Nghiên cứu các cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các loài quý hiếm thuộc chí Tế tân ( Asarum L..) ở Việt Nam - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
NGUYỄN ANH TUẤN
NGHIÊN CỨU CÁC CƠ SỞ KHOA HỌC NHẰM
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC LOÀI
QUÝ HIẾM TRONG CHI TẾ TÂN (ASARUM L.) Ở
VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành: THỰC VẬT HỌC
Mã số: 62. 42. 01. 11
HÀ NỘI, 2015
1
Công trình được hoàn thành tại: Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh
vật, Viện Hàn lâm KH & CN Việt NamViện Sinh thái và Tài nguyên
Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Trần Huy Thái
2. PGS. TS. Lê Mai Hương
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Khắc Khôi
Phản biện 2: GS. TSKH. Trần Văn Sung
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Trung Thành
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Viện
Vào hồi: 09 giờ 00 ngày 07 tháng 07 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia
Thư viện Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

khoa học nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các loài quý hiếm thuộc
chi Tế tân (Asarum L.) ở Việt Nam”.
2. Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu chung:
Cung cấp một số dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học, thành phần hóa
học cũng như về giá trị sử dụng của một số loài thuộc chi Tế tân (Asarum
L.), nhằm góp phần bảo tồn có hiệu quả các loài này ở Việt Nam hiện nay.
3
- Mục tiêu cụ thể:
+ Chỉ ra được các đặc điểm nổi bật về hình thái thực vật, cùng với khóa
phân loại, giúp cho việc nhận biết chính xác các loài thuộc chi Tế tân
(Asarum L.) hiện có ở Việt Nam, phục vụ cho yêu cầu bảo tồn.
+ Cung cấp dẫn liệu về hiện trạng, khả năng tái sinh tự nhiên, nhất là khả
năng nhân trồng, phục vụ cho yêu cầu bảo tồn nguyên vị (in situ), chuyển vị
(ex situ) và phát triển trồng thêm một số loài Tế tân đang có nhu cầu sử
dụng hiện nay.
+ Thông qua việc nghiên cứu về thành phần hóa học và một số tác dụng
sinh học (in vitro) nhằm bổ sung thêm các dẫn liệu về giá trị nguồn gen và
giá trị sử dụng trong việc bảo tồn một số loài thuộc chi Tế tân (Asarum L.)
hiện có ở Việt Nam.
3. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài góp phần bổ sung và hoàn thiện dần về mặt phân loại, bảo tồn và phát
triển bền vững các loài quí hiếm thuộc chi Tế tân (Asarum L.) ở Việt Nam.
4. Những điểm mới của luận án
- Bổ sung hai loài Asarum cordifolium C. E. C. Fischer và Asarum
yunnanense T. Sugaw., Ogisu & C. Y. Cheng cho hệ thực vật Việt Nam.
- Lần đầu tiên nhóm chất isocoumarin được phát hiện từ loài Tế tân nhẵn
(Asarum glabrum); đã phát hiện một hợp chất mới từ loài Tế tân balansa
(Asarum balansae) là 1-(3-hydroxy-4-metoxyphenyl)propan-1,2-diol
(ABW4.2) và cũng là một phenylpropanoid mới.

Võ Văn Chi, Vũ Văn Chuyên có quan điểm giống với hệ thống phân loại
của Takhtajan (2009), chi Tế tân (Asarum L.) được xếp vào họ
Aristolochiaceae, bộ Piperales, phân lớp Magnoliidae, lớp Magnoliopsida
(Dicotyledons), ngành Magnoliophyta (hình 1.1).
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC LOÀI THUỘC CHI TẾ
TÂN (ASARUM L.)
Chi Tế tân (Asarum L.) thuộc họ Mộc hương (Aristolochiaceae) được
Linnaeus (1753) đặt tên và mô tả. Trên thế giới, chi Tế tân (Asarum L.) có
khoảng 90 loài, chúng phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới của Bắc bán cầu, các
khu vực Đông Á từ Hymalaya đến lục địa Trung Quốc, Đài Loan, Nhật
Bản, Hàn Quốc và đảo Sakhalin; Bắc Mỹ và một loài ở châu Âu (Asarum
europaeum).
Việt Nam, hiện tại có 7 loài (Asarum balansae Franch; A. blumei Duch. in
DC.; A. caudigerum Hance; A. glabrum Merr.; A. petelotii O. C. Schmidt;
A. reticulatum Merr. và A. wulingense Liang), chúng phân bố chủ yếu ở các
tỉnh phía Bắc Việt Nam. Riêng loài A. wulingense được phát hiện ở miền
Trung tại Hà Tĩnh (Hương Sơn, Kéo Nưa).
1.3. NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA CÁC LOÀI
TRONG CHI TẾ TÂN (ASARUM L.)
Những thông tin đã có cho biết, các loài trong chi Tế tân (Asarum L.)
thường có chứa tinh dầu với các thành phần chính là metyl eugenol, α-
pinen, myrcen, borneol, safrol, 1,8-cineol và asafrol… Ngoài ra, chúng còn
chứa các hợp chất khác như aristolochic acid, các secquiterpen, các sterol…
Li Xianggao (1988) đã nghiên cứu thành phần hóa học của loài A.
heterotropoides var. mandshuricum (Maxim) Kitag. và đã xác định được 43
hợp chất trong tinh dầu của thân, lá và rễ. Hàm lượng tinh dầu được chiết
suất: thân (2,3%), lá (0,65%) và rễ (4,06%)
5
Zhang và nnk. (2001) đã phân tích thành phần hóa học ở rễ và thân của loài
Asarum longerhizomatosum C.F. Liang & C.S. Yang bằng các phương pháp

2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Các nội dung nghiên cứu về sinh học
2.2.2. Nghiên cứu khả năng sử dụng
- Các nội dung nghiên cứu về hóa học:
- Các nội dung nghiên cứu thử nghiệm:
2.3. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
6
Điều tra, nghiên cứu và khảo sát tại một số tỉnh miền Bắc và miền Trung
Việt Nam, như Quản Bạ (Hà Giang), VQG Hoàng Liên (Sa Pa, Lào Cai),
KBTTN Na Hang (Tuyên Quang), VQG Tam Đảo (Vĩnh Phúc), VQG Ba
Vì (Hà Nội), Lạc Sơn (Hòa Bình), KBTTN Xuân Liên (Thường Xuân,
Thanh Hóa), Hướng Hóa (Quảng Trị) và quần đảo Cát Bà (Hải Phòng).
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1. Phương pháp điều tra thực vật
Điều tra theo tuyến và xác lập các ô tiêu chuẩn (OTC)
2.4.2. Phương pháp phân loại thực vật và thảm thực vật
Phân loại thực vật:
Phân loại thảm thực vật:
2.4.3. Phương pháp xác định đặc điểm tái sinh
Chất lượng cây tái sinh được tính theo công thức: N% = (n × 100)/N.
2.4.4. Phương pháp nhân giống vô tính
Xây dựng vườn giống
Nhân giống từ hạt:
Nhân giống từ hom:
Chăm sóc và bảo quản:
2.4.5. Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu
Sắc ký khí-khối phổ (GC/MS):
2.4.6. Phương pháp phân lập các hợp chất
2.4.6.1. Phương pháp chiết tách và phân lập các hợp chất
2.4.6.2. Phương pháp xác định cấu trúc các hợp chất

các mức độ khác nhau, các lá đài gắn lại với nhau và tạo thành ống đài hoặc
rời và tạo thành ống đài giả phía trên bầu (A. caudigerum, A. cordifolium);
ống đài hình quả đấu, hình nhạc, hình chuông, hình phễu, hay hình trụ,
thường tạo vết hoặc khảm ở mặt trong, hẹp hoặc mở ở họng (miệng ống
đài), họng có hoặc không có mấu lồi hẹp; thùy lá đài 3, thẳng, mở rộng,
hoặc uốn ngược, chóp thùy đài vuốt nhọn hình kim hoặc không vuốt nhọn.
Nhị 12; chỉ nhị dài hơn bao phấn; bao phấn hướng ra ngoài, mở dọc. Bầu hạ
hoặc trung, 6 ô; noãn hoàn toàn hợp sinh. Vòi nhụy 6, rời hoặc nối liền
thành cột, chóp nguyên hoặc xẻ thành 2 thùy; núm nhụy phần chót hoặc
phần bên (hình 3.3).
Quả: nạc hoặc nang xốp, tách ra không đều đặn khi chín.
Hạt: thường màu đen lồi ở lưng, phẳng hoặc tạo nếp ở mặt bụng, với phôi
nạc ở đáy (hình 3.4).
3.1.1.2. Khóa định loại và đặc điểm của các loài thuộc chi Tế tân
(Asarum L.) ở Việt Nam
1a. Vòi nhụy hợp lại thành cột, đỉnh vòi nhụy nguyên.
2a. Lá đài hợp gắn lại ở thành bầu, tạo thành ống đài, thùy của đài không có
đuôi ở chóp
3a. Phiến lá 16-18 × 9-11 cm, mặt trên có vệt trắng dọc theo gân; núm nhụy
màu trắng 1. A. yunnanense
3b. Phiến lá 14-23 × 9-13 cm, mặt trên không có vệt trắng dọc theo gân;
núm nhụy có đốm màu tím 2. A.
balansae
2b. Lá đài rời gắn lại ở thành bầu (có thời điểm chụm lại nhưng không hợp),
thùy của đài có đuôi nhọn ở chóp
8
4a. Lá hình tim, cỡ 8-12 × 7-8 cm; mặt ngoài lá đài màu đỏ, thùy đài cỡ 2,0
× 1,2 cm; có đuôi nhọn dài 1-1,5 cm. Bầu trung 3. A.
cordifolium
4b. Lá hình tim, cỡ 13-24 × 11-18 cm; mặt ngoài lá đài đỏ nhạt rồi xanh ở

mặt trong vàng nhạt, có nhiều lông tơ đỏ sẩm, có các tia đốm tròn màu vàng
nhạt; ống đài hình nón ngược; thùy đài 3, mở rộng, hình tam giác tròn. Nhị
12; chỉ nhị dài 0,3 mm, ngắn hơn bao phấn; bao phấn 3 mm; trung đới 0,8
mm, rộng hơn bao phấn, hình trụ; vòi nhụy hợp lại thành ống, đầu nhụy 6,
nguyên, núm nhụy màu trắng, phần cuối của núm nhụy tỏa xuống. Bầu dưới,
9
6 ô. Quả phát triển trong bao hoa tồn tại, có lông trắng thưa. Hạt nhỏ, 12-27
hạt, màu nâu đen, nhẵn bóng.
Loc. class.: China: Yunnan: Hekou, 1987. Type-Proto.: T. Sugawara, M.
Ogisu & C.Y. Cheng, 890425. HT: PE, IT: PEM, MAK.
Sinh học và sinh thái: Mùa ra hoa vào tháng 11-12, quả chín vào tháng 6-7
năm sau, hạt phát tán gần, nhiều cây con mọc xung quanh.
Phân bố: Tuyên Quang (Na Hang). Còn có ở Trung Quốc.
Mẫu nghiên cứu: TUYÊN QUANG, NAT11128 (HN); Trung Quốc, No.
890425; Nhật Bản, MAK257702.
Giá trị sử dụng: Chưa rõ.
Ảnh - Tế tân vân nam
(Asarum yunnanense
T. Sugaw., Ogisu &
C. Y. Cheng) chụp
tại KBTTN Na Hang
(Tuyên Quang)
3.1.1.2.2. Asarum balansae Franch - Tế tân balansa
Cỏ nhiều năm, cao 9-23 cm. Thân rễ tròn, có đốt ngắn 1,5-3 cm, phân nhánh,
mang nhiều rễ con. Lá gồm 2-5 cái, mọc so le, có cuống dài 11-16 cm; phiến
lá dày, hình tim thuôn 14-23 × 9-13 cm; có lông ở cả 2 mặt, mặt dưới lông tập
trung nhiều ở gân lá, mặt trên có nhiều túm lông trắng, ngắn; mép lá nguyên.
Hoa 1-2 cái, mọc riêng lẻ ở kẽ lá hoặc ở ngọn, hoa có cuống dài 3-4 cm, có
lông trắng. Lá đài hợp, đầu chia thành 3 thùy; mặt ngoài màu xanh; mặt trong
màu vàng nhạt, phủ lông tím dày. Nhị 12, chỉ nhị ngắn, trung đới vượt lên bao

rời; lá đài màu đỏ, cỡ 2,0 × 1,2 cm; ở chóp lá đài đột ngột thót lại thành
đuôi nhọn, dài 1-1,5 cm. Cánh hoa 3, dạng hình kim, màu đỏ, dài 0,3 cm.
Nhị 12; chỉ nhị dài bằng bao phấn, màu đỏ tím; trung đới hình lưỡi, vượt
bao phấn. Vòi nhụy 6, hợp; cao bằng bao phấn; đỉnh nguyên. Quả phát triển
trong bao hoa tồn tại, màu đỏ nhạt, có lông trắng dày; bầu trung, 6 ô. Hạt
nhỏ, 15-30 hạt, màu nâu đen, nhẵn.
Loc. class.: India (Asam), Myanma (Chin, Kachin và Sagaing). Syntypus:
Kingdon Ward, F., 8123 (K), Kingdon Ward F., 6661 (K).
Sinh học và sinh thái: Cây ra hoa vào đầu tháng 10, hoa nở vào đầu tháng
11, phát tán hạt vào tháng 6-7 năm sau, hạt phát tán gần.
Phân bố: Lào Cai (Bản Khoang, Bãi Rác, Tả Phìn, Tả Van, Cát Cát - Sa
Pa). Còn gặp ở phía Nam Himalayan, Assam (Ấn Độ) và Bắc Myanma.
11
Mẫu nghiên cứu: LÀO CAI, NAT11129 (HN); HÀ NỘI, 3719-HNU;
Kew, K000634499, K000634500 (K).
Giá trị sử dụng: Người Dao Đỏ (Sa Pa, Lào Cai) sử dụng làm thuốc tắm trị
đau lưng, nhiễm trùng vết thương và trị bệnh trĩ.
Tình trạng: Loài Tế tân lá hình tim (Asarum cordifolium) mọc dưới tán
rừng thảo quả tại Bản Khoang (Sa Pa, Lào Cai) nên ít nhiều bị tác động bởi
hoạt động canh tác của người dân trồng thảo quả.
Ảnh - Tế tân lá hình tim
(Asarum cordifolium C.
E. C. Fischer )
chụp tại VQG Hoàng
Liên (Sa Pa, Lào Cai)
3.1.1.2.4. Asarum caudigerum Hance - Tế tân hoa có đuôi
Cây thảo, sống nhiều năm, cao 15-30 cm. Thân rễ tròn, có đốt ngắn 1-1,5
cm, phân nhánh, mang nhiều rễ con. Cây đẻ nhánh khỏe và nhiều nên
thường phát triển thành từng khóm. Lá gồm 2-6 cái, mọc thành cặp, cuống
dài 18-30 cm; phiến lá dày, hình tim, 13-24 × 11-18 cm; ở mặt dưới có

nhiều rễ phụ dài; có thể phân nhánh. Lá mọc so le, gồm 2-3 cái; cuống dài
10-17 cm, nhẵn, khi non màu tía sau chuyển thành màu lục nhạt. Phiến lá
mỏng, hình tim nhọn đầu, cỡ 13-18 × 8-12 cm; gốc lá tạo thành 2 thùy, gần
nhọn, cách xa nhau; mặt trên lá nhẵn, mặt dưới có lông thưa ở gân; mép
nguyên. Hoa thường chỉ có 1 cái, mọc ở kẽ lá; cuống hoa dài 3 cm, màu tím
nâu, thường mọc rủ xuống, nhưng hoa lại hướng cong lên. Lá đài hợp thành
ống 3-3,5 cm, thắt lại 1/3 phía trên, màu nâu xám hình phễu hơi cong; đầu
chia thành 3 thùy tam giác hay hình mác, mặt ngoài có 7 đường vân chạy
dọc; họng màu tím nâu có vân trắng. Nhị 12, chỉ nhị ngắn, màu đỏ tím;
trung đới tròn đầu, vượt trên bao phấn. Nhụy 6, vòi nhụy rời; đỉnh vòi nhụy
chẻ làm 2, hình chữ V. Quả phát triển trong bao hoa tồn tại, màu nâu xám
nhạt. Hạt nhỏ, màu đen.
Loc. class.: Vietnam: Tonkin: Hanoi, Mt. Bavi, open forests, ca. 600 m, 2
July 1940. Type-Proto.: Petelot 2611 (HT: A).
Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 5-6, quả tháng 7-9. Hạt phát tán gần,
nên thấy cây con xung quanh gốc cây mẹ.
Phân bố: Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang (Quản Bạ), Vĩnh Phúc (Tam Đảo) và
Hà Nội (Ba Vì).
Mẫu nghiên cứu: LÀO CAI, NAT13053; VĨNH PHÚC, NAT12093 (HN);
HÀ NỘI, NAT11073 (HN), 0219 (HNU).
13
Giá trị sử dụng: Rễ và thân rễ của loài Tế tân nhẵn (Asarum glabrum) được
dùng làm thuốc ho, chữa viêm họng, hoa ngâm rượu làm thuốc bổ.
Ảnh - Tế tân nhẵn
(Asarum glabrum Merr.)
chụp tại VQG Ba Vì (Hà
Nội)
3.1.1.2.6. Asarum wulingense C. F. Liang - Tế tân wuling
Cây thân thảo. Thân rễ đứng, dày 3-4 mm, đốt ngắn hơn 5 mm. Lá đơn độc,
cuống lá uốn ngược lại, mặt trên phiến lá màu xanh với các vết trắng, thường

hình chữ V. Bầu trung. Quả phát triển trong bao hoa tồn tại, màu đỏ tía
(hình 3.17).
Ảnh - Tế tân petelot (Asarum
petelotii O.C. Schmidt)
chụp tại VQG Tam Đảo
(Vĩnh Phúc)
Loc. class.: Vietnam. Typus: Petelot 3891 (P).
Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4-5, quả tháng 6-8. Hạt phát tán gần,
nên thấy cây con xung quanh gốc cây mẹ.
Phân bố: Lào Cai (Sa Pa) và Vĩnh Phúc (Tam Đảo). Còn có ở Trung Quốc
(Vân Nam).
Mẫu nghiên cứu: LÀO CAI, NAT13054 (HN); VĨNH PHÚC, NAT12094
(HN); Petelot, 5009, 3891, 5036 (P).
Giá trị sử dụng: Rễ và thân rễ của loài Tế tân petelot (Asarum petelotii)
được dùng làm thuốc ho, chữa viêm họng, hoa ngâm rượu làm thuốc bổ.
3.1.1.2.8. Asarum blumei Duch. - Tế tân blume
Cỏ nhiều năm; thân ngắn, dài 1-2 cm, mang ít rễ to 1,5 mm, có ít rễ con. Lá
2; cuống dài đến 10 cm, không lông; phiến hình tim mũi giáo, to 8 × 4 cm,
mặt trên xám lục, mặt dưới ửng nâu, gân đáy 3(5), gân phụ 2 cặp; bìa lá
không răng. Cuống hoa dài 1,5 cm. Lá đài hợp gắn lại ở thành bầu, tạo
thành hình ống, không nghiêng, vùng cổ rộng, phồng xung quanh bầu, dài
1,5-2 cm; thùy lá đài 3, tròn dài, cao 1 cm. Nhị 12; vòi nhụy rời, đỉnh vòi
nhụy chẻ 2. Quả nang, bầu 6 ô.
15
Phân bố: Hà Giang, Lạng Sơn và Vĩnh Phúc. Còn có ở Malaixia, Nhật Bản
(Suruga) (phụ lục 6.8). Hiện tại chúng tôi chưa thu được mẫu của loài này.
Mẫu nghiên cứu: Pháp (Pari), P01645370 và P01645371.
Giá trị sử dụng: Rễ cây chứa tinh dầu mà thành phần chủ yếu là safrole và
eugenol, được dùng làm thuốc chữa viêm phế quản, ho và chữa thủy thũng.
Nhân dân thường dùng làm thuốc gây nôn.

Mẫu nghiên cứu: LÀO CAI, NAT12045, NAT13055 (HN); Petelot 2554
(HNU).
Giá trị sử dụng: Dân tộc Dao Đỏ sử dụng cả cây làm thuốc chữa bệnh trĩ và
thuốc kháng sinh.
3.1.1.3. Một số ghi nhận mới về đặc điểm các loài thuộc chi Tế tân
(Asarum L.) ở Việt Nam
3.1.1.3.1. Đặc điểm hình thái
Theo các mô tả trước đây, trong cấu trúc hoa của các loài thuộc chi Tế tân
(Asarum L.) không tồn tại tràng hoa ở bao hoa, chỉ có lá đài gắn lại với nhau
hợp ở thành bầu và tạo thành ống đài hoặc rời và tạo thành ống đài giả phía
trên bầu. Khi phân tích cấu trúc hoa ở các loài Tế tân hoa có đuôi (Asarum
caudigerum), loài Tế tân lá hình tim (Asarum cordifolium) và loài Tế tân
petelot (Asarum petelotii), chúng tôi phát hiện có sự tồn tại của tràng hoa
tiêu biến ở dạng hình kim, dài khoảng 0,3 cm (hình 3.21). Ở các loài Tế tân
vân nam (Asarum yunnanense), Tế tân balansa (Asarum balansae), Tế tân
nhẵn (Asarum glabrum) và Tế tân mạng (Asarum reticulatum) có phát hiện
tràng hoa ở một số ít cá thể.
3.1.1.3.2. Mùa ra hoa
Qua các đợt khảo sát từ năm 2010 đến năm 2013 tại Lào Cai (Sa Pa), Hà
Giang (Quản Bạ), Tuyên Quang (Na Hang), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Nội
(Ba Vì) và Thanh Hóa (Thường Xuân) theo các mùa khác nhau trong năm,
chúng tôi đã ghi nhận được mùa hoa và mùa quả của các loài thuộc chi Tế
tân (Asarum L.).
Kết quả cho thấy, thời điểm ra hoa, quả chín và phát tán hạt theo ghi nhận
của chúng tôi thường sớm hơn so với những ghi nhận trước đây.
3.1.1.3.3. Phân bố
Qua việc đánh dấu định vị tại các điểm nghiên cứu, chúng tôi đã ghi nhận và
xây dựng đai độ cao phân bố của các loài thuộc chi Tế tân (Asarum L.) ở Việt
Nam (bảng 3.5). Qua bảng 3.5 cho thấy, loài Tế tân vân nam (A. yunnanense)
mới phát hiện một số ít cá thể ở độ cao 410 m tại Tuyên Quang (Na Hang);

và giã nát đắp điều trị trĩ ngoại (Phụ nữ mang thai và cho con bú không
được sử dụng).
+ Làm thuốc kháng sinh: Giã nát đắp điều trị các vết thương, lỡ loét ngoài
da, u nhọt.
+ Thuốc tắm: Toàn cây được sử dụng làm thuốc tắm gây ra thai.
3.1.3. Thăm dò khả năng nhân giống và xây dựng mô hình bảo tồn
một số loài thuộc chi Tế tân (Asarum L.)
3.1.3.1. Loài Tế tân balansa (Asarum balansae)
3.1.3.1.1. Khả năng tái sinh tự nhiên của loài Tế tân balansa (Asarum
balansae) tại Bản Bung, Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Cây tái sinh có nguồn gốc từ chồi chiếm ưu thế (từ 76,6-97,5%); cây tái
sinh có nguồn gốc từ hạt chiếm tỷ lệ tương đối thấp (từ 2,5-23,4%). Chất
lượng tái sinh không đồng đều giữa các khu vực.
18
3.1.3.1.2. Đặc điểm phân bố của loài Tế tân balansa (Asarum balansae)
tại Bản Bung, Na Hang, tỉnh Tuyên Quang trong các cấu trúc thảm
thực vật
Phân bố theo kiểu rừng
Tại Bản Bung, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang hầu hết phân bố ở kiểu
rừng nhiệt đới thường xanh mưa ẩm trên núi thấp, chủ yếu ở chân và sườn
núi.
Phân bố theo trạng thái và sinh cảnh
Theo trạng thái rừng: Tế tân balansa (Asarum balansae) phân bố tập trung
chủ yếu ở trạng thái rừng IIIA2, thuộc vùng lõi của KBTTN Na Hang.
Về sinh cảnh: Tế tân balansa (Asarum balansae) chủ yếu phân bố trên đất,
chúng mọc sát ngay bề mặt đất, nơi đất giàu mùn; độ ẩm, độ xốp và ánh
sáng cao; thoáng khí. Đôi khi thấy xuất hiện trên các hốc đá. Có thể bắt gặp
loài Tế tân balansa (Asarum balansae) ở những nơi ẩm ướt, ven các suối,
dưới tán rừng cây gỗ nhỏ, chủ yếu ở hai bên đường mòn đi lại trong rừng.
Phân bố theo địa hình và đai cao

3.1.3.1.5. Mô hình bảo tồn
Trên cơ sở những khảo sát tại khu vực nghiên cứu chúng tôi tiến hành
nghiên cứu và đưa ra mô hình bảo tồn sau đây:
Bảo tồn nguyên vị: Khoanh nuôi tự nhiên trên diện tích 200 m
2
(với số
lượng 900 cây) tại khu vực Lung Khăm (độ cao từ 400 đến 600 m) và trồng
mới 200 m
2
(800 cây con nhân giống) dưới tán rừng tự nhiên, thuộc Bản
Bung, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Nhìn chung, tại khu vực khoanh
nuôi và trồng mới, cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Bảo tồn chuyển vị: Trồng dưới tán rừng trong khu vực vườn rừng của một
số hộ tại Bản Bung ở độ cao 200-430 m, diện tích 100 m
2
với số lượng 240
cây con đã nhân giống. Cây có đủ độ che sáng và độ ẩm, được chăm sóc tốt
nên sinh trưởng và phát triển cũng khá, tỷ lệ cây sống khá cao đạt 50,41%.
3.1.3.2. Loài Tế tân hoa có đuôi (Asarum caudigerum)
3.1.3.2.1. Khả năng tái sinh tự nhiên của loài Tế tân hoa có đuôi
(Asarum caudigerum) tại Bản Bung, Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
Kết quả cho thấy, loài Tế tân hoa có đuôi (Asarum caudigerum) phân bố tập
trung dọc theo đường mòn sườn núi, nơi có độ ẩm cao, độ che thấp. Tại các
chân núi, ít gặp; đặc biệt, tại các đỉnh và rông núi, không thấy xuất hiện loài
này. Cây chủ yếu tái sinh bằng hạt và chồi.
3.1.3.2.2. Đặc điểm phân bố của loài Tế tân hoa có đuôi (Asarum
caudigerum) tại Bản Bung, Na Hang, tỉnh Tuyên Quang trong các cấu
trúc thảm thực vật
Phân bố theo kiểu rừng
Kết quả điều tra tại Bản Bung, Na Hang, tỉnh Tuyên Quang cho thấy, loài

32/2006/NĐ-CP của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích
thương mại. Các ven rừng, hai bên đường mòn trong rừng. Qua các đợt
khảo sát, chưa phát hiện loài Tế tân hoa có đuôi (Asarum caudigerum) tại
Hà Nội (Ba Vì), Vĩnh Phúc (Tam Đảo) và Lào Cai (Sa Pa). Mới chỉ gặp loài
này tại Tuyên Quang (Na Hang) và Hà Giang (Quản Bạ) với số lượng cá thể
khá nhiều, tuy nhiên, phân bố không đồng đều giữa các khu vực khác nhau.
3.1.3.2.5. Mô hình bảo tồn
Trên cơ sở những khảo sát tại khu vực nghiên cứu chúng tôi tiến hành
nghiên cứu và đưa ra mô hình bảo tồn sau đây:
Bảo tồn nguyên vị: Khoanh nuôi tự nhiên (300 cây) và trồng mới (600 cây
nhân giống) trên diện tích 200 m
2
/mỗi nơi, ở độ cao trên 900 m, tại thung
Pu Cọ thuộc Bản Bung, huyện Na Hang, Tuyên Quang; Cây sinh trưởng và
phát triển tốt, tỷ lệ sống đạt 80%.
Bảo tồn chuyển vị: Tại bản Bung ở độ cao 400 m; diện tích 100 m
2
với số
lượng 400 cây con đã nhân giống. Tuy được chăm sóc cẩn thận nhưng cây
sinh trưởng và phát triển kém, tỷ lệ sống thấp đạt 6-12%.
3.1.3.3. Loài Tế tân nhẵn (Asarum glabrum)
3.1.3.3.1. Khả năng nhân giống bằng hom
Thử nghiệm nhân giống bằng hom thân loài Tế tân nhẵn (Asarum glabrum)
tại VQG Tam Đảo (Vĩnh Phúc).
Từ kết quả thu được ở trên cho chúng ta thấy, loài Tế tân nhẵn (Asarum
glabrum) khi không xử lý thuốc (công thức đối chứng) cho tỷ lệ ra rễ không
cao (40%). Tỷ lệ ra rễ của các hom có xử lý thuốc kích thích (IBA, NAA và
IAA) đạt từ 77,1% đến 91,4%. Thời vụ nhân giống vào mùa xuân và mùa
21
thu là phù hợp cho việc nhân giống. Tỷ lệ ra rễ khá cao cho thấy khả năng

cây con đã nhân giống. Tuy trồng dưới tán với độ ẩm và độ che sáng hợp lý,
chăm sóc cẩn thận, nhưng cây sinh trưởng và phát triển chậm, tỷ lệ sống đạt
60%.
3.2. THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI THUỘC
CHI TẾ TÂN (ASARUM L.) Ở VIỆT NAM
3.2.1. Thành phần hóa học chủ yếu trong tinh dầu của một số loài thuộc
chi Tế tân (Asarum L.)
Hàm lượng tinh dầu của loài Asarum balansae đạt 0,02% (theo nguyên liệu
khô không khí). Tinh dầu là chất lỏng màu vàng chanh, có mùi thơm nhẹ và
nặng hơn nước. Tinh dầu từ loài Aarum balancae chứa 18 hợp chất, trong
đó, thành phần hóa học chính của tinh dầu là elemicin (71,53%) và trans
isoelemicin (19,85%).
Hàm lượng tinh dầu của loài Asarum yunnanense đạt 0,16% (theo nguyên
liệu khô không khí). Thành phần hóa học chính của tinh dầu là E-methyl
isoeugenol (47,39%); Cis-β-elemene (5,94%), bicyclogermacren (4,58%)
Myristicine (4,26%); δ-elemene (4,90%).
22
Hàm lượng tinh dầu của loài Asarum reticulatum đạt 0,002% (theo nguyên
liệu khô không khí). Thành phần hóa học chính của tinh dầu là myristicine
(59,06%); dilapiole (17,67%). Các hợp chất khác có tỷ lệ nhỏ là elemicine
(2,29%) và 2-caren (2,1%).
Hàm lượng tinh dầu của loài Asarum cordifolium đạt 0,22% theo nguyên liệu
khô không khí. Thành phần hóa học chính của tinh dầu là elemicin (84,38%) và
methyl eugenol (3,63%).
Ở loài Tế tân nhẵn (Asarum glabrum), hàm lượng tinh dầu từ phần trên mặt
đất của cây đạt 0,36% (theo nguyên liệu khô không khí). Thành phần chính
là: safrol (chiếm 42,24%), apiole (27,11%) và myristicin (6,13%).
3.2.2. Nghiên cứu phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất từ một số
loài thuộc chi Tế tân (Asarum L.) ở Việt Nam
3.2.2.1. Nghiên cứu phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất từ loài

O
O
OH O
O
OH
HO
HO
HO
O
2) Hợp chất AS3: có cấu trúc là 3-methyl-6-methoxy-3,4-
dihydroisocoumarin-8-O-
β
-D-glucopyranoside
3.2.2.2. Phân lập và xác định cấu trúc hóa học các hợp chất từ loài
Asarum balansae
Từ loài Asarum balansae, chúng tôi phân lập và xác định cấu trúc được 05
hợp chất
1) Hợp chất ABW4.2: có cấu trúc là threo-1-(3-hydroxy-4-
methoxyphenyl) propan-1,2-diol
O
HO
OH
HO
4'
3'
2'
1'
6'
5'
1

sung 2 loài Tế tân vân nam (Asarum yunnanense) và Tế tân lá hình tim
24
(Asarum cordifolium) cho hệ thực vật Việt Nam, nâng tổng số loài thuộc chi
(Asarum L.) ở Việt Nam lên 9 loài.
2. Tái sinh tự nhiên: Các loài Tế tân chủ yếu tái sinh bằng chồi, tái sinh
bằng hạt chiếm tỷ lệ nhỏ; cây thường mọc ven đường mòn trong rừng, gần
suối, độ ẩm và ánh sáng cao.
3. Nhân giống và bảo tồn: Đã nghiên cứu khả năng nhân giống các loài
Asarum balansae, A. glabrum và A. caudigerum. Cây ra rễ từ hom thân
chiếm tỷ lệ cao; chưa thấy hạt nãy mầm trong phòng thí nghiệm.
Có thể bảo tồn (nguyên vị) bằng mô hình khoanh nuôi tự nhiên và trồng
mới dưới tán rừng tại khu vực vườn rừng các loài Asarum balansae ở bản
Bung, Na Hang (Tuyên Quang), A. glabrum ở VQG Tam Đảo (Vĩnh Phúc)
và A. caudigerum ở Na Hang (Tuyên Quang). Nhìn chung cây sinh trưởng
và phát triển tốt.
Việc bảo tồn (chuyển vị) bằng việc trồng mới dưới tán rừng tại khu vực
vườn rừng loài Asarum balansae ở bản Bung, Na Hang (Tuyên Quang) là
có khả quan, cây sinh trưởng phát triển khá, tuy nhiên việc bảo tồn loài
Asarum glabrum tại vườn thực vật Tam Đảo thuộc VQG Tam Đảo và ở
KBTTN Bát Đại Sơn và loài Asarum caudigerum ở Na Hang (Tuyên
Quang) còn chưa tốt, cây đạt tỷ lệ sống thấp, cây sinh trưởng và phát triển
chậm.
4. Thành phần hóa học của tinh dầu: Thành phần hóa học chính của tnh
dầu loài Asarum reticulatum là myristicin (59,06%) và dilapiol (17,67%);
loài Asarum balansae là elemicin (71,53%) và trans-isoelemicin (19,85%);
loài Asarum cordifolium là elemicin (84,38%) và methyl eugenol (3,63%);
loài Asarum yunnanense là E-methyl isoeugenol (47,39%), cis-β-elemen
(5,94%), bicyclogermacren (4,58%), myristicin (4,26%) và δ-elemen
(4,90%); loài Asarum glabrum là safrol (42,24%), apiole (27,11%) và
myristicin (6,13%). Đây là các dẫn liệu mới về thành phần hóa học của tinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status