PHÒNG GD – ĐT CÁI BÈ
TRƯỜNG THCS HẬU MỸ BẮC B
ÑEÀ TAØI:
TÍCH HỢP GIÁO DỤC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 9
Ở TRƯỜNG THCS HẬU MỸ BẮC B
Giáo viên: Nguyễn Tấn Đạt
Tổ: Hóa – Sinh – Công nghệ
Năm học: 2010 - 2011
1
2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Thầy Phạm Văn Hiền – Hiệu trưởng trường
THCS Hậu Mỹ Bắc B.
- Thầy Nguyễn văn Sang – Tổ trưởng Tổ Hóa –
Sinh – CN.
- Các em học sinh lớp 9a1, 9a5, 9a6, 9a7 năm
học 2010 – 2011, trường THCS Hậu Mỹ Bắc B.
Đã giúp tôi hoàn thành đề tài sáng kiến kinh
nghiệm này.
Hậu Mỹ Bắc B, ngày 15 tháng 01 năm 2011
Giáo viên: Nguyễn Tấn Đạt
LỜI NÓI ĐẦU
_______________________________________________________
- Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, đời sống của
con người không ngừng được cải thiện. Song tỉ lệ thuận với nó là tình hình ô
nhiễm môi trường (MT). Ô nhiễm MT là một trong những vấn đề cấp bách
không chỉ ở Việt Nam, mà có tính chất tàn cầu.
- Thế giới này không kìm được mình, phát triển dân số, tàn phá rừng, tiêu
và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu BVMT và phát
triển bền vững của đất nước.
Giáo dục BVMT hiện là vần đề có tính chiến lược của mỗi quốc gia và
toàn cầu. Ở nước ta, BVMT cũng đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc. Nghị
quyết số 41/NQ – TƯ ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về tăng
cường công tác BVMT trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước; Quyết định số 1363/QĐ – TTg ngày 17 tháng 10 năm 2001 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt đề án: “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo
dục Quốc dân” và Quyết định số 256/2003/QĐ – TTg ngày 02 tháng 12 năm
2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược BVMT Quốc gia
đến năm 2010 và hướng đến năm 2020 đã tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho những
nỗ lực và quyết tâm BVMT theo hướng phát triển một tương lai bền vững của
đất nước.
Cụ thể hóa và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước,
ngày 31 tháng 01 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị về
việc tăng cường công tác giáo dục BVMT, xác định nhiệm vụ trọng tâm đến năm
2010 cho giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh (HS) kiến thức, kĩ năng về
MT và BVMT bằng hình thức phù hợp trong các môn học và thông qua các hoạt
động ngoại khóa, xây dựng mô hình nhà trường xanh – sạch – đẹp phù hợp với
các vùng, miền.
2. Lí do về phương diện thực tiển:
Hiện nay, MT đang bị hủy hoại nghiêm trọng, làm mất cân bằng sinh thái,
cạn kiệt nguồn tài nguyên, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống. Một trong những
nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng trên là do tiến trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, sự yếu kém về khoa học xử lý chất thải, sự thiếu ý thức, thiếu hiểu biết
của con người.
Giáo dục BVMT là một vấn đề cấp bách và là vấn đề có tính khoa học,
tính xã hội sâu sắc. Đặc biệt vấn đề này hết sức cần thiết cho các em HS – những
chủ nhân tương lai của đất nước. Làm thế nào để hình thành cho các em ý thức
BVMT và thói quen sống vì một môi trường phát triển bền vững.
người cùng bảo vệ MT bằng nhiều hình thức.
- Giáo dục BVMT còn hình thành nhân cách người lao động mới và có
thái độ thân thiện với MT, phát triển kinh tế hài hòa với BVMT, đảm bảo nhu
cầu của hôm nay mà không phương hại đến các thế hệ mai sau.
Thông qua những tiết có tích hợp BVMT, tôi muốn nêu lên vấn đề là làm
thế nào để một tiết dạy có giáo dục BVMT đạt hiệu quả cao nhất và tôi muốn tìm
ra những giải pháp hữu hiệu nhất giúp HS hiểu và vận dụng kiến thức vào việc
BVMT ở địa phương.
III/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Khảo sát việc tích hợp giáo dục BVMT trong dạy học SH 9 ở trường
THCS Hậu Mỹ Bắc B.
Tìm hiểu thái độ học tập của HS khi học một số tiết có giáo dục BVMT.
Tìm hiểu sự chuẩn bị và cách truyền đạt kiến thức của GV khi dạy các tiết
học SH 9 có giáo dục BVMT.
Tìm hiểu nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động tới việc tiếp thu
kiến thức BVMT của HS cũng như sự vận dụng vào việc BVMT của các em.
IV/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu là các em HS lớp 9a1, 9a5, 9a6, 9a7 trường THCS
Hậu Mỹ Bắc B – do tôi trực tiếp giảng dạy, kết hợp với các GV dạy SH 9, Ban
Giám Hiệu và các tổ chức đoàn thể của nhà trường.
Phụ huynh HS lớp 9 trường THCS Hậu Mỹ Bắc B.
V/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
5
Nghiên cứu việc tích hợp giáo dục BVMT trong dạy học SH 9 ở trường
THCS Hậu Mỹ Bắc B, tôi sử dụng các phương pháp sau:
1. Phương pháp điều tra giáo dục: qua các câu hỏi điều tra để có thể tìm
ra nguyên nhân làm cho HS hứng thú khi học các tiết học SH 9 có giáo dục
BVMT và hiệu quả của tiết học đó.
2. Phương pháp trò chuyện phỏng vấn để nắm được những thuận lợi, khó
khăn khi dạy các tiết SH 9 có giáo dục BVMT.
như thế nào.
- Từ đó, GV có biện pháp giáo dục HS trong các tiết có giáo dục BVMT
đạt hiệu quả nhất.
6
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM
I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN:
MT là không gian sinh sống của con người và sinh vật, là nơi chứa đựng
các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất, là nơi chứa đựng và
phân hủy các chất thải mà con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản
xuất…MT có vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống con người. Đó không chỉ
là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển mà còn là nơi lao động và nghỉ ngơi,
hưởng thụ và trao dồi những nét đẹp văn hóa, thẩm mỹ,… Nhưng cùng với sự
phát triển của xã hội thì MT cũng đang dần suy thoái, bị ô nhiễm ngày càng
nhiều hơn.
Năm 1962, Bác Hồ khai sinh “Tết trồng cây”, cho đến nay phong trào này
ngày càng phát triển mạnh mẽ. Năm 1991, Bộ Giáo dục – Đào tạo có chương
trình trồng cây hỗ trợ phát triển giáo dục – đào tạo và BVMT (1991 – 1995).
Từ năm 1986 trở đi, cùng với các đề tài ngiên cứu khoa học về BVMT,
các tài liệu về MT cũng được xuất bản.
Trong “Kế hoạch hành động quốc gia về MT và phát triển bền vững Việt
Nam giai đoạn 1996 – 2000” giáo dục MT được ghi nhận như một bộ phận cấu
thành.
Từ năm 2005, dự án giáo dục MT trong nhà trường của Bộ Giáo dục –
Đào tạo nhằm và các mục tiêu cơ bản:
- Hỗ trợ xây dựng một chính sách và chiến lược thực hiện quốc gia về
BVMT ở Việt Nam.
- Tăng cướng năng lực của Bộ Giáo dục – Đào tạo trong việc truyền đạt
những nội dung và phương pháp giáo dục MT vào các chương trình đào tạo GV.
huynh, chính quyền địa phương xây dựng xã hội hóa giáo dục ngày càng cao.
I/ THUẬN LỢI:
Được sự quan tâm hỗ trợ của các ban ngành, của chính quyền địa phương
và phụ huynh HS trong việc giáo dục BVMT.
Đội ngủ GV có nhiều kinh nghiệm, liên tục đổi mới phương pháp dạy học
giúp HS tự tìm tòi kiến thức mới và rèn luyện phương pháp tự học, có thể vận
dụng các kiến thức đã học và việc BVMT ở địa phương.
Đa số GV trẻ, nhiệt tình trong công tác, có ý thức học tập nâng cao trình
độ chuyên môn, thực hiện tốt nguyên tắc giáo dục.
Hiện trường được trang bị 10 máy chiếu phục vụ công tác giảng dạy cho
GV.
II/ KHÓ KHĂN:
Hậu Mỹ Bắc B là một xã vùng sâu, đa số gia đình HS làm nông nghiệp,
làm thuê nên việc quan tâm đến việc học của các em còn hạn chế. Bên cạnh đó,
người dân ở địa phương chưa có ý thức trong việc BVMT.
Một số máy chiếu đã bị hỏng nên việc đưa các hình ảnh minh họa về giáo
dục BVMT trong giảng dạy SH 9 còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của Bộ
Giáo dục – Đào tạo đề ra về việc tích hợp BVMT trong các tiết học.
Trường có nhiều HS cá biệt, còn HS chưa quan tâm đến việc học, chưa
tích cực trong các tiết học và chưa thấy tầm quan trọng về giáo dục BVMT.
Hiện thư viện chưa có sách về MT.
Năm học 2009 – 2010 và học kì I năm học 2012 - 2011, tích hợp BVMT
trong dạy học SH 9 ở trường THCS Hậu Mỹ Bắc B còn gặp nhiều khó khăn:
Theo cấu trúc Chương trình sách giáo khoa SH 9, phần có liên quan tới MT
thường đưa vào mục cuối bài hoặc là một phần nhỏ của bài, nên GV thường chú
tâm vào nội dung chính của bài, nếu còn thời gian mới liên hệ đến phần cuối bài
hoặc bỏ qua phần liên hệ thực tế cho các em.
Một số ví dụ các bài có tích hợp giáo dục BVMT năm học 2009 – 2012:
+ Bài 21. ĐỘT BIẾN GEN, phần II – Nguyên nhân phát sinh đột biến gen:
HS chỉ biết đột biến gen do tác động của MT, nhưng chưa nằm rõ là MT ô nhiễm
Trong tiết dạy, phần giáo dục BVMT chưa được chú trọng vì đây là một
phần phụ, một phần nhỏ của bài và trong một tiết dạy có giáo dục BVMT thì
không đủ thời gian để GV liên hệ thực tế nhiều về MT…
Trong phân phối chương trình không có tiết ngoại khóa và không thể tổ
chức cho HS tham quan thực tế các vấn đề về MT.
Sau khi quan sát giờ ra chơi của HS và trò chuyện với thầy Hiệu trưởng,
tôi nhận thấy ý thức về việc BVMT của HS trong trường hiện nay chưa được tốt,
còn một số HS rất thiếu ý thức về BVMT.
BẢNG THỐNG KÊ ĐIỀU TRA HS LỚP 9 ĐẦU NĂM HỌC 2010 – 2011.
Lớp Sỉ số
Thái độ học tập của HS trong các tiết có tích hợp
giáo dục BVMT
Hứng thú Không hứng thú
Số lượng % Số lượng %
9a1 43 18 41,9% 25 58,1%
9a6 40 16 40% 24 60%
9a7 36 20 55,5% 16 44,5%
TC 119 54 45,4% 65 54,6%
9
Lớp Sỉ số
Ý thức BVMT của HS
Tốt Khá Trung bình Kém
SL % SL % SL % SL %
9a1 43 13 30,2% 14 32,6% 9 20,9% 7 16,3%
9a6 40 12 30% 13 32,5% 9 22,5% 6 15%
9a7 36 9 25% 11 30,6% 5 13,8% 11 30,6%
TC 119 34 28,6% 38 31,9% 23 19,3% 24 20,2%
Từ những kết quả trên, cho chúng ta thấy về thái độ cũng như ý thức
BVMT của HS chưa cao. Do đó, cần phải có giải pháp tích hợp giáo dục BVMT
cho HS đạt kết quả cao nhất để góp phần BVMT ở địa phương.
dụng phương pháp đặt và giải quyết vấn đề.
+ Tổ chức hoạt động cụ thể cho HS.
10
+ Tìm hiểu những thông tin mới nhất và hình ảnh phản ánh thực tế nhất
đưa vào bài dạy.
+ Trong các phần có tích hợp giáo dục BVMT, GV cho HS thảo luận
nhóm để đi đến kiến thức. Trong đó, hợp tác nhóm nhỏ có ưu thế nhất.
3. Tích hợp giáo BVMT dưới dạng trò chơi, hội thi:
Trong dạy học SH 9, để tích hợp BVMT trong các tiết dạy, GV cần làm
thế nào cho HS thích học, có hứng thú trong học tập thì kết quả giáo dục mới đạt
hiệu quả cao.
Để thay đổi hình thức dạy - học cho HS đỡ nhàm chán (đặc biệt là HS
vùng sâu) thì GV nên lồng ghép giáo dục BVMT dưới dạng các trò chơi.
Ví dụ: Bài. BỆNH VÀ TẬT DI TRUYỀN Ở NGƯỜI.
Phần III. Các biện pháp hạn chế phát sinh tật, bệnh di truyền ở người,
phần này gồm các nguyên nhân gây tật, bệnh di truyền: do các tác nhân vật lý,
hóa học, do ô nhiễm môi trường, do rối loạn trao đổi chất nội bào…. GV giao
nhiệm vụ các tổ về chuẩn bị các tình huống, sau đó các tổ đua ra tình huống sử
dụng một loại hình thức gây tật, bệnh di truyền ở người và yêu cầu giải quyết
tình huống đó (đề ra các biện pháp hạn chế), GV nhận xét và phát thưởng cho
các em.
Hoặc phần kiểm tra – đánh giá:
- GV chia lớp ra thành hai nhóm.
- Chiếu cho HS xem hình tật, bệnh di truyền.
- Yêu cầu HS nêu tên tật (bệnh) di truyền và nguyên nhân gay ra –
hiệu ứng thời gian cho mỗi tật, bệnh là 10 giây (trong 10 giây HS
phải nêu được tên tật, bệnh di truyền, nếu đúng được 5đ)
- GV tổng kết, xếp hạng, phát thưởng.
4. Tổ chức ngoại khóa trong các giờ thực hành:
Trong chương trình SH 9, các tiết học là tiết đơn, các tiết thực hành GV
9a7 36 28 77,8% 7 19,4% 1 2,8%
TC 119 90 75,6% 22 18,5% 6 5,1% 1 0,8%
Qua đó, cho thấy HS có hứng thú hơn trong các tiết học có giáo dục
BVMT và ý thức BVMT của các em cũng được nâng lên:
Bỏ rác đúng nơi qui định,
Các em rất tích cực trong các buổi vệ sinh, vệ sinh Nhà tưởng niệm,
bia Căm thù ở ấp Hậu Qưới
Có ý thức bảo vệ cây xanh trong trường học.
Sử dụng tiết kiệm điện, nước…
Các em biết vận dụng kiến thức đã học để BVMT ở địa phương.
CHƯƠNG VI. TIỂU KẾT
Tích hợp giáo dục BVMT cho HS lớp 9 ở trường THCS Hậu Mỹ Bắc B là
góp phần hình thành thái độ, hành vi ứng xử, quan niệm đạo đức, ý thức sống có
tránh nhiệm trước cộng đồng của HS trước sự phát triển của xã hội.
Bằng thực tế giảng dạy và nghiên cứu sự thay đổi của chương trình sách
giáo khoa, qua lần tập huấn “tích hợp giáo dục BVMT trong môn học Sinh học ở
trường THCS”, kết hợp các phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa
hoạt động học tập của HS nhằm hình thành cho HS tư duy độc lập, sáng tạo,
nâng cao năng lực phát hiện và xử lí vấn đề, trên cơ sở kiến thức SH đã được
tích lũy có hệ thống. Để giúp HS học tập và vận dụng kiến thức BVMT đạt kết
quả tốt, tôi đã mạnh dạng áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này ở trường THCS
Hậu Mỹ Bắc B và tôi nhận thấy có nhiều hiều quả tốt. Từ chỗ các em không
hứng thú trong các tiết học BVMT, ý thức chưa cao trong việc BVMT đến hứng
thú trong học tập và có ý thức trong việc BVMT, bảo vệ hành tinh của chúng ta,
trên cơ sở đó định hướng nghề nghiệp cho các em sau này.
12
C. KẾT LUẬN
I/ KẾT LUẬN QUAN TRỌNG NHẤT CỦA SKKN:
1. GV có thể giáo dục BVMT trong các bài dạy một cách liên tục:
Nếu trong cấu trức bài học nội dung có liên quan tới MT được đặt ở cuối
Bước 3: Xác định thời gian, địa điểm.
Bước 4: Thành lập nhóm giáo khảo.
Bước 5: Tuyên truyền, phát động trò chơi, hội thi.
Bước 6: Thiết kế chương trình.
Bước 7: Chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị.
Bước 8: Tiến hành trò chơi, hội thi.
Bước 9: Tổng kết, rút kinh nghiệm.
13
4. Tổ chức ngoại khóa trong các giờ thực hành:
Trong chương trình SH 9, các tiết học là tiết đơn, các tiết thực hành GV
nên cho HS quan sát các sinh vật hoặc tìm hiểu tình hình ô nhiễm MT quanh
khuôn viên trường học.
Hoặc nếu có thời gian GV nên cho các em tham quan thực tế để biết được
sự đa dạng và phong phú về sinh vật ở địa phương trong những năm gần đây
dưới sự tác động của con người và giúp HS biết được thực trạng của MT ở địa
phương mà từ có có thái độ đúng đắn đối với việc BVMT.
Vậy tổ chức ngoại khóa cho HS là một dịp để các em nắm vững kiến thức
bài học, từ đó tìm ra phương pháp BVMT hiện tại và tương lai.
* Mục đích của giáo dục BVMT:
Giáo dục MT trong nhà trường nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là HS
được trang bị để nhận thấy được ý nghĩa của việc giáo dục BVMT trong việc
nâng cao chất lượng dạy học môn SH 9 nhằm xây dựng một MT tốt đẹp.
Cho HS thấy được ý thức trách nhiệm sâu sắc đối với sự phát triển bền
vững của Trái đất.
Mỗi HS đều có khả năng cảm thụ, đánh giá vẻ đẹp nền tảng của MT.
Là một thực thể mang tính xuyên suốt trong các môn học, giáo dục BVMT
mang lại cho các em cơ hội khám phá MT và hiểu biết về các quyết định của con
người kiên quan đến MT và đặc biệt thông qua tích hợp giáo dục BVMT trong
dạy học SH 9 cũng tạo cơ hội để hình thành, sử dụng các kĩ năng liên quan đến
cuộc sống hôm nay và ngày mai của các em. Tất cả những điều này cho chúng ta
hoạt động của con người và MT. Phát triển những kĩ năng cơ bản và gìn giữ MT,
kĩ năng dự đoán, phòng tránh và giải quyết những vấn đề MT nảy sinh. Tham gia
tích cực những hoạt động khôi phục, bảo vệ và gìn giữ MT, có ý thức về tầm
quan trọng của MT trong sạch đồi với sức khỏe con người, với chất lượng cuộc
sống chúng ta.
Giáo dục HS có ý thức BVMT bằng những việc làm cụ thể: bỏ rác đúng
nơi quy định, bảo vệ cây xanh trong trường, bảo vệ các động vật có giá trị kinh
tế, trên đường đi không tùy tiện bẻ cành, bẻ hoa…
III/ KIẾN NGHỊ:
1. Đối với GV:
Chuẩn bị tốt giáo án trước khi đến lớp, đặc biệt là các tiết có tích hợp giáo
dục BVMT.
Sưu tầm, cập nhật những thông tin mới nhất, sát thực tiễn địa phương về
các vấn đề MT để dưa vào bài giảng.
Khi thực hiện giảng dạy phần ô nhiễm MT, GV không nên coi là phần phụ
mà phải nghiêm túc chuẩn bị nội dung, phương pháp sao cho HS tháy đây là vấn
đề cấp bách của nhân loại.
Tăng cường và sáng tạo các hình thức dạy học phong phú để tránh nhàm
chán cho HS khi học các tiết có giáo dục BVMT.
Nâng cao kiến thức về BVMT.
2. Đối với nhà trường:
Sửa chửa kịp thới các máy chiếu đã bị hỏng.
Thường xuyên kiểm tra và bảo trì các thiết bị phục vụ dạy học.
Bổ sung sách về BVMT của thư viện.
Bổ sung thêm cây trong vườn thuốc nam và có điều kiện nên xây dựng
vườn sinh học.
Nhà trường có thể tổ chức các hội thi hoặc đố vui học tập (lồng ghép với
sinh hoạt dưới cờ) về kiến thức tìm hiểu MT và BVMT.
3. Đối với phòng Giáo dục:
Tạo điều kiện hỗ trợ kinh phí tổ chức cho HS tham gia các buổi tham quan
1. Xin thầy cho biết ý thức BVMT của HS trong trường hiện nay như thế
nào?
2. Nhà trường có những biện pháp gì để xử lí HS vi phạm vệ sinh trong
trường?
3. Nhà trường có những biện pháp gì để nâng cao ý thức HS trong vấn đề
BVMT?
4. Để tích hợp giáo dục BVMT cho HS đạt kết quả tốt, trường đã co những
hoạt động gì?
Xin cảm ơn thầy!
Câu hỏi phỏng vấn thầy Nguyễn Văn Sang – Tổ trưởng tổ Hóa – Sinh –
Công nghệ:
1. Thầy cho biết, hiện nay vấn đề tích hợp giáo dục BVMT trong các tiết dạy
của Gv trong dạy học SH 9 như thế nào?
2. Những thuận lợi và khó khăn của GV và HS trong các tiết học giáo dục
MT.
3. Để tích hợp BVMT trong các tiết dạy SH 9 thì GV cần chuẩn bị những gì?
4. Theo thầy Gv cần phải tích hợp bảo vệ MT như thế nào để đạt kết quả tốt
nhất?
Xin cảm ơn thầy!
18
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………… ……1
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI……… …………………………………….………1
1. Cơ sở lí luận:
2. Lí do về phương diện thực tiển:
3. Tính cấp thiết của đề tài:
II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU……………………………………………… 2
III/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU……………………………………………….3
IV/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU…………………………………………… 3
V/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………………….……………….3