luận văn quản trị nhân lực HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM CỦA CHỦ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY BẢO VIỆT PHÚ THỌ - Pdf 28

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 1.2. Biểu phí thuần của bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối
với người lao động theo giới hạn trách nhiệm tại công ty bảo hiểm Bảo
Việt Phú Thọ từ năm 1995 đến nay Error: Reference source not found
Bảng 1.3. Biểu phí thuần của bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối
với người lao động theo giới hạn chi phí y tế tại công ty bảo hiểm Bảo
Việt Phú Thọ từ năm 1995 đến nay Error: Reference source not found
Bảng 1.4. Biểu phí thuần của bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối
với người lao động theo thời gian sử dụng lao động tại công ty bảo hiểm
Bảo Việt Phú Thọ từ năm 1995 đến nay Error: Reference source not
found
Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy của công ty bảo hiểm Bảo Việt Phú Thọ giai đoạn
2005-2009 Error: Reference source not found
Bảng 2.1. Kết quả doanh thu theo từng nghiệp vụ giai tại công ty bảo hiểm Bảo Việt
Phú Thọ giai đoạn 2005-2009 Error: Reference source not found
Bảng 2.2. Số liệu chi bồi thường của công ty bảo hiểm Bảo Việt Phú Thọ giai đoạn
2005-2009 Error: Reference source not found
Sơ đồ 2: Quy trình khai thác nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử dụng lao
động đối với người lao động tại công ty bảo hiểm Bảo Việt Phú Thọ giai
đoạn 2005-2009 Error: Reference source not found
Bảng 2.3. Kết quả hoạt động khai thác nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử
dụng lao động đối với người lao động tại công ty bảo hiểm Bảo Việt Phú
Thọ giai đoạn 2005 – 2009 Error: Reference source not found
Bảng 2.4. Tình hình chi đề phòng và hạn chế tổn thất của nghiệp vụ bảo hiểm trách
nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với người lao động tại công ty bảo
hiểm Bảo Việt Phú Thọ giai đoạn 2005-2009 Error: Reference source not
found

Sự phát triển của nền sản xuất kéo theo nó là rất nhiều những rủi ro có thể
xảy ra với người lao động. Tuỳ vào mức độ nặng nhẹ của rủi ro làm cho người lao
động có thể phải ngừng làm việc và thời gian nghỉ việc có thể dài hay ngắn. Hậu
quả sẽ ảnh hưởng tới quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Không những
vậy, trong những trường hợp này, theo luật định, chủ sử dụng lao động cũng phải có
trách nhiệm bồi thường cho người lao động. Bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử dụng
lao động đối với người lao động ra đời nhằm chia sẻ gánh nặng này cho các chủ sử
dụng lao động qua đó góp phần đảm bảo cuộc sống cho người lao động.
Ở Việt Nam hiện nay, nghiệp vụ Bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử dụng lao
động đối với người lao động mới chỉ được áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Còn đối với các doanh nghiệp trong nước thì loại hình bảo hiểm
này là hoàn toàn tự nguyện, do họ đã tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó có chế độ
trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Trên thực tế, những tổn thất mà người
lao động và gia đình họ phải gánh chịu khi người lao động bị tai nạn do lao động
hoặc mắc bệnh nghề nghiệp thường lớn hơn nhiều so với khoản trợ cấp nhận được
từ nhà nước. Trong trường hợp này, người lao động sẽ bị thiệt thòi nếu không có sự
đền bù thích đáng từ phía doanh nghiệp. Do đó, nghiệp vụ Bảo hiểm trách nhiệm
của chủ sử dụng đối với người lao động cần phải được triển khai rộng rãi và hiệu
quả hơn nữa.
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về loại hình bảo hiểm còn khá mới mẻ cả
về lý luận lẫn thực tiễn, sau một thời gian thực tập tại Công ty bảo hiểm Bảo Việt
Phú Thọ, em đã lựa chọn đề tài : “ Thực trạng triển khai nghiệp vụ Bảo hiểm
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với người lao động tại Công ty bảo
hiểm Bảo Việt Phú Thọ giai đoạn 2005-2009 ” để nghiên cứu nhằm phân tích
những khó khăn mà nước ta gặp phải trong quá trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm
trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với người lao động, qua đó, đưa ra một
số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện nghiệp vụ bảo hiểm này.

1. Sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm trách nhiệm.
Trong cuộc sống, bất kỳ một cá nhân hay tổ chức nào cũng phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật cho từng hành vi ứng xử của mình, mà cụ thể hơn là khi một
người, hay một vật gây thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm về thiệt
hại do mình gây ra. Tuỳ theo mức độ lỗi và thiệt hại thực tế mà thiệt hại trách
nhiệm phát sinh có thể là rất lớn hoặc không đáng kể, không ai có thể lường trước
được. Theo Luật dân sự của một số quốc gia, các cá nhân, doanh nghiệp, chủ
phương tiện,… có trách nhiệm phải bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi
của họ gây ra. Nhưng đôi khi, thiệt hại là quá lớn, thậm chí vượt qua cả khả năng
bồi thường của những đối tượng này. Trong trường hợp đó, sự ổn định tài chính của
cá nhân hay tổ chức có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Bảo hiểm trách nhiệm ra đời một mặt góp phần ổn định tài chính cho các cá
nhân, tổ chức khi phát sinh trách nhiệm với người khác, mặt khác còn đảm bảo an
toàn xã hội, đảm bảo quyền lợi cho mọi người dân trong xã hội. Bên cạnh đó, Bảo
hiểm trách nhiệm ra đời cũng phần nào nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp, chủ phương tiện,…
Kinh tế ngày càng phát triển kéo theo đó là hàng loạt những ngành nghề mới
ra đời với quy mô lớn hơn, chất lượng tốt hơn, phục vụ khách hàng chu đáo hơn
nhưng những rủi ro mà nó mang lại cũng nhiều hơn với mức độ thiệt hại lớn hơn rất
nhiều. Từ đó, các hình thức trách nhiệm phát sinh cũng ngày càng đa dạng. Gắn với
sự đa dạng của các hình thức trách nhiệm phát sinh mà rất nhiều loại hình bảo hiểm
trách nhiệm đã ra đời. Vì thế, sự ra đời của bảo hiểm trách nhiệm không phải là một
thời điểm duy nhất mà từng loại hình của nó sẽ ra đời gắn liền với những dấu mốc
lịch sử của từng ngành nghề liên quan.
Hình thức bảo hiểm trách nhiệm công cộng là một trong những loại hình bảo
hiểm trách nhiệm ra đời sớm nhất. Tại Anh, ngay sau khi ban hành Luật trách
nhiệm chủ lao động năm 1880, bảo hiểm trách nhiệm công cộng đã được áp dụng
đối với các rủi ro thương mại. Đạo luật này còn là cơ sở cho nhiều loại hình bảo
hiểm trách nhiệm khác liên quan đến trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong hoạt
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48

bảo hiểm hàng không gắn liền với sự phát triển của ngành hàng không dân dụng.
Vào năm 1905, anh em nhà Wight đã thực hiện thành công chuyến bay bằng máy
bay có động cơ điều khiển tại Kitty Hawk ( Mỹ ), thì không lâu sau, đến năm 1910,
đơn bảo hiểm hàng không đầu tiên được ban hành. Với ưu điểm là vận chuyển
nhanh và thuận tiện, ngành hàng không dân dụng đã nhanh chóng phát triển. Tuy
nhiên, những tai nạn may bay xảy ra với mức độ tổn thất nghiêm trọng cũng khiến
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cho các hãng hàng không đứng trước những khó khăn lớn về tài chính. Theo thông
kê của công ty Skandia Intl., đối với máy bay phản lực từ năm 1980 đến năm 1989
số hành khách chết do tai nạn hàng không trung bình 911,6 người và từ năm 1990
đến năm 1998 là 835,5 người. Tổn thất về trách nhiệm bồi thường cho hành khách
của các hãng hàng không vào khoảng 54 triệu USD năm 1980 và đến năm 1998 là
646 triệu USD. Các số liệu trên cho thấy các tổn thất xảy ra trong ngành hàng
không thường rất lớn, thậm chí còn mang tính thảm họa. Vì thế, người ta đã nghĩ tới
việc xây dựng một hệ thống các quy tắc thống nhất cho việc vận chuyển hàng
không quốc tế. Kết quả là vào năm 1929, hệ thống công ước Warsaw ra đời bao
gồm các điều ước quốc tế bổ sung cho nhau trên cơ sở cái sau bổ sung cái trước. Hệ
thống công ước Warsaw đưa ra quy tắc, quy định thống nhất mang tính chất quốc tế
về quyền hạn và trách nhiệm của các bên trong việc khai thác vận chuyển hành
khách, hành lý và hàng hóa bằng đường không. Có thể nói, năm 1929 là năm đánh
dấu sự ra đời của loại hình bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của nhà vận chuyển trong
ngành hàng không dân dụng. Sau này, một loạt các công ước, nghị định và thỏa ước
mới ra đời nhằm bổ sung và sửa đổi các quy định trước đó để phù hợp với từng
vùng lãnh thổ. Theo nhịp phát triển của ngành hàng không dân dụng, hiện nay, loại
hình bảo hiểm này đang ngày một hoàn thiện và phát triển hơn.
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thế giới, bảo hiểm trách nhiệm đang
ngày càng được triển khai rộng rãi với rất nhiều loại hình mới phù hợp hơ với đặc
điểm kinh tế xã hội của từng quốc gia.

môi trường gây thiệt hại cho các cá nhân và tổ chức khác trong xã hội;
- Chịu trách nhiệm trước người lao động về việc giải quyết việc làm, trả
thù lao lao động và tình hình tai nạn rủi ro phát sinh bệnh nghề nghiệp liên quan đến
người lao động;
- Chịu trách nhiệm trước nhà nước, pháp luật về một loạt các vấn đề
khác có liên quan.
Trong những trách nhiệm nêu trên thì trách nhiệm đối với người lao động là
lớn nhất và phức tạp nhất, bởi vì nó trực tiếp liên quan tới cuộc sống của người lao
động và gia đình họ, liên quan đến công ăn việc làm, đến tai nạn rủi ro và bệnh
nghề nghiệp có thể xảy ra với họ. Những trách nhiệm nêu trên đôi khi làm cho chủ
doanh nghiệp không những thiệt hại rất lớn về mặt tài chính mà còn làm sản xuất
kinh doanh bị gián đoạn, dây truyền sản xuất bị ngưng trệ. Do mức độ thiệt hại có
thể là rất lớn nên hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất quy định chủ sử
dụng lao động phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho một loạt các vấn đề có
liên quan, trong đó có trách nhiệm đối với người lao động.
Mặc dù người lao động đã tham gia Bảo hiểm xã hội với chế độ tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp nhưng Bảo hiểm xã hội chỉ chi trả phần nào khi người
lao động bị tai nạn lao động làm mất hoặc giảm thu nhập, khoản trợ cấp này từ Bảo
hiểm xã hội đôi khi là rất nhỏ, đặc biệt là so với mức trách nhiệm lẽ ra phải phát
sinh nếu rủi ro về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp xảy ra do lỗi của chủ sử
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dụng lao động. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người lao động và
gia đình họ nhất là những người lao động mới tham gia bảo hiểm xã hội. Vì thế
trong thực tế, luật pháp thường yêu cầu chủ sử dụng lao động phải bồi thường thêm
cho người lao động về những thiệt hại, tính mạng, sức khỏe của họ do tai nạn lao
động – bệnh nghề nghiệp gây ra xuất phát từ lỗi của chủ sử dụng lao động. Do đó,
để đảm bảo quyền lợi cho người lao động, bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử dụng
lao động với người lao động đã được triển khai ở nhiều nước.

nhiên, trên thực tế cũng có những trường hợp mà tòa án sẽ không căn cứ vào mức
độ lỗi để phán xử mà căn cứ vào khả năng tài chính của doanh nghiệp
- Thường được thực hiện dưới hình thức bắt buộc;
Do bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với người lao động là
một loại hình bảo hiểm có tính xã hội rất cao. Với cùng một rủi ro có thể sẽ có rất
nhiều người bị thiệt hại, điều này có ảnh hưởng vô cùng lớn tới sự ổn định của
người chủ sử dụng lao động, người lao động nói riêng và tới sự ổn định của toàn xã
hội nói chung. Vì thế, nhiều quốc gia trên thế giới đã đua ra quy định bắt buộc
những người chủ doanh nhiệp phải mua bảo hiểm này cho người lao động mà mình
sử dụng.
- Mức bồi thường của công ty bảo hiểm có thể được giới hạn bởi mức trách
nhiệm đã được thỏa thuận trước trong hợp đồng.
Khi các công ty bảo hiểm đề cập tới vấn đề này, đã có hai quan điểm được đưa
ra:
+/ Quan điểm thứ nhất: Phải áp dụng giới hạn trách nhiệm
Khi rủi ro xảy ra, mức độ thiệt hại của người lao động đôi khi là rất lớn, bản
thân các công ty bảo hiểm cũng không lường trước được. Hơn nữa, khi rủi ro xảy ra
liên quan đến sức khỏe tính mạng của con người thì không ai có thể lượng hóa được
bằng tiền mặt một cách chuẩn xác vì tính mạng, sức khỏe và tâm lý của con người
là vô giá. Bên cạnh đó, giới hạn trách nhiệm còn giúp các công ty bảo hiểm ổn định
được tài chính, xác định phí bảo hiểm được chính xác để từ đó mới có kế hoạch lập
dự toán chi tiêu, đảm bảo ổn định kinh doanh. Đặc biệt, giới hạn trách nhiệm còn
góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cá nhân, doanh nghiệp. Vì những
lý do trên cho nên việc giới hạn trách nhiệm trong bảo hiểm trách nhiệm là rất cần
thiết và được hầu hết các công ty bảo hiểm trên thế giới áp dụng.
+/ Quan điểm thứ hai: Không cần áp dụng giới hạn trách nhiệm
Có thể nói, mọi người tham gia bảo hiểm trách nhiệm hầu hết đều với mong
muốn có thể yên tâm khi mình bị phát sinh trách nhiệm dân sự. Nhưng nếu đặt ra
giới hạn trách nhiệm thì sự yên tâm này sẽ không được tuyệt đối, và người tham gia
bảo hiểm sẽ vẫn phải lo lắng cho trường hợp mình bị phát sinh trách nhiệm cao hơn.

- Các xí nghiệp 100% vốn nước ngoài
- Các doanh nghiệp liên doanh
- Các tổ chức, công ty trong nước tuyển chọn lao động Việt Nam để
cung cấp cho các doanh nghiệp nước ngoài
- Các tổ chức nước ngoài đang đóng tại Việt Nam thuộc mọi thành
phần kinh tế có sử dụng 10 lao động trở lên
Sau đó 7 năm, vào năm 1997, đứng trước bối cảnh thu hút đầu tư nước ngoài
để phục hồi nền kinh tế sau cuộc khủng hoảng Châu Á năm 1997, Nhà nước ta đã sửa
đổi quy định trên, thay vì bắt buộc, giờ là khuyến khích tham gia.
Trong nghiệp vụ bảo hiểm này, người được hưởng quyền lợi là những người
lao động gặp sự cố bảo hiểm. Như vậy, người tham gia bảo hiểm và người hưởng
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quyền lợi bảo hiểm là hoàn toàn khác nhau, cần phải giải thích cụ thể khi ký kết hợp
đồng.
2.3.Phạm vi bảo hiểm
Trong quá trình lao động, người lao động có thể gặp phải rất nhiều rủi ro với
mức độ thiệt hại có thể là nhỏ hoặc cũng có thể là rất lớn. Nhưng không phải rủi ro
nào xảy ra cũng thuộc trách nhiệm của chủ sử dụng lao động, vì thế, công ty bảo
biểm cũng không bảo hiểm cho tất cả các rủi ro mà người lao động gặp phải trong
quá trình lao động.
Những rủi ro người lao động có thể gặp phải được chia ra là: Rủi ro được bảo
hiểm và rủi ro loại trừ.
● Rủi ro được bảo hiểm:
Rủi ro được bảo hiểm được chia làm hai nhóm chính sau:
- Thứ nhất là: Tai nạn lao động
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra do tác động của các yếu tố nguy hiểm, độc
hại trong lao động gây tổn thương cho bất kỳ một bộ phận, chức năng nào của cơ
thể người lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

nghề nghiệp tác động đối với người lao động. Bệnh nghề nghiệp là bệnh đặc trưng
của một nghề nào đó, do yếu tố độc hại trong nghề đó thường xuyên, từ từ vào cơ
thể người lao động và gây bệnh.
Đứng từ góc độ nguyên nhân gây bệnh có thể chia bệnh nghề nghiệp thành
những loại sau:
+/ Bệnh do bụi:
Có rất nhiều loại bụi nguy hiểm như: Mạt gỗ, bụi rơm, bụi bông, bụi than,
bụi silic,… gây ra các bệnh về phổi và đường hô hấp như: Bệnh bụi phổi, bệnh hen
xuyễn,… Đặc biệt, người bị nhiễm bụi ximăng có thể dẫn tới tử vong.
+/ Bệnh do hóa chất:
Các hóa chất độc hại có thể gây nên bệnh nghề nghiệp như: Chì và các hợp
chất chì, Benzen và các đồng đẳng của Benzen, Thủy ngân và các hợp chất của thủy
ngân, Mangan và các hợp chất của Mangan,…Các chất hóa học này có thể gây ra
các căn bệnh như: Ung thư, viêm da,…
+/ Bệnh do yếu tố vật lý:
Hiện nay, ở Việt Nam, Bộ Y Tế và Bộ Lao động Thương binh Xã hội cùng
nhau thống nhất ban hành danh mục bênh nghề nghiệp bao gồm 25 bệnh sau khi
tham khảo ý kiến từ Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diện của người lao
động.
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 1.1. Danh mục bệnh nghề nghiệp hiện nay ở Việt Nam
Nhóm I:
Các bệnh bụi phổi và
viên phế quản
1.1. Bệnh bụi phổi-Silic nghề nghiệp
1.2. Bệnh bụi phổi Amiăng
1.3. Bệnh bụi phổi bông
1.4. Bệnh viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp

Các bệnh nhiễm khuẩn
nghề nghiệp
5.1. Bệnh lao nghề nghiệp
5.2. Bệnh viêm gan virut nghề nghiệp
5.3. Bệnh do xoắn khuẩn Leptospira nghề nghiệp
Nguồn: Thông tư liên tịch số 08/1998/TTLT-BYT-BLĐTBXH của liên Bộ y tế
- Lao động, Thương binh & Xã hội và Quyết định số 27/2006/QĐ-BYT của Bộ y tế
Khi nhưng rủi ro này xảy ra, công ty bảo hiểm sẽ chi trả các chi phí y tế
(bao gồm các chi phí nằm viện) theo hạn mức trách nhiệm do chủ sử dụng lao động
lựa chọn; Lương thuần đầy đủ hàng tháng trong thời gian điều trị y tế (theo giới hạn
bảo hiểm mà chủ sử dụng lao động lựa chọn); Trong trường hợp chết hoặc thương
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tật toàn bộ và vĩnh viễn (từ 81% trở lên) sẽ được bồi thường 30 tháng lương (hoặc
nhiều hơn tùy theo lựa chọn của chủ sử dụng lao động); Còn trong trường hợp
thương tật bộ phận và vĩnh viễn thì được bồi thường theo tỷ lệ thương tật quy định.
Phạm vi bảo hiểm trên được xây dựng trên cơ sở pháp lý thuộc Bộ luật Lao
động số 35L/CTN ngày 05/07/1994 của Nhà nước Việt Nam quy định về trách
nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với người lao động trong trường hợp người lao
động bị tai nạn hoặc bị bệnh nghề nghiệp xảy ra trong quá trình lao động sản xuất.
Các doanh nghiệp hiện nay, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
hoạt động tại Việt Nam rất quan tâm tới trách nhiệm pháp lý theo bộ luật này. Đây
là cơ sở thuận lợi để cho các công ty bảo hiểm có thể khai thác và vận động khách
hàng tham gia.
● Rủi ro loại trừ:
Có nhưng rủi ro mà hầu hết các công ty bảo hiểm đều từ chối bảo hiểm. đó là
những rủi ro như:
- Trách nhiệm của người được bảo hiểm theo một thỏa thuận ngoài
trách nhiệm quy định trong Luật Lao động.

- Thương tật của người lao động phát sinh từ đánh lộn, trừ trường hợp
do phải bảo vệ tính mạng của bản thân.
Với phạm vi bảo hiểm như trên, một mặt, công ty bảo hiểm có thể quản lý
được khả năng các rủi ro có thể xảy ra qua đó đưa ra các biện pháp đề phòng, hạn
chế tổn thất và quản trị rủi ro sẽ hiệu quả hơn, mặt khác, việc đưa ra những điểm
loại trừ cũng góp phần nâng cao ý thức của chủ sử dụng lao động cũng như người
lao động.
2.4. Giới hạn trách nhiệm và phí bảo hiểm
2.4.1.Giới hạn trách nhiệm
Không giống như các loại bảo hiểm tài sản có số tiền bảo hiểm được xác định
dựa trên giá trị thực tế của tài sản, hay như bảo hiểm con người có số tiền bảo hiểm
phụ thuộc vào khả năng tài chính và nhu cầu của người được bảo hiểm, bảo hiểm
trách nhiệm dân sự có số tiền bảo hiểm không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu của người
được bảo hiểm mà còn phụ thuộc vào phía công ty bảo hiểm mà cụ thể là công ty
bảo hiểm luôn đặt ra hạn mức trách nhiệm. Với nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm của
chủ sử dụng lao động đối với người lao động cũng vậy, số tiền bảo hiểm chính là
trách nhiệm bồi thường thay cho chủ doanh nghiệp mà công ty bảo hiểm chi trả cho
người lao động khi không may gặp phải tại nạn lao dộng, bệnh nghề nghiệp thuộc
phạm vi bảo hiểm.
Số tiền bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm lựa chọn sẽ là một trong
những cơ sở quan trọng để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện chi trả bồi thường bảo
hiểm. Chẳng hạn khi người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp và
có chi phí y tế phát sinh (bao gồm cả chi phí nằm viện), số tiền mà doanh nghiệp
bảo hiểm trả cho tổn thất về chi phí y tế này sẽ được giới hạn theo số tiền bảo hiểm
mà người tham gia bảo hiểm đã lựa chọn. Theo công văn 2152/PHH – 1995 của
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam ban hành ngày 29/11/1995 thì phần trách nhiệm
của công ty bảo hiểm có sáu mức như sau:

ngành nghề vẫn được quan tâm hơn cả. Bởi vì chính mức độ khác nhau này sẽ ảnh
hưởng rất lớn tới xác suất xảy ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Thông
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thường, các lao động làm việc trong các ngành nghề của nền kinh tế quốc dân được
chia ra làm 4 loại chính:
+/ Loại I: Lao động gián tiếp (không liên quan đến quá trình sản xuất), làm
việc chủ yếu ở văn phòng hoặc các công việc tương tự ít đi lại. Đó là giáo viên,
nhân viên ngân hàng, bác sỹ, nhân viên văn phòng,…
+/ Loại II: Lao động không phải làm việc chủ yếu bằng chân tay nhưng mức
độ rủi ro cao hơn nhóm I hoặc đòi hỏi phải đi lại nhiều, hoặc làm việc chân tay
nhưng không thường xuyên và nhẹ như: Nhân viên siêu thị, cán bộ quản lý công
trường,…
+/ Loại III: Lao động làm việc trong điều kiện khó khăn, hoặc chủ yếu là lao
động chân tay như: thợ may, bác sỹ thú y, kỹ sư cơ khí, người lái ôtô, máy kéo,…
+/ Loại IV: Lao động trong điều kiện nguy hiểm, dễ xảy ra tai nạn như: thợ
xây dựng trên cao, thợ mỏ, thợ lặn, thợ khoan dầu,…
Căn cứ vào 4 nhóm nghề này và số tiền bảo hiểm của từng mức trách nhiệm,
công ty bảo hiểm lập sẵn thành biểu phí thống nhất. Biểu phí này tính bằng số
tương đối hay còn gọi là tỷ lệ phí. Công văn 2152/PHH – 1995 của Tổng công ty
bảo hiểm Việt Nam ban hành ngày 29/11/1995 có quy định rất rõ về tỷ lệ phí trong
từng trường hợp như sau:
Bảng 1.2. Biểu phí thuần của bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử dụng lao động
đối với người lao động theo giới hạn trách nhiệm tại công ty bảo hiểm Bảo Việt
Phú Thọ từ năm 1995 đến nay.
Đơn vị: % trên Giới hạn trách nhiệm
Giới hạn trách
nhiệm (USD)
Nhóm nghề nghiệp

Thời gian sử dụng lao động
( tháng )
Tỷ lệ đóng
( % so với phí cả năm )
1 20
2 30
3 40
4 50
5 60
6 70
Từ 7 tháng trở lên 100
Nguồn: Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam
- Phí thuần :
Phí thuần được tính theo một công thức chung là:
F = S x T x L
Trong đó:
F : Phí thuần
S : Số tiền bảo hiểm
T : Tỷ lệ phí tương ứng
L : Số lao động tham gia bảo hiểm
Trong trường hợp thời hạn sử dụng lao động của các lao động là khác nhau
thì phí thuần sẽ được tính như sau:
F = Fd + Fn
Trong đó:
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Fd : Phí thuần dài hạn
Fn : Phí thuần ngắn hạn
- Phụ phí :

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Giấy thanh toán phí bảo hiểm
- Biên bản xác minh tai nạn
- Y bạ và hồ sơ điều trị bệnh nhân gồm: phiếu thanh toán viện phí, bệnh
án, phiếu theo dõi điều trị nội trú, giấy tờ xác định thu nhập, phiếu thanh toán điều
trị ngoại trú,…
- Biên bản xác nhận của y bác sỹ về thương tật
- Giấy báo tử ( nếu có )
- Giấy chứng nhận quyền thừa kế hợp pháp
Sau khi nhận được những giấy tờ này công ty bảo hiểm xem xét tính hợp lệ
và xác minh vấn đề nghi vấn, nếu không có gì vướng mắc sẽ thanh toán bồi thường.
Nếu có tranh chấp thì chủ sử dụng lao động phải thông báo cho công ty bảo hiểm
xem xét giải quyết. Sau khi lập đủ các chứng từ cần thiết, công ty bảo hiểm sẽ tiến
hành các thủ tục xét trả tiền bồi thường. Theo điều 107 Luật lao động Việt Nam thì
chủ sử dụng lao động phải có trách nhiệm trước hết về toàn bộ chi phí cấp cứu, viện
phí. Số tiền bồi thường được xác định theo từng trường hợp như sau:
- Trường hợp chết hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn ( từ 81% trở lên):
Trong trường hợp không có lỗi của người lao động, bồi thường ít nhất là 30
tháng lương nhưng không vượt quá số tiền bảo hiểm mà người sử dụng lao động đã
chọn. Còn trong trường hợp do lỗi của người lao động thì công ty bảo hiểm bồi
thường ít nhất là 12 tháng lương nhưng không vượt quá 50% số tiền bảo hiểm mà
người chủ sử dụng lao động đã chọn
Ví dụ: Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm cho 1 công nhân B với
mức trách nhiệm theo mục này là 5000 USD ( mức lương của công nhân B là 100
USD/ tháng ). Khi công nhân B bị chết do tai nạn lao động, Chủ sử dụng lao động
sẽ bồi thường cho thân nhân của công nhân B là 30 tháng lương ( 3000 USD ) , vì
thế, mặc dù giới hạn trách nhiệm là 5000 USD nhưng công ty cũng chỉ trả cho chủ
sử dụng lao động 3000 USD. Nhưng nếu chủ sử dụng lao động bồi thương đủ 5000
USD thì công ty bảo hiểm cũng phải bồi thường cho chủ sử dụng lao động là 5000
USD.

lao động toàn bộ chi phí nói trên là 1500 USD.
- Tiền lương theo ngày điều trị:
Quyền lợi bảo hiểm này hoàn toàn độc lập với số tiền bảo hiểm trường hợp
chết, thương tật vĩnh viễn và chi phí y tế. Trong trường hợp người lao động gặp sự
cố thuộc trách nhiệm bảo hiểm phải nghỉ việc để điều trị (bao gồm cả điều trị nội
trú), công ty bảo hiểm sẽ bồi thường trên cơ sở 100% mức lương thuần thực tế hàng
tháng của người lao động tại thời điểm xảy ra sự cố. Giới hạn thời gian bồi thường
tối đa phụ thuộc vào thời gian chủ sử dụng lao động đã lựa chọn khi tham gia bảo
hiểm. Số tiền bồi thường cho 1 ngày (bao gồm cả thứ bảy, chủ nhật và ngày lễ) sẽ
được tính như sau:
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lương thuần hàng tháng (trừ tiền làm thêm, thưởng và bồi dưỡng)
Lương 1 ngày =
30 ngày
Ví dụ: Đơn vị tham gia bảo hiểm bồi thường cho người lao động C, mức
lương 150 USD/tháng, giới hạn trách nhiệm 6 tháng lương. Trong thời gian bảo
hiểm, công nhân C bị tai nạn lao động phải nghỉ việc để điều trị thời gian 45 ngày.
Số tiền bồi thường cho chủ sử dụng lao động trong trường hợp này được tính như
sau:
STBT = 45 ngày x 150 USD/tháng : 30 ngày = 225 USD
Chú ý: trường hợp này nếu công nhân C phải nghỉ việc để điều trị 7 tháng,
chúng ta chỉ thanh toán tiền lương trong thời gian điều trị tối đa là 6 tháng theo giới
hạn chủ sử dụng lao động đã lựa chọn tham gia.
2.6. Hợp đồng bảo hiểm
*/ Khái niệm và đặc điểm:
Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp
bảo hiểm, theo đó, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo
hiểm phái trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được

người lao động bị thiệt hại và yêu cầu người chủ sử dụng lao động bồi thường.
- Hợp đồng bảo hiểm này chỉ giới hạn trong phạm vi trách nhiệm bồi
thường về mặt kinh tế, không chịu các trách nhiệm khác của người chủ sử dụng lao
động trước pháp luật như: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự,…
- Hợp đồng bảo hiểm này không thể quy định về số tiền bảo hiểm, mà
chỉ quy định về hạn mức trách nhiệm bồi thường tối đa của công ty bảo hiểm.
*/ Nội dung của hợp đồng:
Nội dung của một hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm của chủ sử dụng lao động
đối với người lao động bao gồm:
- Tên và địa chỉ của doanh nghiệp tham gia bảo hiểm
- Ngành nghề hoạt động
- Giới hạn trách nhiệm cho một người lao động
- Phạm vi bảo hiểm
- Rủi ro loại trừ
- Phí bảo hiểm
- Thời hạn bảo hiểm
- Ngày ký kết hợp đồng
- Chữ ký của các bên
SV: Bùi Phương Thảo Lớp: Kinh tế Bảo hiểm 48
22

Trích đoạn Công tác giám định bồi thường TIỀM NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM CỦA CHỦ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI PHÚ Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Về công tác đào tạo cán bộ Kiến nghị với các cơ quan hữu quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status