Nghiên cứu phát hiện virus gây bệnh thối đen mũ chúa (black queen cell virus) trên ong mật ở miền bắc việt nam - Pdf 28



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LOÀI ONG 3

1.1.1. Nguồn gốc của ong 3

1.1.2. Hình thái cấu tạo ngoài của ong 3

1.1.3. Vị trí phân loại của ong 4

1.1.4. Các loài ong ở Việt Nam 4

1.1.5. Miễn dịch học ở ong 7

1.2. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG MẬT ONG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 8

1.2.1. Tình hình thị trường mật ong trên thế giới 8

1.2.2. Tình hình thị trường mật ong ở Việt Nam 10

1.3. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở ONG 12

1.3.1. Bệnh ở ong do các tác nhân gây bệnh không phải virus 12

1.3.2. Bệnh ở ong do virus gây ra 16

2.3.3. Xác định nồng độ RNA bằng máy quang phổ nanodrop 31
2.3.4. Tổng hợp cDNA từ RNA tổng số 31
2.3.5. Khuếch đại đoạn DNA đặc hiệu cho BQCV từ cDNA bằng phản ứng PCR 33
2.3.6. Điện di kiểm tra trên gel agarose 1% 34

2.3.7. Gắn sản phẩm PCR vào vector pCR2.1 35

2.3.8. Biến nạp plasmid tái tổ hợp vào vi khuẩn E. coli 36

2.3.9. Tách chiết plasmid 37

2.3.10. Cắt kiểm tra plasmid với enzyme giới hạn EcoRI 38

2.3.11. Tinh sạch plasmid tái tổ hợp 39

2.3.12. Giải trình tự gen bằng máy xác định trình tự tự động ABI 3100 40

2.3.13. Nhân dòng gen mã hóa helicase và xây dựng cây phát sinh loài 41

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44

3.1. PHÁT HIỆN SỰ LÂY NHIỄM BQCV TRÊN ONG MẬT Ở MIỀN BẮC VIỆT
NAM 44

3.1.1. Kết quả tách chiết RNA tổng số 44

3.1.2. Phát hiện BQCV bằng kỹ thuật RT-PCR 44

BQCV Black queen cell virus Virus gây bệnh thối đen mũ chúa

cDNA Complementary DNA DNA bổ sung
DEPC Diethyl pyrocacbonate
DNA Deoxyribonleotide acid
DTT Dithiothreito
dNTP Deoxyribonleotide triphosphate
Et - Br Ethidium bromide
IPTG Isopropylthio-β-D-glactoside
kDa Kilo Dalton
LB Luria Bertani
NCBI
National Centre for
Biotechnology Information
Trung tâm quốc gia về thông tin
công nghệ sinh học
OD Optical Density Mật độ quang học
PCR Polymerase Chain Reaction Phản ứng chuỗi trùng hợp
Rnase Ribonuclease
RT-PCR
Reverse transcriptase
Polymerase Chain Reaction
Phản ứng chuỗi trùng hợp sao
chép ngược


tái tổ hợp bằng EcoRI. 48

Hình 3.4. Trình tự đoạn DNA ngoại lai gắn trong vector pCR2.1 tái tổ hợp 49

Hình 3.5: Kết quả so sánh trình tự nucleotide đoạn DNA đặc hiệu BQCV lưu
hành ở Việt Nam với trình tự nucleotide của BQCV từ Nam Phi. 51

Hình 3.6. Tỷ lệ nhiễm BQCV giữa các tỉnh miền Bắc Việt Nam 53

Hình 3.7. Cây phát sinh loài BQCV dựa trên trình tự gen mã hóa Helicase 55
DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Tình hình nhập khẩu mật ong vào Mỹ năm 2013 11

Bảng 2.1.Thành phần phản ứng của hỗn hợp A 32

Bảng 2.2.Thành phần phản ứng của hỗn hợp B 32

Bảng 2.3. Chu trình nhiệt cho phản ứng tổng hợp cDNA 32


là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp [6]. Ngoài việc cung cấp các sản
phẩm quý kể trên thì con ong còn có vai trò hết sức quan trọng trong nông nghiệp,
góp phần làm tăng năng suất cho nhiều loại cây trồng thông qua quá trình thụ phấn
cho hoa.
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều,
thảm thực vật phong phú và đa dạng. Đó là điều kiện rất tốt để nước ta phát triển
nghề nuôi ong mật, nhưng cũng là điều kiện thuận lợi cho các bệnh ở ong phát triển
[1]. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1.500.000 đàn ong với sản lượng trên 37.000
tấn mật ong. Đây là một trong 10 sản phẩm xuất khẩu hàng đầu của cả nước và
đang có xu hướng tăng theo từng năm. Tuy nhiên những năm gần đây, ngành ong
của nước ta đang phải đối mặt với việc xuất khẩu không ổn định do tình hình dịch
bệnh và vấn đề tồn dư kháng sinh có trong mật ong.
Ong mật thường bị tấn công bởi nhiều tác nhân gây bệnh bao gồm virus, vi
khuẩn, nấm và ký sinh trùng… Các dữ liệu nghiên cứu về bệnh ong những năm gần
đây cho thấy, một trong những nguyên nhân chính gây tổn thất cho nghề nuôi ong
của nước ta là do virus, đặc biệt là virus gây bệnh thối đen mũ chúa (Black queen
cell virus). Do còn thiếu kiến thức về bệnh ong mật, hoặc không biết chính xác
nguyên nhân gây bệnh, người nuôi ong thường sử dụng kháng sinh để kiểm soát tất
cả các loại bệnh bao gồm cả virus. Tuy nhiên, bệnh ong do virus không thể được
điều trị bằng kháng sinh. Việc sử dụng rộng rãi thuốc kháng sinh như là một điều trị
2

dự phòng cho bệnh không chính xác có thể dẫn đến sự xuất hiện của vi khuẩn kháng
kháng sinh, đồng thời dẫn đến tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm của ong.
Vì vậy, nghiên cứu phát hiện các virus gây bệnh trên ong mật trong đó có virus
gây bệnh thối đen mũ chúa là rất cần thiết và là cơ sở khoa học cho việc phòng
chống bệnh, đề ra các biện pháp khoanh vùng dập tắt dịch bệnh góp phần phát triển
bền vững ngành nuôi ong.
Xuất phát từ các cơ sở trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu phát hiện
virus gây bệnh thối đen mũ chúa (Black queen cell virus) trên ong mật ở miền

Biểu bì mô cơ => bó cơ
Chi bên => Chi phân đốt
Mạch máu lưng => Tim
Cơ quan thị giác phát triển phức tạp. Các đốt trước tập hợp thành đầu, đốt giữa
thành ngực, đốt phần sau chuyển thành phần bụng. Bên cạnh đó xuất hiện thêm một
số cơ quan mới: ống khí, ống Malpighi [3].
1.1.2. Hình thái cấu tạo ngoài của ong
- Cơ thể ong chia làm 3 phần rõ rệt: Đầu, ngực và phần bụng, các phần này
được nối với nhau bằng các khớp động.
- Có 1 đôi râu.
- Có 3 đôi chân và 2 đôi cánh.
- Bên ngoài có lớp vỏ kitin gồm nhiều tấm nối với nhau tạo nên bộ xương
ngoài.
- Trong một tổ ong có 3 cấp: Ong chúa có kích thước lớn nhất, cánh ngắn,
bụng dài, có màu nâu đen hoặc vàng; ong thợ có kích thước cơ thể nhỏ nhất, có màu
4

vàng hoặc màu nâu xám hoặc đen xám có sọc vàng, bụng nhọn; ong đực có màu
đen, cánh dài, bụng ngắn.
1.1.3. Vị trí phân loại của ong
Trong thế giới động vật, ong mật thuộc ngành chân đốt (Arthropoda) hay lớp
6 chân (Hecxapoda), phân ngành có ống khí (Tracheata).
Lớp côn trùng (Insecta)
Bộ cánh màng (Hymenoptera)
Họ ong mật (Aptsdae)
Giống ong mật (Apis)
Trên thế giới hiện nay có 7 loài ong cho mật, trong đó ở Việt Nam có 4 loài chính:
+ Ong châu Âu (Ong ngoại): Apis mellifera (A.mellifera)
+ Ong Nội địa (Ong châu Á): Apis cerana (A.cerana)
+ Ong Khoái (Ong gác kèo): Apis dorsata (A.dorsata)

kiện khí hậu hay thay đổi. Ong nội có thể nuôi từ các quy mô từ hộ gia đình tới nuôi
chuyên nghiệp, nhưng nó thích hợp hơn với kiểu nuôi quy mô nhỏ trong gia đình
với vốn đầu tư ban đầu thấp và chủ yếu là cung cấp sản phẩm phục vụ tiêu dùng
trong nước. Năng suất mật ở ong nội chỉ đạt trung bình khoảng từ 10 - 15 kg/
đàn/năm. Để phát triển ong nội, người nuôi ong cần chọn các đàn có tính tụ đàn
6

cao, chọn giống ong tốt và quan tâm tới phòng bệnh để nâng cao năng suất cũng
như chất lượng mật [1].
 Ong ngoại (Apis mellifera)

Hình 1.2. Ong chúa của đàn ong ngoại
Ong ngoại A.mellifera có nguồn gốc từ châu Âu, châu Phi, được nhập vào
nước ta từ những năm 60 với hình thức thương mại và đã thích nghi tốt với điều
kiện khí hậu và nguồn hoa ở nước ta. Đặc biệt ở vùng Nam Bộ và Tây Nguyên là
những nơi có nguồn hoa tập trung (cao su, cà phê, bông trắng ) do đó năng suất
mật của ong ngoại rất cao, bình quân đạt khoảng 25 - 30kg/đàn/năm. Loài ong này
phát triển thích hợp với kiểu nuôi chuyên nghiệp với trình độ chuyên môn hóa cao,
vốn đầu tư ban đầu lớn. Ong ngoại có kích thước lớn hơn ong nội, chúng khá hiền,
có khả năng tụ đàn và dự trữ mật cao hơn so với ong nội. Mật ong của ong ngoại
chủ yếu là để xuất khẩu. Tuy nhiên, so với ong nội thì ong ngoại có sức chịu đựng
kém nên ở những nơi có nguồn hoa rải rác và điều kiện khí hậu khắc nghiệt thì việc
nuôi ong ngoại là không thể. Bên cạnh những giá trị kinh tế mà ong ngoại đem lại
thì việc nhập ong A.mellifera cũng mang theo các loài ký sinh và bệnh như bệnh
thối ấu trùng châu Âu, bệnh ấu trùng túi, bệnh bào tử trùng Nosema… gây nguy hại
cho các loài ong bản địa. Ở mỗi địa phương, trước khi lựa chọn nuôi giống ong nội
hay ong ngoại thì người nuôi ong cần phải cân nhắc về số lượng cây, nguồn mật,
khả năng đầu tư về thời gian cũng như nguồn vốn để quyết định [1].
7


PRRC có hai nhóm: Các protein nhận biết peptidoglycan (PGRPs) và các protein
liên kết Gram âm (GNBPs). Các liên kết của PAMPs với PGRPs và GNBPs kích
hoạt các tầng thủy phân protein bao gồm serine, protease và serpins và kích hoạt
con đường thủy phân dịch nội bào để kiểm soát biểu hiện peptide kháng khuẩn và
một loạt các phản ứng phòng vệ tế bào không đặc hiệu bao gồm sự thực bào, hình
thành nốt nhỏ, đóng gói và melanin hóa.
Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào bị nhiễm trùng đã được cho là đặc
trưng của ong mật [29]. Hai enzyme quan trọng là phenol oxidase và glucose
dehydrogenase đóng một vai trò quan trọng trong việc tổng hợp melanin và cần
thiết cho bảo vệ chống lại xâm nhập vi sinh vật và ký sinh trùng, có mặt trong máu
của ong mật [47]. Các gen mã hóa serine, protease và serpins mà tham gia vào các
liên kết của PAMPs với PGRPs và GNBPs đã được xác định trong bộ gen của loài
ong mật, cho thấy ong mật có một hệ thống miễn dịch cho phép chúng bảo vệ chống
lại các vi sinh vật và ký sinh trùng. Tuy nhiên, làm thế nào ong mật chống nhiễm
virus qua phản ứng tự vệ trung gian tế bào vẫn chưa được xác định.
1.2. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG MẬT ONG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG
NƯỚC
1.2.1. Tình hình thị trường mật ong trên thế giới
Trong những năm qua, thị trường mật ong thế giới có khá nhiều biến động,
giá mật ong liên tục tăng cao. Theo số liệu thống kê năm 2013 của Hiệp hội nuôi
ong quốc tế (APIMONDIA), sản lượng mật ong thế giới đạt khoảng 1,8 triệu
tấn/năm. Trong đó, đứng đầu là Trung Quốc có sản lượng mật ong lớn nhất (khoảng
440.000 tấn). Mặc dù, mật ong của Trung Quốc trong những năm 1999 bị nhiễm
kháng sinh nên châu Âu và Mỹ đã hạn chế nhập khẩu bên cạnh đó mật ong Trung
Quốc xuất khẩu vào thị trường Mỹ đang bị giảm xuống do việc áp đặt luật chống
phá giá áp dụng cho các nhà xuất khẩu hiện nay của Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung
Quốc vẫn là nước xuất khẩu lớn nhất với sản lượng xuất khẩu khoảng 185.000 tấn,
đạt doanh thu khoảng 255 triệu USD trong năm 2013
9


xuất và xuất khẩu mật ong. Năm 1994, cả nước mới chỉ có khoảng 40.000 đàn ong,
đến năm 2001 là 270.000 đàn và hiện nay ước tính cả nước có khoảng trên
1.500.000 đàn. Từ những năm đầu của thập niên 90, Việt Nam đã bắt đầu gia nhập
thị trường xuất khẩu mật ong trên thế giới, tuy nhiên với số lượng hạn chế. Từ năm
2000, Việt Nam đã trở thành một quốc gia xuất khẩu mật ong có uy tín trên thế giới.
Hiện nay, theo số liệu thống kê Việt Nam đứng thứ 6 trên thế giới và đứng thứ hai ở
châu Á (sau Trung Quốc) về lượng mật ong xuất khẩu sang hai thị trường xuất khẩu
lớn là EU và Mỹ. Hội nuôi ong Việt Nam được Hội nuôi ong thế giới công nhận là
một thành viên tích cực trong số 58 thành viên của tổ chức này. Năm 2013 lượng
mật ong xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ lần đầu tiên vượt mốc 30.000 tấn đạt kim
ngạch gần 80 triệu USD [49].
Theo báo cáo thị trường mật ong của Hội đồng quốc gia Mỹ ngày
24/01/2014: Năm 2013 Mỹ nhập khẩu 142.925.543 kg mật ong với giá trị
455.511.802 USD. Các nước xuất khẩu mật ong chủ yếu vào Mỹ là Argentina, Việt
Nam, Ấn Độ, Uruguay, Canada và Brasin (bảng 1.1). 11

Bảng 1.1. Tình hình nhập khẩu mật ong vào Mỹ năm 2013
TT Nước
Khối lượng mật
(kg)
Giá trị (USD)
Giá bình
quân/kg (USD)

1 Argentina 41.581.668 136.501.855 3,28
2 Việt Nam 30.501.060 75.668.847 2,48
3 Ấn Độ 24.852.692 67.414.679 2,71

và bị nhiều động vật khác tấn công. Bệnh tật, đại dịch nếu ở mức độ nhẹ thì làm cho
đàn ong suy yếu, giảm quân số, giảm năng suất và chất lượng mật, còn nếu ở mức
độ nặng thì làm cho đàn ong bị chết hoặc bỏ tổ bốc bay gây thiệt hại kinh tế rất lớn
cho người nuôi ong.
1.3.1. Bệnh ở ong do các tác nhân gây bệnh không phải virus
1.3.1.1. Bệnh thối ấu trùng châu Âu (TATCA)
Bệnh thối ấu trùng châu Âu do White tìm ra lần đầu tiên ở châu Âu vào năm
1912. Hiện nay bệnh có mặt ở khắp nơi, cả những vùng nuôi ong châu Âu A.
mellifera và những vùng nuôi ong châu Á A. cerana. Người ta còn gọi bệnh thối ấu
trùng châu Âu là bệnh thối ấu trùng mở nắp hay thối ấu trùng tuổi nhỏ vì bệnh này
thường gây chết các ấu trùng ở 3 - 4 ngày tuổi. Trong một số trường hợp ấu trùng
chết bị chua nên còn gọi là thối ấu trùng chua hay thối ấu trùng dấm. Các ấu trùng
mới chết có màu trắng bệch, sau ngả thành màu vàng nhạt, vàng sẫm rồi nâu đậm,
xác chết thối rữa và tụt xuống đáy lỗ tổ. Ở các đàn ong bị bệnh, năng suất mật giảm
từ 20 – 80%. Bệnh thối ấu trùng châu Âu có ở Việt Nam từ năm 1969 do nhập ong
từ ngoài vào không qua kiểm dịch, và từ năm 1969 đến nay bệnh thối ấu trùng châu
Âu đã xuất hiện ở tất cả các nơi nuôi ong nội.
Bệnh thối ấu trùng châu Âu do vi khuẩn Mellisococcus pluton (M. pluton)
gây ra. M. Pluton hình cầu, hai đầu hơi kéo dài như mũi giáo, bắt màu Gram dương
và có kích thước khoảng 0.5-0,7 х 1 μm. Vi khuẩn không có khả năng sinh nha bào,
chúng thường đứng đơn lẻ, thành cặp hoặc tạo thành chuỗi dài. Khi bệnh xảy ra
13

thường thấy sự có mặt một số vi khuẩn như Paenibacillus alvei và Brevibacillus
laterosporus [42]. Tuy nhiên, người ta mới chỉ xác định được M. pluton là tác nhân
chính còn các vi khuẩn khác chỉ là nguyên nhân thứ phát. M. pluton chiếm đoạt
thức ăn của ấu trùng, nên nhu cầu ăn của ấu trùng tăng cao, buộc ong nuôi dưỡng
phải cho ấu trùng ăn nhiều lần. Đây cũng là nguyên nhân làm lây lan M. pluton
trong đàn ong. Trước khi bước vào vụ mật, số lượng ấu trùng có trong đàn tăng lên
nhanh, nhưng lượng ong nuôi dưỡng không đủ nên ấu trùng bị đói, bệnh dễ bùng

hủy thành ruột và thậm chí phá vỡ cả phần cuối cơ thể ấu trùng, phần đầu của ấu
trùng ít bị ảnh hưởng. Sau đó chúng bắt đầu phát triển bên ngoài ấu trùng.
Bệnh thường xảy ra trên ấu trùng ong thợ và ong đực. Ấu trùng chết sau khi
đã được vít nắp khoảng 2 ngày. Trên các cầu nhộng xuất hiện lỗ thủng trên nắp vít
của ấu trùng. Khi chưa được vít nắp, những ấu trùng chết lúc đầu được phủ một lớp
phấn trắng, căng phồng như bọt biển và chiếm hết lỗ tổ. Sau đó, chúng trở nên
cứng, khô và có hình dạng giống như xác ướp. Thường những xác ấu trùng chết vẫn
giữ nguyên màu trắng nếu chúng chỉ bị một chủng nấm ký sinh, nhưng nếu có hai
chủng nấm ký sinh thì chúng sẽ chuyển sang màu xám và đen. Ở giai đoạn này ấu
trùng bệnh sẽ được ong loại bỏ ra ngoài. Bệnh được tìm thấy ở châu Âu,
Scandinavia ở Nga, New Zealand, Mỹ, Canada, Argentina, Nhật Bản, Philippines,
Trung Mỹ và Mexico.
1.3.1.4. Bệnh Nosema
Nosema apis là loài động vật nguyên sinh (đơn bào) gây ỉa chảy cho ong
trưởng thành nên bệnh này còn được gọi là bệnh ỉa chảy [33]. Bệnh thường xuất
hiện vào vụ đông - xuân sau những ngày mưa rét kéo dài, ong không bay ra ngoài
được. Ong bị bệnh thường biểu hiện bụng ong trướng to, trước cửa tổ và trong vách
thùng ong có nhiều dấu vết phân màu vàng hoặc màu đen. Bệnh gây chết ong
trưởng thành, làm giảm tuổi thọ và làm thế đàn ong giảm sút dẫn đến giảm năng
suất mật. Đôi khi bệnh này làm cho ong chúa bị chết. Nha bào Nosema apis có hình
oval lớn, kích thước 4-6 x 2.4µm và chúng chỉ phát triển trong tế bào biểu mô hệ
15

tiêu hóa của ong trưởng thành [42]. Khi các ong bị nhiễm bệnh đi bài tiết phân có
nha bào rơi vào cây cỏ, ao hồ, rãnh nước sau đó ong khoẻ mạnh đi lấy nước, hoặc
mật phấn hoa ăn vào bị nhiễm bệnh và lây lan ra cả tổ. Để chẩn đoán chính xác phải
nghiền nát bụng các con ong nghi là bị bệnh, thu lấy chất lỏng soi dưới kính hiển vi
nếu thấy các nha bào dạng trực khuẩn ở các mép có phát huỳnh quang là nha bào
của Nosema apis. Bệnh gây hại phổ biến trên các đàn ong nuôi ở nhiều nước trên
thế giới, cả các nước ôn đới và ở các nước nhiệt đới [1].

bệnh ở ong đều do 6 loại virus chính sau đây gây nên bao gồm: Sacbrood virus
(SBV), Deformed wing virus (DWV), Acute bee paralysis virus (ABPV), Black
queen cell virus (BQCV), Chronic bee paralysis virus (CBPV), và Kashmir bee
virus (KBV). Trong đó BQCV là một trong những virus được phát hiện nhiều nhất
trên thế giới [45]. Các virus gây bệnh trên ong mật là các virus có bộ gen là RNA,
có 3 dạng kích thước 17, 30, 35 nm. Hệ gen của những virus này có thể là RNA sợi
đôi hoặc RNA sợi đơn. RNA sợi đơn hoặc là RNA(+) hoặc là RNA(-). Các virus
ong mật đã được phân loại thành hai nhóm chính là: Iflavirus và Dicistriviridae
[16, 26].
1.3.2.1. Black queen cell virus (BQCV)
- Phát hiện và triệu chứng
Virus gây bệnh thối đen mũ chúa (BQCV) ở ong mật là một loại virus giống
picornavirus, gần đây nó đã được phân loại trong chi mới cripavirus (họ
Dicistroviridae) [35, 38]. Virus này lần đầu được phân lập từ ấu trùng ong chúa chết
và từ nhộng đã bị phân hủy một phần trong các mũ chúa màu đen, nơi chúng được
nuôi dưỡng. Khi bị nhiễm virus này, mũ chúa xuất hiện các mảng vá có màu đen,
do đó người ta gọi virus này là virus thối đen mũ chúa [36,17].
BQCV xuất hiện phổ biến ở các con ong trưởng thành. Tuy nhiên, nó lại ảnh
hưởng lâm sàng chủ yếu ở giai đoạn ấu trùng hoặc nhộng của ong chúa. Trong giai
đoạn đầu của bệnh, ấu trùng nhiễm bệnh xuất hiện màu vàng nhạt giống như những
con bị bệnh do virus sacbrood (SBV) và khó khăn khi chui ra khỏi kén. Ấu trùng và
17

nhộng bị nhiễm virus sẽ biến đổi thành màu đen và chết nhanh chóng. Cuối cùng
mũ chúa trở thành màu đen là một triệu chứng đặc trưng của bệnh BQCV. Ong thợ
cũng có thể bị nhiễm BQCV. Các nghiên cứu về ong thợ ở Pháp và Áo tìm thấy tỷ
lệ lây nhiễm BQCV tương ứng là 86% và 30% nhưng chúng thường không biểu
hiện triệu chứng bệnh ra bên ngoài [15, 27].
trong BQCV vẫn chưa sáng tỏ. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho rằng enzyme này
liên quan đến sự khác biệt về độc lực giữa các chủng BQCV khác nhau trên ong
mật. [22,32].
- Khả năng gây bệnh và mối quan hệ với Nosema apis
Giống như SBV, BQCV có thể nhân lên ở nhộng trong điều kiện phòng thí
19

nghiệm. Tuy nhiên, khi cấy BQCV vào ấu trùng ong thợ và ong trưởng thành thì
thường không phát triển được. Khi ong trưởng thành bị đồng nhiễm BQCV và ký
sinh trùng N. apis thì sẽ bị giảm tuổi thọ so với ong chỉ bị nhiễm ký sinh trùng [19].
Đặc biệt, nếu ong được nuôi bằng các nha bào đã bị nhiễm virus thì ong sẽ bị nhiễm
BQCV. Khả năng nhiễm BQCV ở ong sẽ tăng lên khi có mặt của N. apis. BQCV
liên quan đến ký sinh trùng đường ruột N. apis cả trong tự nhiên và trong điều kiện
phòng thí nghiệm.Theo khảo sát của những nhà nuôi ong ở Áo cho thấy N. apis
được tìm thấy có mặt trong 78% mẫu ong dương tính với BQCV và 75% đàn ong bị
nhiễm N. apis cũng đồng thời bị nhiễm BQCV. Ong trưởng thành ở các đàn ong
thường có nhiều khả năng bị nhiễm N. apis và BQCV. Ấu trùng ong chúa có thể bị
nhiễm bệnh do ăn phải thực phẩm chứa lượng lớn virus được tiết ra bởi các con ong
trưởng thành bị nhiễm bệnh. Trong tự nhiên ong thợ non dường như hiếm khi bị
nhiễm với BQCV, bởi vì ấu trùng ong thợ nhận được ít thức ăn hơn trong một thời
gian ngắn hơn so với ấu trùng ong chúa (ấu trùng ong thợ và ong đực chỉ được nuôi
bằng sữa ong chúa trong 3 ngày đầu còn các ngày sau được nuôi bằng hỗn hợp mật
và phấn hoa). Tuy nhiên, virus này được phát hiện như là một bệnh nhiễm trùng
không biểu hiện rõ ràng ở nhộng ong thợ từ các đàn ong ở Úc dường như khỏe
mạnh [14].
- Phân bố địa lý và thời gian tác động
Một cuộc khảo sát trên 25 đàn ong ở Anh lấy mẫu hàng tháng từ năm 1977
đến 1979 sử dụng phương pháp huyết thanh học cho thấy có đến 90% các mẫu ong
chết vào mùa xuân có chứa BQCV và ký sinh trùng. Cả virus và ký sinh trùng theo
chu kỳ hàng năm tăng nhiễm trùng vào cuối mùa đông đạt đỉnh điểm vào tháng năm

trạng không cạnh tranh và khỏe mạnh. Đây có thể là một nguyên nhân chính gây lây
lan nhanh chóng của bệnh trong cộng đồng và có thể làm sụp đổ của toàn bộ đàn ong.
+ Biện pháp điều trị:
Hiện nay, đối với các loại virus trên ong mật nói chung và đối với BQCV nói
riêng chưa có thuốc điều trị cũng như vacxin đặc hiệu. Để ngăn chặn sự bùng phát
dịch bệnh này cần phải kiểm soát được tác nhân gây bệnh Nosema và Varroa.
Ngoài ra, việc vệ sinh môi trường sạch sẽ, lựa chọn giống ong tốt và cho chế độ ăn
uống phù hợp cũng góp phần ngăn chặn sự lây lan của BQCV trong các đàn ong.

Trích đoạn Phương pháp phản ứng chuỗi trùng hợp (PCR) TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN VIRUS GÂY BỆNH TRÊN ONG Phát hiện BQCV bằng kỹ thuật RT-PCR Tách dòng sản phẩm RT-PCR đoạn DNA đặc hiệu BQCV SỰ PHÂN BỐ CỦA BQCV TẠI MIỀN BẮC VIỆT NAM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status