Bài tập lớn học kỳ - Môn xây dựng văn bản pháp luật
A. LỜI MỞ ĐẦU
Văn bản nói chung đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của con người
và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: Văn hóa nghệ thuật, khoa học
kỹ thuật, sinh hoạt hàng ngày. Trong hoạt động quản lý nhà nước, với chức
nănng nhiệm vụ của mình nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản pháp luật
(VBPL) nhằm điều chỉnh tác động tới các quan hệ xã hội nhất định phát sinh
trong quá trình quản lý nhà nước. Tuy nhiên do một vài lý do mà việc ban hành
các văn bản pháp luật khiếm khuyết (VBPLKK) còn diễn ra khá phổ biến ở
nhiều cấp, ngành buộc các cơ quan nhà nước phải sử dụng những biện pháp để
xử lý nhằm hoàn thiện chúng. Trong bài viết của mình tôi sẽ đi nghiên cứu đề
tài: “Thực trạng ban hành văn bản pháp luật khiếm khuyết - Một số nhận xét
và kiến nghị” để có thể hiểu rõ hơn về tình hình ban hành VBPL trong thời gian
gần đây và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện.
B. NỘI DUNG
I. Một số khái niệm
VBPL là văn bản do các chủ thể ban hành theo hình thức và thủ tục do
pháp luật quy định, chứa đựng ý chí của chủ thể có thẩm quyền nhằm đạt được
mục tiêu quản lý và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
VBPLKK được hiểu là những văn bản “còn thiếu sót, chưa hoàn chỉnh”
không đảm bảo về chất lượng mà nhà nước yêu cầu. Trong quá trình xây dựng
VBPL thường có những dấu hiệu khiếm khuyết đặc trưng:
• VBPL không đáp ứng yêu cầu về chính trị.
• VBPL không đáp ứng về yêu cầu pháp lý Gồm: VBPL vi phạm thẩm
quyền ban hành; VBPL có nội dung trái với quy định của pháp luật; VBPL có
nội dung không phù hợp với các điều ước quốc tế (ĐƯQT) mà Việt Nam kí kết
và tham gia; VBPL có sự vi phạm các quy định về thể thức và thủ tục ban hành.
• VBPL không đáp ứng yêu cầu vê khoa học. Gồm có VBPL có nội
dung không phù hợp với thực trang và quy luật vận động của đời sống xã hội
hoặc thể hiện sự khiếm khuyết trong kỹ thuật pháp lý.
Đỗ Thị Thanh Thúy – KT33D002
chợ” với các cá nhân tham gia hoạt động; Và thêm một hạn chế nữa quy định tại
Đỗ Thị Thanh Thúy – KT33D002
2
Bài tập lớn học kỳ - Môn xây dựng văn bản pháp luật
khoản 1, khoản 4 Điều 5 liên quan đến hoạt động chế biến buôn bán các sản
phẩm gia súc, gia cầm. Do đó Quyết định này đã bị UBND TP Hà Nội đã ngay
lập tức ngưng hiệu lực của văn bản và ban hành quyết định 63/2009 thay thế cho
quyết đinh 51 và sủa đổi những bất cập của văn bản cũ.
2. VBPL vi phạm thẩm quyền ban hành.
Việc ban hành VBPL trái thẩm quyền (về cả nội dung và hình thức) đang
trở nên khá phổ biến trong giai đoạn gần đây. Thể hiện rõ nét đầu tiên là việc
ban hành VBPL trái thẩm quyền về mặt nội dung. Pháp luật quy định các chủ
thể có thẩm quyền chỉ được ban hành các VBPL phù hợp với thẩm quyền của
mình được pháp luật cho phép hoặc theo phân công, phân cấp quản lý. Tuy
nhiên chủ thể có thẩm quyền ban hành những văn bản để giải quyết những vấn
đề không thuộc thẩm quyền, vượt quá thẩm quyền của mình xảy ra khá phổ biến
ở các cơ quan từ trung ương đến địa phương. Có thể lấy ví dụ về Quyết định
33/2008/QĐ-BYT về việc ban hành tiêu chuẩn sức khỏe điều khiển phương tiện
giao thông cơ giới đường bộ và Quyết định số 34/2008/QĐ-BYT về việc ban
hành tiêu chuẩn sức khỏe của người khuyết tật điều khiển xe mô tô, xe gắn máy
ba bánh dùng cho người khuyết tật của Bộ Y tế đã gây xôn xao dư luân trước
đây. Trong hai Quyết định này Bộ Y tế đã đưa ra rất nhiều tiêu chuẩn bất hợp lý
với người điều khiển phương tiện giao thông, không chỉ gây bất bình về nội
dung của văn bản mà xét về mặt pháp lý thì Bộ y tế dơn phương ban hành hai
quyết định này là không đúng thẩm quyền. Theo Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật 2008 và Điều 55 Luật giao thông đường bộ 2008 việc quy định
tiêu chuẩn sức khỏe cho người điều khiển mô tô, xe gắn máy ba bánh phải là
thông tư liên tịch. Do đó quy định về tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ phải là thông tư liên tịch giữa Bộ Y tế
và Bộ Giao thông vận tải, còn quy đinh về tiêu chuẩn sức khỏe của người khuyết
những quy định của pháp luật. Trong công văn ghi rõ: “… Không cho phép học
sinh, sinh viên tham gia biểu diễn nghệ thuật tại các quán bar, vũ trường, quán
karaoke và các tụ điểm dễ nảy sinh tệ nạn xã hội…” Có thể nói việc quy định
như vậy là trái với quyền tự do dân chủ của người dân được quy định tại Hiến
Đỗ Thị Thanh Thúy – KT33D002
4
Bài tập lớn học kỳ - Môn xây dựng văn bản pháp luật
pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và quyền được lao dộng của công dân
theo quy định tai Luật Lao động năm 2010. Do đó quy định trên đã trái với các
QPPL của pháp luật hiện hành
4. VBPL có nội dung không phù hợp với ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc
tham gia
Việc ký kết và tham gia các ĐƯQT là một hoạt động phổ biến trong quá
trình Vệt Nam tham gia hội nhập. Do đó hoạt động rà soát những khiếm khuyết
trong các văn bản pháp luật có liên quan tới các ĐƯQT mà Việt Nam tham gia
ký kết để có những biện pháp xử lý kịp thời.
Có thể thấy việc ký kết Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa kỳ
là một thành công lớn. Để thực hiện tốt Hiệp định Việt Nam cần phải sửa đổi, bổ
sung các VBQPPL liên quan như Luật doanh nghiệp, Luật thương mại, Luật sở
hữu trí tuệ,… . Nhưng theo quy định tại Điều 78 Luật Ban hành VBQPPL năm
2008 lại có những điểm không thống nhất với những quy định trong chương VI
về việc quy định tính minh bạch, công khai các luật, quy định và thủ tục hành
chính có tính chất áp dụng chung của Hiệp định đã kí kết. Tiêu biểu, tại Điều 78
Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 chỉ quy định về việc đăng tải VBQPPL trên
công báo mà không đề cập đến văn bản chỉ đạo, điều hành có hiệu lực rộng rãi
như Công điện, Công văn của cơ quan nhà nước trung ương. Trong khi đó
Chương VI Của Hiệp định lại quy định các VBQPPL mà còn có cả công văn,
công điện do cơ quan nhà nước ban hành. Yêu cầu đặt ra là Việt Nam phải ban
hành mới, sửa đổi, bổ sung những VBQPPL có liên quan tới nội dung Hiệp định
nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả các quy định trên thực tế.