đồng Bảo an LHQ chưa áp dụng những
biện pháp cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thì tại Điều 51 đã ghi
nhận: “Bất kỳ nội dung nào trong Hiến chương này đều không được hủy hoại quyền tự vệ
cá thể hoặc quyền tự vệ tập thể”. Hai điều khoản này có tác dụng bổ trợ nhau, tạo thành
nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện nay là “cấm sử dụng vũ lực”; đây là những căn cứ
pháp lý cơ bản để cộng đồng quốc tế áp dụng vào những trường hợp cụ thể.
ra sự lựa chọn cho nước khác. Ví dụ, Mỹ đã khẳng định rõ quyền sử dụng vũ lực áp đặt,
khôi phục nền dân chủ cho Grenada và Nicaragoa... Vì vậy, “dân chủ” thường chỉ là cái cớ
để nước lớn thực hiện chính sách nhà nước cường quyền của họ. Trong chính sách đối
ngoại của Mỹ từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Chính phủ Mỹ lấy việc “thân Mỹ
chống cộng” làm tiêu chuẩn để phân biệt bạn thù, chứ không phải lấy tiêu chí “nhà nước
dân chủ” làm thước đo... Ngày nay, cộng đồng quốc tế đã cơ bản đạt được nhận thức
chung đối với việc cấm các hành vi, vi phạm trắng trợn nguyên tắc “can thiệp vào công
việc nội bộ của quốc gia khác”. Do vậy, biện pháp dùng vũ lực để truyền bá chế độ xã hội
và ý thức hệ đã không còn là mối đe dọa chủ yếu nhất đối với nguyên tắc “cấm sử dụng vũ
lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực”.
- Sự can thiệp về nhân quyền của chủ nghĩa nhân đạo
Trong một tình huống nào đó, sự can thiệp về nhân quyền của chủ nghĩa nhân đạo có thể
giải quyết được khủng hoảng về nhân quyền và cứu được rất nhiều sinh mạng vô tội.
Nhưng việc dùng vũ lực để can thiệp vào nước khác đương nhiên là mâu thuẫn với nguyên
tắc cấm sử dụng vũ lực của luật quốc tế. Vậy có thể coi đây là một ngoại lệ đặc biệt hay
không? Nhìn chung dư luận quốc tế đều cho rằng: trong trường hợp đặc biệt cấp bách, cần
phải có sự can thiệp nhưng phải tiến hành trong khuôn khổ LHQ, nếu không sẽ là phi pháp.
Điều đó có nghĩa là chỉ có LHQ mới có đủ uy quyền để thực hiện hành động này (trừ
trường hợp được nước chủ nhà cho phép, thậm chí yêu cầu). Như vậy Luật quốc tế không
cho phép áp dụng chủ nghĩa nhân đạo một cách bừa bãi, bởi nếu thế thì thế giới sẽ trở nên
hỗn loạn, chiến tranh sẽ xảy ra khắp nơi. Thế nhưng con bài “nhân quyền” hiện nay vẫn
được một số quốc gia dùng để đe dọa các quốc gia khác.
- Chủ nghĩa khủng bố
Hoạt động khủng bố quốc tế là một loại hoạt động phạm tội vô cùng nguy hiểm. Sự nguy
hại và tính nghiêm trọng của nó không chỉ biểu hiện ở số lượng các vụ khủng bố ngày càng
tăng mà còn biểu hiện ở việc dẫn đến sự biến động xã hội và gây ra cảm giác mất an ninh
cho mọi người, hình thành không khí khủng bố trong cộng đồng quốc tế. Nghiêm trọng
hơn nó còn dẫn đến những vụ tranh chấp quốc tế, ngày càng khơi sâu những mâu thuẫn
giữa các nước, các khu vực, các dân tộc và giữa các tôn giáo, trở thành nhân tố vô cùng
nguy hiểm đe dọa hòa bình và an ninh thế giới, đặt thế giới trong tình trạng bất ổn.
mâu thuẫn giữa các khu vực, giữa các quốc gia và giữa các dân tộc trên thế giới và điều cơ