Khóa luận tốt nghiệp
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công nghiệp hóa ở nước ta đã được nêu ra từ lâu, đó là quá trình tự
nhiên và không thể lẩn tránh trên con đường phát triển của Việt Nam cũng
như của các nước khác trên thế giới. Tại Đại hội III của Đảng (9 -1960) đã
nhấn mạnh: muốn cải tiến tình trạng kinh tế lạc hậu của nước ta, không có
con đường nào khác, ngoài con đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
Tức là nêu lên tính tất yếu của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Quan
điểm đúng đắn này được khẳng định nhiều lần trong các đại hội tiếp theo.
Từ đó đến nay quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam đã trải qua nhiều
giai đoạn với những bước thăng trầm khác nhau.
Trước đổi mới chúng ta tiến hành công nghiệp hóa trong điều kiện đất
nước gặp nhiều khó khăn. Lại theo mô hình kinh tế khép kín, hướng nội và
thiên về phát triển công nghiệp nặng nên còn nhiều hạn chế và kết quả chưa
cao.Tuy vậy đây là giai đoạn tạo cơ sở ban đầu để nước ta phát triển nhanh
hơn trong chặng đường tiếp theo.
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) với tinh thần
“nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”[19; 126] đã
nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công
nghiệp hóa của thời kỳ trước đó và mở đầu cho quá trình đổi mới về tư duy
công nghiệp hóa. Với những bước đi thận trọng, thích hợp và cần thiết
công nghiệp hóa ở nước ta đã đưa lại những kết quả tốt đẹp làm thay đổi
mọi mặt nền kinh tế xã hội của đất nước.
Tuy nhiên khi tổ chức thực hiện, vẫn thiếu một cái nhìn bao quát về
các khía cạnh liên quan đến nhau trong đường lối công nghiệp hóa. Mặc dù
trong chủ trương có nêu, các điều kiện tiền đề của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nước ta còn chưa hội đủ. Vì vậy phải vừa tiến hành công nghiệp
hóa, vừa tiếp tục tạo các tiền đề cần thiết tương ứng với từng giai đoạn phát
triển, song trong thực tế không có biện pháp cụ thể. Những mối quan hệ
giữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa, giữa kinh tế và công nghệ, giữa kinh
nghiệp trong giai đoạn 2001 – 2005” – Tạp chí kinh tế xã hội số 37/2001;
“Phương hướng phát triển các ngành công nghiệp đến năm 2010” – Tạp
chí kinh tế xã hội số 34/1999. “Phát huy lợi thế của công nghiệp, thương
Văn Tiến Ngọc
2
Khóa luận tốt nghiệp
mại quốc tế và hướng đầu tư ở Việt Nam” – Tạp chí kinh tế và phát triển số
50/2001 – Tạp chí kinh tế và phát triển số 50/2001.
Nội dung công nghiệp hóa được các nhà nghiên cứu đề cập dưới nhiều
góc độ khác nhau nhưng chung quy lại đều xoay quanh phản ánh, đánh giá
thực trạng nêu lên các điều kiện, tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa và
từ đó đưa ra các giải pháp, phương hướng, mô hình cũng như chiến lược
cho quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam. Những nghiên cứu này có đóng
góp hết sức quan trọng cho việc hoạch định đường lối cũng như chính sách
phát triển công nghiệp của Đảng và Chính phủ trong giai đoạn tới.
Khóa luận này là sự kế thừa có chọn lọc những thành tựu của những
người đi trước nhưng với cánh khai thác và đặt vấn đề mới chỉ mong được
góp phần nhỏ trong nghiên cứu khoa học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát thực trạng công nghiệp hóa ở nước ta đặc biệt từ 1986 đến
nay, làm rõ đường lối công nghiệp hóa của Đảng qua từng giai đoạn cụ thể.
Trên cơ sở đó để đánh giá đường lối công nghiệp hóa và đề xuất những giải
pháp cơ bản nhằm hoàn thiện đường lối công nghiệp hóa của Việt Nam
trong giai đoạn tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận chỉ giới hạn ở việc
nghiên cứu đường lối và một số chính sách công nghiệp Việt Nam của
Đảng chủ yếu từ năm 1986 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Quán triệt phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng
1.1. Những vấn đề lý luận
1.1.1. Khái niệm công nghiệp hoá
1.1.2. Công nghiệp hóa là xu hướng mang tính quy luật của các
nước đi từ sản xuất nhỏ đến sản xuất lớn
Công nghiệp hóa chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở
vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất hiện đại. Xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại cũng là một quy luật chung, phổ biến
đối với tất cả các nước, tuy nhiên tùy từng nước khác nhau, do điểm xuất
phát khác nhau, mục tiêu phát triển không giống nhau nên cách thức tiến
hành xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại cũng
không giống nhau. Đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển như
nước ta hiện nay (sản xuất nhỏ, kinh tế thủ công là chủ yếu…) thì công
nghiệp hóa là quá trình mang tính quy luật, tất yếu để tồn tại và phát triển
nhằm tạo ra tiền đề vật chất cần thiết cho nền sản xuất hiện đại.
1.1.3. Công nghiệp hóa trên thế giới và việc lựa chọn mô hình công
nghiệp hóa ở Việt Nam hiện nay
1.1.3.1. Công nghiệp hóa trên thế giới
Trước đây, giai cấp tư sản là những người đầu tiên tiến hành công
nghiệp hóa. Quá trình này được mở đầu bằng một cuộc cách mạng công
nghiệp ở nước Anh vào 30 năm cuối thế kỷ XVIII và 25 năm đầu thế kỷ
XIX, sau đó lan sang các nước khác trong suốt thế kỷ XIX dần dần trở
thành mô hình công nghiệp hóa.
Đến nay, công nghiệp hóa đã được thực hiện dưới nhiều hình thức và
mô hình khác nhau, nhưng nhìn chung có thể chia thành hai loại hình lớn:
loại hình thứ nhất là công nghiệp hóa kiểu truyền thống bao gồm công
nghiệp hoá cổ điển diễn ra ở các nước phương Tây và công nghiệp hóa dựa
trên cơ chế kế hoạch hóa tập trung của các nước xã hội chủ nghĩa thế kỷ
Văn Tiến Ngọc
5
Khóa luận tốt nghiệp
6
Khóa luận tốt nghiệp
* quan điểm
Bước vào thời kỳ đổi mới, trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện
trong nước và quốc tế, Đảng ta đã nêu ra các quan điểm mới chỉ đạo quá
trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện mới.
Những quan điểm này được hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung
ương khóa VII nêu ra với 6 quan điểm và được phát triển, bổ sung qua các
Đại hội VIII, IX, X của Đảng. Dưới đây khái quát lại những quan điểm cơ
bản của Đảng về công nghiệp hóa trong thời kỳ mới.
Một là, công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện
đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Hai là, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Ba là, lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát
triển nhanh và bền vững.
Bốn là, khoa học công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa.
Năm là, phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi
đôi với với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự
nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học.
1.2. Thực trạng công nghiệp hoá ở nước ta
1.2.1. Thời kỳ trước đổi mới
Đường lối công nghiệp hóa của Đảng thời kỳ này được đề ra ở Đại
hội III sau đó được bổ sung ở hội nghị Trung ương 7 (khóa III) tập trung
vào các nhiệm vụ. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý;
kết hợp phát triển công nghiệp với nông nghiệp; ra sức phát triển công
nghiệp nhẹ song song với việc ưu tiên phát triển công nghiệp nặng; Ra sức
phát triển công nghiệp trung ương đồng thời phát triển công nghiệp địa
phương. Với các biến động khách quan của lịch sử đường lối công nghiệp
hóa đã có một số điều chỉnh ở các kỳ Đại hội tiếp theo nhưng không mang
Văn Tiến Ngọc
8
Khóa luận tốt nghiệp
Chương 2
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN
HOÀN THIỆN ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Bối cảnh mới và sự tác động tới đường lối công nghiệp hoá
2.1.1. Các nhân tố bên ngoài
2.1.1.1. Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá
Toàn cầu hoá và khu vực hóa là xu thế khách quan ngày càng tác động
mạnh, thậm chí chi phối sự phát triển kinh tế của nhà nước. Xu thế này
được thể hiện rõ thông qua việc quốc tế hoá thương mại, vốn và sản xuất.
2.1.1.2. Tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên
thế giới
Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, cách mạng khoa học công nghệ có
những bước nhảy vọt khó lường. Trong những điều kiện đó, việc phát triển
kinh tế – xã hội của đất nước cần phải được triển khai theo tư duy mới, phù
hợp với giai đoạn mới.
2.1.1.3. Những biến đổi môi trường và yêu cầu phát triển bền vững
toàn cầu
Môi trường đã và đang ngày càng biến đổi theo chiều hướng tiêu cực,
đòi hỏi các quốc gia trong đó có Việt Nam không thể chỉ đẩy mạnh tăng
trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp mà không tính đến các yêu cầu bảo
vệ môi trường. Nói một cách khác, hiện nay chiến lược phát triển kinh tế
nói chung và đường lối phát triển công nghiệp hóa nói riêng cần phải chú
trọng đến phát triển bền vững hơn nữa.
2.1.2. Các nhân tố trong nước
Hiện nay, quá trình phát triển nền kinh tế của Việt Nam vẫn thể hiện
hai đặc trưng cơ bản là “chuyển đổi” và “đang phát triển”, tuy nhiên quá
chỉnh phù hợp trong giai đoạn mới nhằm đạt được các mục tiêu về kinh tế -
xã hội. Và để làm được điều này thì sự đổi mới các chính sách công nghiệp
là một việc làm tiên quyết, không thể thiếu.
Văn Tiến Ngọc
10
Khóa luận tốt nghiệp
C. KẾT LUẬN
Đường lối phát triển công nghiệp giữ vị trí trọng yếu trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội vì công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu
kinh tế. Nó xác định tầm nhìn của một quá trình phát triển dài hạn với sự
nhất quán về con đường và các giải pháp cơ bản để thực hiện. Xác định cơ
cấu công nghiệp theo lãnh thổ và lựa chọn địa điểm phân bố sản xuất là
một nhiệm vụ chiến lược có tác động trực tiếp lâu dài đến sự phát triển
công nghiệp của mỗi vùng và mỗi doanh nghiệp. Với định hướng phát triển
vùng kinh tế khác nhau thì định hướng phát triển công nghiệp của mỗi
vùng lãnh thổ cũng khác nhau.
Một đường lối phát triển công nghiệp có hiệu quả phải đạt được sự duy
trì và phát triển vị thế cạnh tranh của ngành công nghiệp. Áp lực toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế dần xóa bỏ những bảo hộ và các hàng rào trở ngại
về thương mại và đầu tư, buộc các ngành công nghiệp phải lựa chọn con
đường duy nhất để tồn tại và phát triển bền vững là tạo nên vị thế cạnh tranh.
Đảng ta xác định chiến lược của 10 năm đầu thế kỷ XXI là đẩy mạnh
CNH, HĐH, tạo nền tảng hình thành một nước công nghiệp hiện đại. Bên
cạnh đó, Đảng cũng xác định những nội dung cơ bản nhằm đổi mới công
tác kế hoạch hoá, nâng cao chất lượng công tác xây dựng đường lối và quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các ngành và các vùng lãnh thổ, đặc biệt
là các vùng kinh tế trọng điểm.
Để đường lối phát triển công nghiệp thực hiện có hiệu quả thì phải có
hệ thống chính sách công nghiệp đồng bộ và phù hợp. Chính sách công
nghiệp chính là công cụ của Chính phủ nhằm đạt được mục tiêu phát triển
và thực hiện các chính sách kinh tế nhất là đối với chính sách công nghiệp.
Điều này đòi hỏi phải không ngừng hoàn thiện đường lối công nghiệp, coi
đó là một trong những nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Để thực
hiện nhiệm vụ đó, Đảng và Nhà nước cần tập trung xác định được một số
ngành công nghiệp trọng điểm, có vai trò to lớn và tác động lâu dài đối với
sự tăng trưởng, phát triển kinh tế trong tương lai nhằm tăng hiệu quả đầu
tư, tăng khả năng cạnh tranh để Việt Nam có thể có được một số ngành
công nghiệp giữ vị trí quan trọng trong nền công nghiệp thế giới. Bên cạnh
đó, Nhà nước cũng cần đề ra và thực hiện một cách đồng bộ các chính sách
hỗ trợ và hệ thống pháp lý để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp công
nghiệp hoạt động và phát triển.
Văn Tiến Ngọc
12