LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta biết, trong hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, Nhà nước Việt
Nam đã ban hành một khối lượng rất lớn các văn bản quy phạm pháp luật để điều
hành và quản lý xã hội, quản lý Nhà nước. Quản lý Nhà nước bằng pháp luật là một
nguyên tắc rất quan trọng của Hiến pháp Việt Nam - đạo luật cơ bản của Nhà nước và
đã được thực thi trong thực tế. Nguyên tắc này đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật
hoàn chỉnh, đồng thời mỗi cơ quan, tổ chức và công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành
pháp luật, không có ngoại lệ. Để chấp hành pháp luật thì mọi công dân, cán bộ phải
hiểu biết pháp luật để thực hiện. Nhưng trong thực tế thì không ai có thể nắm vững
được tất cả hệ thống pháp luật để thực hiện, cho dù công tác tuyên truyền và phổ biến
pháp luật có tiến hành tốt đến đâu. Vì vậy, công tác thẩm định văn bản trước khi ban
hành là điều hết sức quan trọng và cần thiết để văn bản đó đi vào thực tế hiệu quả,
mọi người dễ tiếp cận, dễ hiểu và thực hiện nghiêm túc.
Hơn thế nữa, cuộc sống xã hội luôn luôn phát triển, nhiều văn bản pháp luật đã
ban hành không đáp ứng kịp thời tình hình xã hội, nhiều lĩnh vực chưa được pháp luật
điều chỉnh. Nhất là khi nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu sang kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước thì việc
ban hành văn bản quy phạm pháp luật và công tác thẩm định trở nên cần thiết và cấp
bách.
Đây là một đề tài còn khá mới mẻ, ít tài liệu tham khảo nên bài viết chỉ đề cập
đến những vấn đề cơ bản và chung nhất, không thể đi sâu và phân tích kỹ càng được.
Nhưng qua bài viết này đã ít nhiều nêu bật được tầm quan trọng của công tác thẩm
định văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Phần 1: Khái quát về công tác thẩm định văn bản QPPL
1. Khái niệm thẩm định văn bản QPPL
2. Vai trò của công tác thẩm định văn bản QPPL
3. Cơ quan thẩm định văn bản QPPL
4. Đối tượng, phạm vi nội dung thẩm định văn bản QPPL
Phần 2: Tổ chức và quy trình thẩm định văn bản QPPL
cùng trước khi cơ quan, người có thẩm quyền chính thức xem xét, ban hành văn bản
(đối với văn bản nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ
tướng Chính phủ và quyết định, thông tư, chỉ thị của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ) hoặc trước khi Chính phủ xem xét, thông qua để trình Quốc hội (đối với
văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội) hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội (đối với văn
bản pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội) xem xét, ban hành.
3. Cơ quan thẩm định văn bản quy phạm pháp luật:
Đối với các văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội do các Bộ, cơ quan ngang Bộ được phân công chủ trì
soạn thảo, nghị quyết, nghị định của Chính phủ thì các văn bản đó được gửi đến Bộ
Tư pháp để tiến hành thẩm định khi trình Chính phủ xem xét văn bản đó.
Đối với các văn bản luật, pháp lệnh do cơ quan khác, các tổ chức, đại biểu
Quốc hội trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì Văn phòng Chính phủ gửi
đến Bộ Tư pháp để thẩm định trước khi tổng hợp, hoàn chỉnh ý kiến trình Thủ tướng
3
Chính phủ xem xét văn bản tham gia ý kiến của Chính phủ về văn bản luật, pháp lệnh
nói trên.
Đối với các văn bản thông tư, quyết định, chỉ thị của các Bộ, cơ quan ngang
Bộ thì trước khi trình ký ban hành, văn bản đó phải được tổ chức pháp chế của Bộ,
ngành đó thẩm định.
Đối với các văn bản nghị quyết liên tịch, thông tư liên tịch thì trước khi các cơ
quan, tổ chức chính trị - xã hội có liên quan ký ban hành, các tổ chức pháp chế của
từng cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội đó phải tiến hành thẩm định về mặt pháp lý.
Trong trường hợp các văn bản luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, nghị quyết, nghị định của Chính phủ được
phân công cho Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp phải thành lập
Hội đồng thẩm định bao gồm các chuyên gia về luật pháp và các nhà chuyên môn để
tiến hành thẩm định văn bản nói trên.
4. Đối tượng, phạm vi nội dung thẩm định:
4.1. Những hình thức văn bản quy phạm pháp luật phải qua thủ tục thẩm
hành thông tư để hướng dẫn thi hành nghị định của Chính phủ. Văn bản thẩm định
phải thể hiện sự tán thành hoặc không tán thành về việc soạn thảo, ban hành văn bản
tại thời điểm đó với lý do hợp pháp và hợp lý. Dưới đây là một ví dụ:
4.2.2. Về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản
Xem xét đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản nghĩa là xác định văn bản
điều chỉnh đối với đối tượng nào? Phạm vi điều chỉnh của văn bản giới hạn ở những
quan hệ xã hội nào? Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chất
lượng của văn bản.
Tiêu chí để xem xét đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản có phù hợp với
văn bản hay không cần dựa trên các yếu tố sau đây:
- Vấn đề, lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh;
- Hình thức văn bản được soạn thảo.
Trên cơ sở cân nhắc, đánh giá về sự rộng, hẹp, về tính đa dạng hay phức tạp
của vấn đề, lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh để kết luận đối tượng, phạm vi điều chỉnh
của văn bản đã hợp lý chưa.
4.2.3. Về sự phù hợp với đường lối, chủ trương chính sách của Đảng
Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất của báo cáo thẩm định bởi
nó bảo đảm cho hoạt động thể chế hoá đường lối của Đảng được đúng hướng và đúng
với tinh thần các chủ trương chính sách của Đảng. Tiêu chí để đánh giá văn bản có
phù hợp với đường lối, chủ trương chính sách của Đảng hay không cần căn cứ vào
các văn kiện của Đảng (ví dụ Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết của Ban chấp hành
Trung ương Đảng, Nghị quyết, Chỉ thị, Thông báo ý kiến kết luận của Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, v.v.), tập trung
vào những nội dung mà văn kiện đề cập có liên quan trực tiếp đến vấn đề mà văn bản
điều chỉnh. Từ đó có sự đối chiếu, so sánh để kết luận nội dung văn bản có phù hợp
với đường lối, chủ trương của Đảng hay không.
4.2.4. Về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống
pháp luật
5
Để thẩm định về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của nội
thuẫn, chồng chéo nhưng có sự vênh váo, không ăn khớp giữa các quy định.
4.2.5. Về tính khả thi của văn bản
Tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật được thẩm định có thể kết luận
qua việc xem xét các khía cạnh sau đây của văn bản:
Một là, nội dung các quy định của văn bản phải bảo đảm tính cụ thể, chi tiết để
tổ chức thực hiện hoặc áp dụng được trong thực tiễn;
6
Hai là, sự phù hợp của nội dung văn bản với điều kiện kinh tế xã hội hiện tại,
nghĩa là nội dung các quy định có thể thực hiện được trong điều kiện đời sống sinh
hoạt và ý thức xã hội mà quy phạm pháp luật đó được áp dụng. Ví dụ, quy định xử
phạt vi phạm hành chính đối với người đi xe đạp vi phạm quy định về trật tự, an toàn
giao thông với mức phạt tiền là 10.000 đồng đối với hành vi đi xe đạp trên hè phố,
trong vườn hoa hoặc trong công viên (Điều 8 khoản 1 điểm a Nghị định số 39/NĐ-CP
ngày 13/7/2001) là phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện tại.
Một ví dụ khác: Nghị định số ... /NĐ-CP ngày ... /12/2001 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung Nghị định số 01/CP ngày 03/6/1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực thương mại đã bổ sung hành vi " buôn bán hàng hoá có nhãn rách nát,
không còn nguyên vẹn hoặc nhãn mờ không đọc được nội dung " hoặc " buôn bán
hàng hoá trình bầy không đúng quy định về kích thước, vị trí, cách ghi, ngôn ngữ ".
Những vi phạm này khá phổ biến trong thực tiễn mà thực tế những người vi phạm lại
hoàn toàn chưa ý thức được đó là hành vi vi phạm pháp luật nên việc xử phạt khó
thực hiện đưọc trong thực tế.
Ba là, sự phù hợp của các quy định trong văn bản với ý thức pháp luật của đối
tượng áp dụng văn bản;
Bốn là, phù hợp với khả năng tổ chức thực hiện các quy định thuộc nội dung
văn bản của các cơ quan có trách nhiệm thực thi các quy định đó;
Năm là, việc kế thừa kinh nghiệm thực thi các quy định của pháp luật về
những vấn đề có liên quan đến nội dung điều chỉnh của văn bản.
4.2.6. Về kỹ thuật soạn thảo và ngôn ngữ pháp lý
Đây là một trong những nội dung thẩm định cần được tiến hành cẩn thận, cụ