Mục lục
Phần thứ nhất
Đặt vấn đề
Trang
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………….…… 2
2. Lịch sử vấn đề …………………………………………………………. 3
3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………… 4
4. Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………… 4
5. Mục đích nghiên cứu………………………………………………… 4
6. Phương pháp nghiên cứu ……………………… ……………… …… 4
Phần thứ hai
Giải quyết vấn đề
Chơng I- Cơ sở lý luận và thực tiễn …………………………… ………… 5
I- Cơ sở lý luận …………… ……………………………………. 5
II- Cơ sở thực tiễn ……………………… ……………………… 7
Chơng II- Thực trạng và một số giải pháp …………… ……… ……… 8
I- Vài nét về thực trạng …………………………… …… ………8
II- Một số giải pháp cụ thể gây hứng thú học Tiếng Anh
cho học sinh bằng các trò chơi ngôn ngữ …………… ………… 11
1. Giai đoạn khởi động ………………………………………………… 12
2. Giai đoạn củng cố …………………………………………………… 16
3. Giai đoạn ôn tập ………………………………………………………. 19
III- Kết quả thực hiện ……………………………………………… 23
Phần thứ ba
Kết thúc vấn đề
I- Kết luận ………………………………… …………………… 24
II- Kiến nghị và đề xuất …………………………….……………. 25Phần thứ nhất
Có nhiều cách để đạt được mục đích trên song việc áp dụng những trò chơi ngôn
ngữ vào dạy học đã gây được hứng thú cho học sinh của tôi hơn cả. Những kinh
nghiệm của tôi có thể vận dụng với hầu hết các tiết học, các kiểu bài, trong chương
trình Tiếng Anh THCS. Như vậy, việc lựa chọn đề tài này có ý nghĩa rất cụ thể và
thiết thực đối với giáo viên dạy bộ môn Tiếng Anh nhằm nâng cao chất lượng dạy –
học ngoại ngữ trong trường THCS.
2. Lịch sử vấn đề
áp dụng những trò chơi ngôn ngữ trong dạy học ngoại ngữ là một trong những
biện pháp quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh ở trờng
THCS hiện nay. Nó thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà lý luận dạy học cũng
như các giáo viên dạy học trực tiếp ở các trường phổ thông. Vấn đề này cũng đã
được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục, các bài
viết trên Tạp chí giáo dục của một số thầy cô giáo. Các công trình nói trên đã tạo cơ
sở, nền móng cả về mặt lý luận và thực tiễn để tôi hoàn thành đề tài này.
Tuy nhiên, các tác giả mới đề cập một cách khái quát, mang tính chất
định hớng, giới thiệu những trò chơi mà cha đề cập cụ thể đến việc áp dụng cụ thể
những trò chơi ngôn ngữ vào bài học như thế nào để tạo hứng thú học tập cho học
sinh. Vì thế, tôi đã mạnh dạn tiếp tục đi sâu tìm tòi nghiên cứu đề tài này theo
hướng vận dụng lý luận vào thực tế giảng dạy, với mong muốn đóng góp những
kinh nghiệm của mình vào việc tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em yêu
thích, say mê môn học để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng
Anh.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu thực hiện đề tài này là hình thức hoạt động của giáo viên và
học sinh trong các giờ dạy – học ngoại ngữ ở bậc THCS nói riêng và những người
dạy – học ngoại ngữ nói chung.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Đối với các tiết học ngoại ngữ ở tất cả các khối lớp với tất cả các kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết.
Tiếng Anh” của Bộ GD & ĐT xuất bản tháng 7 năm 2007 ghi rõ: “Tiếng Anh, với
t cách là tiếng nớc ngoài, là môn văn hóa cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo
dục phổ thông, là một bộ phận không thể thiếu của học vấn phổ thông. Môn Tiếng
Anh ở trường phổ thông cung cấp cho HS một công cụ giao tiếp mới để tiếp thu
những tri thức khoa học, kỹ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hoá đa dạng và
phong phú trên thế giới, dễ dàng hoà nhập với cộng đồng quốc tế…”.
Chính vì nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng Anh trong giai đoạn hiện nay
nên đây là môn học được mọi ngời đặc biệt quan tâm, nhất là trong lĩnh vực giáo
dục. Đáp ứng đợc những yêu cầu, nhiệm vụ mới của đất nớc thì cần phải có những
thế hệ công dân "sử dụng ngoại ngữ thông thạo” để “tiếp thu những tri thức khoa
học công nghệ tiên tiến ” . Điều đó đòi hỏi ngời giáo viên dạy ngoại ngữ cần phải
trang bị cho mình những phương pháp giảng dạy hiện đại, tiên tiến, phù hợp với nhu
cầu của môn học và của ngời học hiện nay.
Quan điểm chủ đạo của việc dạy học ngoại ngữ hiện nay là theo đường hướng
giao tiếp. Chính vì vậy mục đích của việc dạy học ngoại ngữ không nhằm hướng
học sinh vào nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ mà giúp người học sử dụng hệ thống
ngôn ngữ đó nh một công cụ giao tiếp. Đặc trưng cơ bản của phơng pháp dạy học
ngoại ngữ mới là hoạt động tự lập, tích cực, chủ động của học sinh trong việc giải
quyết các nhiệm vụ giao tiếp bằng ngoại ngữ. Và gần đây nhất, Bộ GD & ĐT đã có
những yêu cầu cụ thể về việc dạy học bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng: “Sáng tạo
về phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác học tập của học
sinh. Chú trọng rèn luyện phơng pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu; tạo
niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học
sinh ”.
Như vậy, chúng ta thấy rằng muốn học sinh học tốt môn học thì phài làm cho
học sinh yêu thích môn học đó. Muốn học sinh yêu thích môn học đó thì giáo viên
phải gây được hứng thú học tập cho học sinh. Có nhiều phương pháp để phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, gây hứng thú học tập cho học sinh đã được nhiều
giáo viên áp dụng. Như phương pháp Dạy học vấn đáp, đàm thoại; phương pháp
dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề
sức, được mở rộng và được ôn tập lại những kiến thức đã học hàng ngày. Từ đó,
giáo viên cũng có dịp được kiểm tra kiến thức của học sinh một cách tự nhiên,
không phải gò ép, nặng nề. Như vậy, điều đó hoàn toàn không phải là những trò
chơi tốn thời gian vô ích mà ngược lại, sân chơi đó tạo điều kiện để học sinh tham
gia tích cực vào các hoạt động học tập rèn luyện như tổ chức những trò chơi ghi
điểm, phân loại thắng thua trong các tổ, nhóm học sinh, tạo không khí thi đua lành
mạnh, tạo lập thói quen và kỹ năng sử dụng ngoại ngữ với sự hỗ trợ tích cực của ý
thức, tránh tình trạng rèn luyện máy móc, xa thực tế.
Trên thực tế, tôi đã từng áp dụng những trò chơi vào khá nhiều các tiết học trên
lớp cũng như ngoại khoá và kết qủa cũng đã đạt được những thành công như ý
muốn. Học sinh không những tiếp thu kiến thức một cách rất nhẹ nhàng, phấn khởi,
hiệu qủa mà còn rất “nghiện” bộ môn tưởng chừng như rất khó và khô cứng này.
Chương II
Thực trạng và một số giải pháp
I- Vài nét về thực trạng
1. Về phía học sinh
Tiếng Anh đã trở thành một môn học trọng tâm như các môn văn hóa khác
nhưng vẫn là môn học khó, không phải bất cứ học sinh nào cũng có năng khiếu để
tiếp thu nó một cách dễ dàng. Đặc biệt là những học sinh ở vùng nông thôn, miền
níu, vùng sâu tỷ lệ học sinh học yếu Tiếng Anh là rất cao.
Trong những năm qua, theo chương trình và sách giáo khoa mới, phương pháp
mới trong dạy và học, nhiều học sinh rất yêu thích môn học, năng động trong mọi
hoạt động nhng chủ yếu là học sinh khá và giỏi. Đối tượng học sinh yếu còn nhiều,
các em cha nắm chắc kiến thức, cha có phương pháp học tập phù hợp, học tập một
cách thụ động, chờ đợi kết quả của bạn mình đa ra, nhiều em rất ngại thực hành nói
trên lớp, sợ nói ra sẽ bị sai, một số em cha đọc thông viết thạo, thậm chí không ghi
chép bài ở trên lớp, không làm bài tập ở nhà, …. Thực tế này cho thấy đối tượng
học sinh này cha yêu thích môn học.
Một số học sinh, đặc biệt là học sinh yếu kém, thiếu ý thức học tập, thiếu tính
kiên nhẫn trong học tập, chưa theo kịp với phương pháp học tập mới, còn lúng túng
chơi mới cho học sinh của họ, chơi mãi những trò cũ cũng nhàm chán. Nhiều giáo
viên lại nói họ không quản lý được các trò chơi cho học sinh vì nó gây tiếng ồn…
Việc thay đổi quan niệm và thói quen dạy – học, khắc phục tâm lý ngại vận
dụng phương pháp mới là việc không đơn giản.
Qua trao đổi, thăm dò từ các đồng nghiệp, tôi thu được kết quả như sau:
Số giáo viên
được điều tra
Mức độ sử dụng trò chơi ngôn ngữ trong giờ học
Không bao giờ Rất ít Thỉnh thoảng Thờng xuyên
SL % SL % SL % SL %
10 2 20 3 30 4 40 1 10
Nguyên nhân của thực trạng trên
- Học sinh:
Nguyên nhân chủ quan: Lời học, ngại học, nhận thức kém, nhút nhát, thiếu tự
tin, mặc cảm, chưa có phương pháp học tập tốt, không có môi trường giao tiếp
Nguyên nhân khách quan: do phương pháp dạy của giáo viên, do bị giáo viên
khiển trách, giáo viên cha quan tâm hết các đối tượng học sinh, do gia đình, tâm lý
lứa tuổi
- Giáo viên:
Nguyên nhân chủ quan:
+ Tâm lý ngại đổi mới, nhất là với một số giáo viên lớn tuổi.
+ Quan niệm cha đúng về phương pháp mới, trong đó có việc áp dụng trò
chơi ngôn ngữ.
+ Năng khiếu hạn chế.
+ áp dụng phương pháp mới rập khuôn, máy móc.
+ Ngại sáng tạo, thiếu linh động.
+ Chưa nhiệt tình, chưa tâm huyết với nghề.
II. Một số giải pháp cụ thể gây hứng thú học tiếng anh cho học sinh bằng