THIÊN TAI Ở THỪA THIÊN HUẾ VÀ CÁC BIỆN PHÁP
PHÒNG TRÁNH TỔNG HỢP
Nguyễn Việt
Trung tâm dự báo KTTV tỉnh Thừa Thiên - Huế
1. Điều kiện hình thành thiên tai ở Thừa Thiên Huế
1.1. Ảnh hưởng của vị trí địa lý
Thừa Thiên Huế là một tỉnh trên vùng duyên hải bắc trung bộ, nằm gọn giữa vĩ
tuyến 16-17 độ vĩ bắc và kinh tuyến 107-108 độ kinh đông trong vành đai nhiệt đới
bắc bán cầu và là khu vực chịu ảnh hưởng gió mùa châu Á. Nằm ở giữa Việt Nam,
Thừa Thiên Huế vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc vừa bị gió mùa tây nam
chi phối. Do vậy đây là nơi luân phiên tác động và tranh giành ảnh hưởng của các khối
không khí có nguồn gốc khác nhau theo mùa. Chính sự hội tụ của không khí lạnh từ
phía bắc tràn xuống và không khí nóng ẩm từ phía nam di chuyển lên đã gây ra mưa
lớn, dông, lốc tố trên khu vực này và hình thành những trận lũ lớn và lũ quét làm trượt
lở đất, xói lở bờ sông.
Ngoài ra, Thừa Thiên Huế có đường bờ biển dài 127 km giáp biển Đông, một bộ
phận của Tây Thái Bình Dương là ổ bão lớn nhất hành tinh nên thường chịu ảnh
hưởng của bão.
1.2.Ảnh hưởng của địa hình
Lãnh thổ Thừa Thiên Huế trải dài theo chiều tây bắc - đông nam, trong đó
khoảng 75,9% tổng diện tích là vùng núi đồi, 24,1% là đồng bằng duyên hải, đầm phá
và cồn cát được bao bọc bởi dãy núi Trường Sơn ở phía tây với độ cao từ 500-1800 m
và dãy Bạch Mã ở phía nam với độ cao từ 1200- 1450 m. Các dãy núi này có tác dụng
chắn gió mùa đông bắc và tây nam làm tăng cường mưa lớn vào mùa mưa và gây ra
hiệu ứng phơn là nguyên nhân của thời tiết khô nóng và hạn hán trong mùa hè.
Phần lớn lãnh thổ của Thừa Thiên Huế nằm ở phía đông dãy Trường sơn, địa
hình chuyển khá nhanh từ vùng núi qua vùng gò đồi xuống vùng đồng bằng nhỏ hẹp
nên có độ dốc khá lớn. Diện tích đất có độ dốc trên 25 độ chiếm 54% lãnh thổ. Do vậy
các con sông bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đều ngắn, dốc và nhiều ghềnh thác. Chính
đặc điểm này làm cho lũ lên nhanh trong mùa mưa, có nơi xảy ra lũ quét và các con
sông không giữ được nước trong mùa ít mưa nên gây ra hạn hán và xâm nhập mặn.
chiếm 3/5 diện tích toàn tỉnh. Với đặc điểm ngắn và dốc và hầu
như không có vùng đệm nên thời gian truyền lũ từ thượng lưu xuống hạ lưu rất nhanh
(khoảng 4-6 giờ). Thậm chí có những trận lũ xảy ra gần đồng thời với thời gian mưa
với cường suất lớn . Đặc điểm này cho thấy sự ác liệt của lũ lụt ở Thừa Thiên Huế.
2. Thiên tai ở Thừa Thiên Huế và tình hình thiệt hại trong những năm gần đây
Thiên tai là một hiện tượng thiên nhiên gây ra các tổn thất về người và của cải
vật chất và làm xáo trộn mạnh các hoạt động của con người trên trên phạm vi tương
đối lớn. Dựa trên mức độ thiệt hại, phạm vi ảnh hưởng và tần suất xuất hiện
của chúng, có thể xếp các loại thiên tai ở Thừa Thiên Huế theo thứ tự như bảng 1.
Dưới đây sẽ trình bày lần lượt đặc điểm của các loại thiên tai.
Bảng 1. Phân loại các nhóm thiên tai ở Thừa Thiên Huế
Tác động mạnh Tác động vừa Tác động nhẹ
Lũ, lụt Lũ quét Sóng thần
Bão, ATNĐ Trượt đất Động đất
Nước dâng Xói lở bờ biển
Lốc tố Xói lở bờ sông
Hạn
Xâm nhập mặn
2.1. Lũ, lụt
Cách đây 453 năm (1553) trong tác phẩm “Ô Châu cận lục” đã nói về khí hậu
Thừa Thiên Huế như sau: “Nói về khí hậu thì rét ít, ấm nhiều, nói về địa hình thì núi
cao bể rộng. Thịnh hạ thì nhiều cơn bão lớn, trung thu thì ít cảnh trăng thanh. Nước lụt
cứ để tràn lan, không đê để chắn…”[4]. Như vậy, lũ lụt là người bạn đồng hành với
Thừa Thiên Huế từ khi khai sinh lập điạ đến nay.
Lịch sữ đã ghi nhận: Trong thế kỷ XIX từ năm 1801-1888 ở kinh thành Huế và
vùng phụ cận phải hứng chịu 40 trận lũ lớn [5], có thể kể một số trận điển hình sau
đây:
- Trận lũ năm 1811 đã tràn ngập Hoàng Cung 3,36m, phá vỡ cửa Tư Dung (Tư
Hiền).
- Năm 1818 lũ làm kinh thành Huế ngập sâu 4,2m.
• Số trận lũ: Theo số liệu quan trắc từ 1977-2006 trên sông Hương, trung
bình hàng năm có 3,5 trận lũ lớn hơn hoặc bằng mức báo động II, năm nhiều
nhất có 7 trận, năm ít nhất có 1 trận, trong đó có 36% lũ lớn và đặc biệt lớn.
Những năm có hiện tượng La Nina số đợt lũ và đỉnh lũ lớn hơn rõ rệt.
• Thời gian kéo dài: Phụ thuộc vào tình hình mưa và thuỷ triều, thời gian
kéo dài trung bình của một đợt lũ khoảng 3-5 ngày, dài nhất 6-7 ngày.
• Thời gian truyền lũ: trung bình 5-6 giờ với khoảng cách 51 km từ thượng
nguồn (Thượng Nhật) đến hạ lưu (Kim Long).
• Biên độ lũ, cường suất lũ: phụ thuộc vào lượng mưa và cường độ mưa và
hình dạng mặt cắt sông. Biên độ lũ giao động troảng 3-5m, cường suất lũ lớn
nhất ở vùng núi khoảng 1-2m/h, ở vùng đồng bằng từ 0,5-1m/h.
• Lưu lượng lũ: Lưu lượng của trận lũ 1953 là 12.500m
3
/s và trận lũ đầu
tháng XI/1999 là 14.000m
3
/s. Tổng lượng nước trên toàn bộ các sông đổ xuống
hạ lưu từ ngày 1-6/XI/1999 là khoảng 307 tỷ m
3
làm 90% lãnh thổ vùng đồng
bằng ngập sâu trong nước từ 1-4m.
Lũ lụt là thiên tai cực kỳ nguy hiểm có cường suất lớn, sức tàn phá ác liệt, hàng
năm gây nhiều thiệt hại cho Thừa Thiên Huế.
Hình 1. Trận lũ lịch sử năm 1999 ở Thừa Thiên – Huế
2.2. Bão và ATNĐ
Bão và ATNĐ là những thiên tai xuất hiện ở Thừa Thiên Huế không nhiều,
trung bình hàng năm chỉ 0,6 cơn nhưng gây ra hậu quả nghiêm trọng phải mất nhiều
năm mới khắc phục được. Trong chuỗi số liệu lịch sữ đã ghi nhận những trận bão sau
đây:
• Ngày 19/XI/1904 một cơn bão mạnh đã tràn qua kinh thành Huế làm sập 4
lớn. Bão kết hợp lũ là hình thế thời tiết rất nguy hiểm gây nhiều thiệt hại như cơn bão
năm 1985.
Hình 2. Đường đi của các cơn bão ảnh hưởng đến TTH từ năm 1954-2005
2.3.Nước dâng
Nước dâng là hiện tượng mực nước biển dâng cao hơn mức thuỷ triều bình
thường khi có bão ảnh hưởng. Tuỳ theo cường độ của bão, nước dâng có thể gây thiệt
hại ở vùng thấp ven biển. Ở khu vực Thừa Thiên Huế, nước dâng đã quan sát trong
cơn bão CECIL 1985 ở Thuận An 1,9m, ở Lăng Cô 1.7m và khoảng 1,0m trong cơn
bão Yangsane 2006. Nước dâng kết hợp triều cường làm mực nước biển cao 3-4m,
tràn vào đất liền 2-3km. Theo tính toán của Trương Đình Hiển [6], trong chu kỳ
khoảng 100 năm có khả năng xảy ra nước dâng ở khu vực ven biển Thừa Thiên Huế
với độ cao 2,0m.
2.4. Lốc, tố
Lốc, tố là những thiên tai thường xảy ra ở Thừa Thiên Huế. Mặc dù phạm vi
ảnh hưởng không rộng như bão nhưng sức gió trong lốc rất mạnh, đôi khi kèm theo
mưa đá, gây thiệt hại đáng kể cho địa phương. Trong những năm gần đây số cơn lốc
xảy ra trên địa bàn Thừa Thiên Huế ngày càng gia tăng, nhất là vào những năm có
hiện tượng El Nino như 1993, 1997, 2002. Từ năm 1993 đến nay trung bình hàng năm
có khoảng 4 cơn lốc. Đáng chú ý là cơn lốc ngày 25/IX/1997 với sức gió cấp 10 qua
huyện Phú Vang và thành phố Huế làm thiệt hại 8 tỷ đồng. Gần đây hai cơn lốc mạnh
cấp 10 xảy vào ngày 27/III và ngày 28/IV/2005 tại hai huyện Nam Đông Và A Lưới
để lại thiệt hại hơn 2 tỷ đồng. Thời gian xuất hiện của lốc tố thường vào thời kỳ
chuyển mùa: tháng IV, tháng V và tháng VIII, tháng IX và có thể xuất hiện nhiều vùng
trên địa bàn của tỉnh. Cơn lốc mạnh nhất đã quan sát được ở Thừa Thiên Huế là
144km/gi (cấp 13) vào ngày 7/IV/1981 ở A Lưới kèm theo mưa đá có đường kính lớn
nhất là 5cm.
2.5. Lũ quét
Theo số liệu khảo sát, trên địa bàn Thừa Thiên Huế đã có 48 điểm xảy ra lũ
quét với các loại hình sau: lũ quét nghẽn dòng, lũ quét hổn hợp. Lũ quét nghẽn dòng
thường xảy ra ở những vùng trũng giữa núi như: Hồng Kim (A Lưới), Xuân Lộc (Phú
thực và sạt lở nặng nề. Bình quân hàng năm biển lấn sâu vào đất liền khoảng 5-10m,
có nơi 30m. Sau trận lũ lịch sử tháng 11/1999 sạt lở diễn ra nghiêm trọng, khu vực Hải
Dương-Hòa Duân biển xâm thực sâu hơn 100m làm hư hại cac công trình hạ tầng cơ
sở nhà nước và nhân dân như: làm sập đổ đền hải đăng, hàng loạt nhà nhà nghỉ bải tắm
Thuận An. Tổng chiều dài bị xâm thực 4km, đe dọa đến tính mạng và tài sản của hơn
1.000 hộ dân trong khu vực. Trong hình 5 trình bày sơ đồ vị trí đo đạc các điểm sạt lở
ở Thuận An-Hòa Duân.
Theo tổng kết của Trần Hữu Tuyên [7], cửa Tư Hiền được mở trở lại sau trận lũ
lịch sử tháng 11/1999, gây ra những biến động bồi xói cục bộ diễn ra mạnh mẽ. Trong
giai đoạn từ năm 200-2001, tại thôn Phú An, xã Vinh Hiền, xói lở diễn ra trên chiều
dài 440m, diện tích sạt lở là 0,76ha và tốc độ xói trung bình khoảng 17m/năm. Đoạn
bờ đối diện với đoạn bờ thôn Phú An qua lạch cửa Tư Hiền cũng bị xói sạt, diện tích là
0,5ha, chiều dài 200m, tốc độ xói trung bình là 25m/năm.
Cửa Tư Hiền và cửa Lộc Thủy liên tục bị bồi xói và đóng mở. Cửa Tư Hiền bị
thu hẹp đáng kể và cửa Lộc Thủy bị bồi lấp hoàn toàn tháng 5/2004. Hình 6 trình bày
các điểm quan trắc biến động đường bờ tại cửa Tư Hiền.
Hình 6. Sơ đồ các điểm quan trắc biến động đường bờ tại cửa Tư Hiền
2.8. Sạt lở bờ sông
Sạt lở bờ sông với chiều dài trên 36km tập trung chủ yếu dọc theo sông Bồ,
sông Hương, sông Truồi ảnh hưởng đến 2.419 hộ, trên 508 hộ phải di dời. Đặc biệt là
sạt lở hệ thống sông Hương làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan và di tích văn
hóa lịch sử quan trọng của tỉnh [3].
2.9. Hạn, xâm nhập mặn
Hạn, xâm nhập mặn là những hiện tượng thường xảy ra hàng năm, nhất là trong
những năm có hiện tượng El Nino ở Thừa Thiên Huế.Tuy không gây ra chết người
nhưng nó ảnh hưởng nghiêm trọng tới các ngành dân sinh, kinh tế như: nông nghiệp,
công nghiệp, môi trường và sức khoẻ. Khoảng cách lớn nhất mà độ mặn xâm nhập vào
sông Hương quan trắc được là khoảng 30km. Xâm nhập mặn gây hậu quả tiêu cực đến
sản xuất nông nghiệp và môi trường sinh thái ở vùng đất thấp ven sông Hương, sông
Bồ. Diện tích bị ảnh hưởng khoảng 2.000-2.500 ha [ 8 ].
Thiệt hại do thiên tai gây ra ở Thừa Thiên Huế từ năm 1990 đến 2006 được
trình bày trong bảng 1.
Bảng 1: Thiệt hại do thiên tai ở Thừa Thiên Huế từ 1990- 2006
Năm Người chết Tài sản (tỷ đồng)
1990 18 56,540
1991 10 20
1992 8 12
1993 6 13,540
1994 1 1,2
1995 20 60
1996 31 127,322
1997 1 10,923
1998 25 168,120
1999 352 1761,820
2000 5 73,6
2001 5 15,135
2002 9 15
2003 5 27,220
2004 10 248
2005 7 157
2006 8 2.931,09
Phân tích số liệu thiệt hại do thiên tai gây ra cho thấy: trung bình hàng năm có
29 người chết và tổn thất tài sản 316,584 tỷ đồng. Lũ lụt là thiên tai gây nhiều thiệt
hại nhất. Những năm lũ lớn như năm 1990, 1995,1996, 1998 và 1999 mỗi năm có
hàng chục người chết thiệt đến hàng trăm tỷ đồng. Đặc biệt đợt lũ năm 1999 là thiên
tai gây hậu quả nặng nề nhất kể từ 100 năm nay ở Thừa Thiên Huế.
Mối quan hệ giữa thệt hại về nhân mạng và tài sản do lũ lụt được biểu diễn
trong hình 7,8.
Hình 7. Quan hệ gữa đỉnh lũ năm tại Kim Long và số người chết ở TTH
- Trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng ngập mặn ở ven biển.
- Nhờ bố trí lại mùa vụ và cơ cấu cây trồng nên đã tránh được lũ tiểu mãn và lũ
cính vụ nên nhiêù năm liền được mùa liên tiếp.
- Năng lực phòng chống thiên tai của cộng đồng ngày càng được nâng cao
thông qua các lớp tập huấn phòng chống thiên tai dựa vào cộng đồng do các tổ chức
quốc tế tài trợ cho hầu hết các xã trên địa bàn. Nhiều xã đã xây dựng làng an toàn,
thôn an toàn về thiên tai, hoạt động rất hiệu quả.
- Phổ biến và hổ trợ nhân dân xây dựng nhà chống bão bằng vật liệu tại chổ.
Mặt khác kiểm soát chặt chẽ qui trình qui phạm xây dựng trong khu vực nguy cơ bão
lũ.
- Đã di dời hàng ngàn hộ dân trong khu vực nhạy cảm với thiên tai ở ven biển,
khu vực lũ quét, trượt lở đất đến khu định cư mới. Lập quy hoạch sử dụng đất và khai
thác tài nguyên, bố trí các khu dân cư, cơ sở hạ tầng, các công trình phòng tránh, ngăn
chặn, giảm nhẹ các loại thiên tai cho từng vùng.
- Trong chiến lược phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai của Thừa Thiên Huế thì
biện pháp công trình có một vị trí quan trọng. Đặc biệt cùng một lúc tỉnh đã xây dựng
4 hồ chứa đa mục tiêu kết hợp cắt giảm lũ và thủy lợi, thủy điện: hồ Tả Trạch, thủy
điện Bình Điền, thủy điện Cổ Bi, thủy điện A Lưới. Đã hoàn đập ngăn mặn Thảo Long
giải quyết triệt để xâm nhập mặn.
- Xây dựng đê kè biển để chống sạt lở ở Thuận An, đặc biệt đã sử dụng công
nghệ mới Stapilplage của Pháp tại Hòa Duân. Xây dựng các trường học cao tầng kiên
cố để làm nơi trú ẩn khi có bão lũ. Xây dựng nơi trú bão cho tàu thuyền của ngư dân.
* Xây dựng chính sách quản lý tổng hợp phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.
- Biện pháp quản lý tổng hợp thiên tai dựa trên các văn bản pháp qui của nhà
nước như: pháp lệnh PCLB, luật tài nguyên nước, pháp lệnh đê điều, luật bảo vệ môi
trường nhằm động viên các nguồn lực bao gồm nhân lực, vật lực, khoa học và công
nghệ, tài chính và cơ chế chính sách, phát huy tính chủ động của các cấp.
- Thiên tai xảy ra hàng năm ở Thừa Thiên Huế. Những khu dân cư nghèo, nơi
có cơ sở hạ tầng yếu kém, thu nhập bình quân đầu người thấp là những nơi rất dễ bị
tổn thương với thiên tai. Để nâng cao năng lực phòng chống thiên tai phải đi kèm vơí
- Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện thông tin, phương tiện cứu hộ cho cơ
sở.
- Qui định và xây dựng hành lang thoát lũ cho các vùng xung yếu.
- Thông tin bão lũ cần chuyển nhanh hơn về cơ sở.
- Hiện nay toàn tỉnh vẫn còn 1.420 hộ dân vạn đò sống trên sông nước. Đây
phần lớn là hộ nghèo, nguy cơ rủi ro do thiên tai cao. Tỉnh cần cần có kế hoạch xây
dựng khu tái định cư cho những hộ này.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Ngọc Thiện. Thừa Thiên Huế với công tác phòng chống lụt bão và giảm
nhẹ thiên tai. Báo cáo tham luận nhân dịp 60 năm ngày truyền thống phòng chống lụt
bão và giảm nhẹ thiên tai của Việt Nam. Hà Nội 2005.
2. UNDP Project DMU vie/97/002. Chiến lược và kế hoạch hành động giảm nhẹ thiên
tai ở Việt Nam. Hà Nội 2001.
3. Chi cục PCLB và QLĐĐ Thừa Thiên Huế. Báo cáo chiến lược phòng chống và
giảm nhẹ thiên tai vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020. Huế 4-2007.
4. Dương Văn An. Ô Châu cận lục (bản dịch của Bùi Lương), Nxb Văn hóa Á Châu,
Sài Gòn,1961.
5. Tổng cục khí tượng thủy văn. Lịch sử KTTV Việt Nam, phần biên niên cổ đại, trung
đại, cận đại. Hà Nội 1995.
6. Trương Đình Hiển.Báo cáo nghiên cứu, khảo sát lập dự án chọn địa điểm cảng biển
nước sâu và khu công nghiệp Chân Mây tỉnh Thừa Thiên Huế. Tp.HCM, 12/1995.
7. Trần Hữu Tuyên. Động lực và xu thế bồi xói bờ biển, cửa sông dải ven biển Tư
Hiền. TASK 3.5/CCP 2005. Huế,2-2006.
8. Bộ KHCN &MT. Báo cáo tổng hợp đề án “ Nghiên cứu phương án phục hồi, thích
nghi cho vùng cửa sông ven biển Thuận An-Tư Hiền và đầm phá Tam Giang-Cầu
Hai”. Hà Nội, 7-2001.
9. Nguyễn Quang Trung Tiến. Biến động địa lý của Thuân An và các dự án đập sông
Hương trước 1975. Tạp chí thông tin khoa học và công nghệ TTH số 2/1998.
10. Vietnamnet. Sóng thần ở VN: Nguy cơ là có, nhưng không cao!.7/2006.
11. Viện vật lý địa cầu. Bản đồ phân vùng địa chấn cực đại. Hà Nội, 2004.