Sáng kiến kinh nghiệm Phơng pháp giải bai tập Vật lý
phơng pháp giải bài tập vật lí thcs
I- Lí do chọn đề tài:
Đối với học sinh phổ thông, vấn đề giải và chữa các bài tập gặp không ít khó khăn vì
học sinh không nắm vững lí thuyết và kỹ năng vận dụng kiến thức vật lí. Vì vậy các em
giải một cách mò mẫm, không có định hớng rõ ràng, áp dụng công thức máy móc và
nhiều khi không giải đợc. Có thể có nhiều nguyên nhân:
- Học sinh cha có phơng pháp khoa học để giải bài tập vật lí.
- Cha xác định đợc mục tiêu giải bài tập là tìm ra từ câu hỏi, điều kiện của bài toán, xem
xét các hiện tợng vật lí nêu trong bài tập để từ đó nắm vững bản chất vật lí, tiếp theo xác
định đợc mỗi liên hệ cái đã cho và cái phải tìm.
II- Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài
Bài tập vạt lí giúp các em hiểu, khắc sâu thêm phần lý thuyết và đặc biệt giúp học sinh
có phơng pháp giải bài tập.
Biết vận dụng kiến thức vật lí để giải quyết các nhiệm vụ học tập và những vấn đề thực
tế của đời sống.
Bài tập vật lí giúp các em hiểu sâu hơn những quy luật vật lí, những hiện tợng vật lí, tạo
điều kiện cho học sinh vận dụng linh hoạt tự giải quyết những tình huống cụ thể khác
nhau để từ đó hoàn thiện về mặt nhận thức và tích luỹ thành vốn riêng của mình.
Muốn làm đợc đợc bài tập vật lí, phải biết vận dụng các thao tác t duy, so sánh, phân
tích, tổng hợp, khái quát hoá Để xác định bản chất vật lí trên cơ sở đó chọn ra các công
thức thích hợp cho từng bài tập cụ thể. Vì thế bài tập vật lí còn là phơng tiện rất tốt để
phát triển t duy, óc tởng tợng, sáng tạo, tính tự lực trong suy luận.
Bài tập vật lí là hình thức củng cố, ôn tập, mở rộng hoặc đi sâu vào các trờng hợp riêng
lẻ của định luật.
Khi làm bài tập, học sinh bắt buộc phải nhớ lại kiến thức đã học và vận dụng, đào sâu
kiến thức, do vậy, đứng về mặt điều khiển hoạt động nhận thức thì đây là phơng tiện tự
kiểm tra kiến thức kỷ năng của học sinh. Trong việc giải bài tập nếu học sinh tự giác, say
mê tìm tòi thì nó có tác dụng rèn luyện cho các em những đức tính tốt nh tinh thần tự lập,
vợt khó, tính cẩn thận, tính kiên trì và đặc biệt tạo niềm vui trí tuệ trong học tập.
điện. Giả sử giá 1KW điện phải trả 700 đồng.
Loại bài tập này đơn giản rất quen thuộc, gần gũi với học sinh trong từng gia đình ở
từng địa phơng và gây đợc hứng thú cho các em khi giải bài tập.
Hoặc: Vẽ một sơ đồ 1 bóng đèn ở cầu thang sao cho có thể tắt mở ở hai đầu trên và d-
ới cầu thang.
2
Sáng kiến kinh nghiệm Phơng pháp giải bai tập Vật lý
1.3 Bài tập thí nghiệm:
Là những loại bài khi giải phải tiến hành những thí nghiệm hoặc quan sát kiểm chứng
cho lời giải lý thuyết hoặc tìm ra số liệu cụ thể. Loại bài này có nhiều tác dụng về giáo
dục giáo dỡng và giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Một u điểm nữa của loại bài này là học sinh
phải biết đầy đủ quá trình vật lí của bài tập chứ không phải chỉ áp dụng công thức một
cách máy móc.
Bài tập thí ngiệm có tác dụng nâng cao chất lợng học tập, gây hứng thú, gắn học với
hành, lý thuyết với thực tiễn, kích thích tính tích cực, tự lập, rèn luyện trí thông minh sáng
tạo.
Để học sinh dễ dàng thực hiện đợc các loại bài tập thí nghiệm thì thờng các bài toán
thí nghiệm vật lí phải xây dựng bằng những vật liệu dễ kiếm, rẻ tiền, dễ làm. Mức độ
chính xác về định lợng cũng vừa phải.
Phải hớng dẫn kĩ năng thực hành cho học sinh, phải đợc coi trọng về độ an toàn, tính
khoa học. Ví dụ: Có một nguồn điện, hiệu điện thế U, một dây dẫn điện trở R = 2, một
Ampe kế. Hãy xác định điện trở Rx của một dây dẫn khác chứa hết giá trị.
Có thể mắc mạch điện
nh sơ đồ I
1
.R = I
2
.Rx = U
I
1
thuật đều tuân theo quy luật khoa học và giải thích theo tri thức vật lí đã biết. Tất nhiên có
rất nhiều hiện tợng, sự kiện để giải thích chi tiết, cặn kẽ lại không đơn giản. Thoạt nhìn có
thể giải thích sai, lí luận không chặt chẽ, tởng đúng mà hoá sai, có mâu thuẫn, phải lý
luận và hiểu sâu hơn mới giải thích đúng. Tất nhiên tạo cho học sinh hứng thú tìm tòi
khoa học đó là những nghịch lý nguỵ biện, nh: Buổi sáng nhìn mặt lớn hơn buổi tra, hoặc
viên sỏi rơi nhanh hơn lông ngỗng vì nó nặng hơn, Các câu trả lời của học sinh cho
thầy, cô thờng phạm sai lầm tinh vi rất khó nhận thấy, việc phát sinh sai lầm thờng nổ ra
các cuộc tranh luận sôi nổi, hứng thú, bổ ích hợp với "lẽ thông thờng" nhng lại mâu thuẫn
với kiến thức vật lí.
Các bài toán nghịch lý nguỵ biện về vật lí, bài tập có nội dung lịch sử là những bài
toán đặc biệt mà phơng pháp giải chung nhất là phân tích và tìm ra nguyên nhân của sự
hiểu sai các khái niệm, định luật và lý thuyết vật lí.
Ví dụ: Truyền thuyết kể rằng: Hoàng tử Hồ Nguyên Trừng, con trai Hồ Quý Ly là
một nhà kĩ thuật rất giỏi. Một lần trong cung điện có một cái cột đá chạm khắc công phu
cao và to nhng lại bị nghiêng và có nguy cơ đổ. Không thể dùng sức ngời để dựng chiếc
cột cho thẳng lại. Vị Hoàng tử tài ba ấy đã vận dụng hiểu biết sự co giãn vì nhiệt đã giải
thành công bài toán dựng lại cột đá đó.
Em hạy dự đoán xem cách làm thế nào để dựng lại cột đá đó?
1.6 Bài tập trắc nghiệm:
Câu hỏi trắc nghiệm có nhiều phơng án để lựa chọn để trả lời do đó có thể đo đợc
những mức khả năng khác nhau về giá trị nội dung và độ tin cậy cao vì số câu hỏi nhiều
hơn trong cùng một thời gian làm bài của học sinh.
Phơng pháp học tập và làm bài trắc nghiệm mang tính khách quan nâng mức biết,
mức hiểu, mức sử dụng, mức phân tích, mức tổng hợp , mức thẩm định lên cao hơn. Rèn
luyện cho học sinh có thói quen đọc nhanh, làm nhanh. Câu hỏi bài tập tuy ngắn nhng số
lợng câu hỏi lại nhiều thờng hỏi đều khắp chơng trình nên phải học hết, học kĩ, không thể
học tủ, đoán mò.
2. Phơng pháp giải bài toán vật lí
2.1 Các bớc cơ bản:
a) Viết tóm tắt các dữ kiện:
b
= ?
a/ Theo công thức: P = U.I = I
2
(R
b
+ r) = I
2
.R
b
+ I
2
.r
Theo đề bài ta có: I
2
.R
b
= 666 (W) (1)
I = (2)
Thay (2) vào (1) ta có: . R
b
= 666 (3)
(3) <=> R
b
2
- 12R
b
+ 2,2 = 0 (3')
Giải phơng trình (3') ta đợc: R
b1
Vậy U
b1
= U - I
1
.r = 100 - 7,51 . 1,5 = 88,7(V)
*Với R
b2
= 0,20 thì I
2
= = = 59(A)
Vậy U
b2
= U - I
2
.r = 100 - 59 . 1,5 = 11,5 (V)
Đến đây, theo bớc 5 (bớc e) ta phải kiểm tra xác nhận kết quả và biện luận.
Hai kết quả này đều cho công suất tiêu thụ của bếp là 666W. Nhng kết quả thứ hai
dấn đến I
2
= 59A là kết quả không thể chấp nhận đợc.
Vì vậy đáp số của bài là R
b
= 11,8 và U
b
= 88,7V
Từ cách phân tích 5 bớc để giải bài tập vật lí và thí dụ minh hoạ, ta có thể tóm tắt các
bớc giải bài tập vật lí theo sơ đồ sau:
6
U
R
b) Một học sinh làm phép tính sau: 7,62 m - 3,62 m = 4,00 m về mặt toán hoc, 2 số 0
là thừa có thể viết gọn hơn là 4m. Nhng về mặt vật lí cách viết 4 m và 4,00 m có nghĩa
khác nhau, viết 4,00 m nghĩa là phép đo chính xác đến cm.
Việc làm tròn số đối với bài tập vật lí là phải luôn chú ý đến dữ kiện và ý nghĩa của
các phép đo.
IV- Tổng kết
Khi hớng dẫn học sinh giải bài tập vật lí, giáo viên cần hớng dẫn học sinh thực hiện
các bớc để học sinh trở thành thói quen và làm đợc nh vậy thì một bài tập sau khi giải
xong sẽ rất chặt chẽ và logic.
Nghĩa đàn, tháng 5 năm 2008
Ngời viết
Nguyễn Hồng Linh
7
U
R
I tỉ lệ thuận với U
I tỉ lệ nghịch với R
U
I