Tiểu luận giáo dục so sánh So sánh 3 chỉ số tỷ lệ biết chữ ở người lớn tỷ lệ đi học đại học tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục năm 2013 giữa Việt Nam với Singapore - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
GIÁO DỤC SO SÁNH
Gi ng viên ph trách: ả ụ PGS.TS. Nguy n Ti n tễ ế Đạ
Học viên: Nguyễn Hữu Hiệp
Cao học Quản lý giáo dục QH-2013-S1
HÀ NỘI – 2014
Hạn nộp bài theo qui định: ngày 9 tháng 5 năm 2014
Thời gian nộp bài: ngày 9 tháng 5 năm 2014
Nhận xét của giảng viên chấm bài:
Điểm: Giảng viên (kí tên):
3
Đề bài:
So sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học đại học, tỷ lệ
người thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm 2013 giữa Việt Nam với

Việt Nam với Singapore…………………………………………………… 25
5
2.2. Nhận xét…………………………………………………………………
27
CHƯƠNG 3. NHỮNG NHẬN XÉT VỀ ƯU NHƯỢC ĐIỂM VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG PHẤN ĐẦU CỦA VIỆT NAM………………… …31
3.1. Những thành tựu đã đạt được của giáo dục Việt Nam trong những
năm qua…………………………………………………………………… 31
3.2. Nguyên nhân của những thành tựu đã đạt được…………………34
3.3. Những bất cập và yếu kém của giáo dục Việt Nam…………… 34
3.4. Nguyên nhân của những bất cập, yếu kém………………………36
3.5. Những phương hướng phấn đấu đối của giáo dục Việt Nam……37
KẾT LUẬN………………………………………………………………….39
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………… 40
6
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT NGHĨA CỦA CHỮ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
ĐH-CĐ Đại học-Cao đẳng
GD-ĐT Giáo dục-Đào tạo
KH-CN Khoa học-Công nghệ
7
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Các bảng,
biểu đồ
Nội dung bảng Trang
Sơ đồ 1.1 Hệ thống giáo dục Việt Nam 14
Sơ đồ 1.2 Hệ thống giáo dục Singapore 24
Bảng 2.1
Bảng số liệu so sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người
lớn, tỷ lệ đi học đại học, tỷ lệ người thoả mãn với


hiệu quả của nó đối
với xã hội. Đặc biệt khi nghiên cứu, chú ý nhiều tới các chính
sách

hoạch định cộng đồng của một nền giáo
dục.
Phát triển Giáo dục so sánh là một đòi hỏi cấp bách đối với giáo dục
Việt Nam. Việc nghiên cứu so sánh sẽ làm cho những nghiên cứu về giáo
dục trong nước không bị bó hẹp trong cái nhìn có tính chất địa phương mà có
nhãn quan rộng hơn, từ đó việc nhìn nhận và đánh giá các hiện tượng giáo
dục, kể cả thành tựu và những khiếm khuyết của nó sẽ có tầm hơn và do đó
mà cũng chính xác hơn.
Bên cạnh đó, thế giới luôn luôn vận động, biến đổi theo quy luật khách
quan vốn có của nó. Do vậy để tồn tại và phát triển thì đòi hỏi mỗi quốc gia,
dân tộc, hay bất cứ một tổ chức đơn vị nào cũng phải biết vị trí của mình
trong mối tương quan với các quốc gia, dân tộc hay đơn vị khác, đánh giá
được thực trạng của đơn vị mình từ đó nhằm định hướng xu thế phát triển cho
phù hợp với xu thế phát triển chung. Để làm được việc đó, nhất định phải có
so sánh, đối chiếu. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay thế giới đang bước vào
xu thế toàn cầu hóa - vấn đề mở cửa và hội nhập và thách thức dường như
không còn là vấn đề riêng của một quốc gia dân tộc nào, thiết nghĩ để phát
triển đất nước xứng tầm với vị thế của Việt Nam trên trường Quốc tế rất cần
đến sự phát triển giáo dục. Việt Nam sẽ đặt mình vào hệ thống chung của giáo
9
dục toàn cầu, đánh giá theo những chuẩn mực phổ biến chứ không phải những
tiêu chí có tính chất biệt lập.
Mặt khác, chúng ta cần so sánh giáo dục để nghiên cứu, phân tích và so
sánh các hoạt động giáo dục trên thế giới hiện nay, nêu ra các xu hướng chủ
yếu trong giáo dục và xác định các con đường tiếp tục phát triển.

- Nghiên cứu, so sánh 3 chỉ số: tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học
đại học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục.
10
- Phạm vi nghiên cứu: Với xu hướng thu hẹp phạm vi của so sánh giáo
dục chuyển từ quốc tế sang quốc nội, giải quyết những hạn chế vướng mắc
của nền giáo dục Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng lý luận về giáo dục so sánh, quản lý giáo dục trên lĩnh
vực GD-ĐT và sử dụng phương pháp thống kê chọn mẫu, phương pháp phân
tích đánh giá trên biểu đồ, phương pháp so sánh tổng hợp.
Tiểu luận đã sử dụng các số liệu đã được thầy giáo Nguyễn Tiến Đạt
cung cấp, gồm:
Bảng 2. So sánh tỷ lệ biết chữ người lớn ALR (Adult Literacy Rate)
Bảng 5: So sánh tỷ lệ đi học đại học TEGER (Tertiary Education
Gross Enrolment Ratio)
Bảng 9: So sánh tỷ lệ người tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo
dục SEQ (Satisfaction with Education Quality)
(Nguồn: Human Development Report 2013).
5. Kết cấu của tiểu luận:
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung của tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1. Khái quát hệ thống giáo dục Việt Nam và hệ thống giáo dục
Singapore.
Chương 2. So sánh 3 chỉ số (tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tỷ lệ đi học đại
học, tỷ lệ người thoả mãn với chất lượng giáo dục) năm 2013 giữa Việt Nam
với Singapore.
Chương 3. Những nhận xét về ưu nhược điểm và phương hướng phấn
đấu của Việt Nam.
11
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM VÀ

* Về mạng lưới trường/ lớp, theo nguyên tắc phân bố trường gần dân,
đến nay trên các địa bàn dân cư đều có các cơ sở giáo dục. Cụ thể là:
- Mỗi xã, phường hoặc thị trấn đều có ít nhất một cơ sở giáo dục mầm
non, một trường tiểu học, một trường trung học cơ sở hoặc một trường liên
cấp tiểu học và trung học cơ sở (hình thức này chỉ có ở vùng kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn); phần lớn các xã có trung tâm học tập cộng đồng.
- Mỗi quận, huyện, thị xã hoặc thành phố thuộc tỉnh đã có một hoặc
một số trường trung học phổ thông, có một trung tâm giáo dục thường xuyên
của huyện. Các thị xã, các quận và nhiều huyện đã có trung tâm kỹ thuật tổng
hợp-hướng nghiệp. Các huyện miền núi, hải đảo đều có một trường trung học
cơ sở nội trú dành cho học sinh dân tộc thiểu số và trường phổ thông có nhiều
cấp học.
- Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều có một trường trung
học phổ thông chuyên dành cho học sinh xuất sắc trong việc học tập một
trong các các môn học, có trường trung cấp hoặc/và một trường cao đẳng
(junior college), một trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh. Các tỉnh miền
núi và các tỉnh có nhiều huyện miền núi đều có trường trung học phổ thông
nội trú dành cho học sinh dân tộc thiểu số. Một số tỉnh và thành phố trực
thuộc trung ương còn có trường năng khiếu nghệ thuật, trường năng khiếu thể
dục-thể thao và trường dành cho người khuyết tật, tàn tật.
- Các trường đại học tập trung ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và
một số thành phố như Hải Phòng, Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ
Ngoài ra, hầu như mỗi tỉnh đều có trường cao đẳng hoặc trường đại học.
13
1.1.2. Giáo dục mầm non và việc thực hiện quyền trẻ em:
Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
em từ mười hai tháng tuổi đến sáu tuổi. Mục tiêu giáo dục mầm non là giúp
trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, ngôn ngữ, thẩm mỹ, hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1. Cơ sở
giáo dục mầm non gồm nhà trẻ (tiếp nhận trẻ từ ba tháng tuổi đến ba tuổi) và

đó có 5.678 cơ sở giáo dục mầm non công lập tiếp nhận 1.336.824 trẻ em,
5.942 cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập tiếp nhận 1.720.894 trẻ em.
* Mục tiêu phát triển của giáo dục mầm non đến 2015 là:
- Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em trước 6 tuổi. Giảm tỷ
lệ suy dinh dưỡng của trẻ em trong các cơ sở giáo dục tiền học đường xuống
dưới 15%.
- Mở rộng hệ thống nhà trẻ, trường mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư,
đặc biệt ở nông thôn và vùng khó khăn để hệ thống này có thể thu hút 18% trẻ
em dưới 3 tuổi, 67% trẻ em trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. Phổ cập trẻ 5 tuổi, tích cực
thu hút 95% - 100% trẻ 5 tuổi đến trường để chuẩn bị cho các em có kỹ năng
vào học lớp một.
- Tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức, tuyên truyền và tư vấn
cho các bậc ông bà, cha mẹ về nuôi dạy trẻ em theo khoa học.
1.1.3. Giáo dục tiểu học
Cấp tiểu học gồm 5 lớp, thu nhận trẻ em từ 6 tuổi. Như vậy, nếu trẻ
không lưu ban, bỏ học thì đến 11 tuổi sẽ tốt nghiệp tiểu học.
Mục tiêu giáo dục của cấp tiểu học là giúp học sinh hình thành những cơ
sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên cấp trung học cơ sở.
Trong chương trình tiểu học hiện hành, ở lớp 1, lớp 2 và lớp 3 có 6 môn học là:
15
Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên và xã hội, Đạo đức, Thể dục, Nghệ thuật (Mỹ thuật,
Âm Nhạc); trong đó, chỉ có Tiếng Việt và Toán có sách giáo khoa (để học sinh
sử dụng), bốn môn còn lại có tài liệu hướng dẫn giảng dạy (để giáo viên sử
dụng); ở lớp 4 và lớp 5 có 7 môn học là: Tiếng Việt, Toán, Lịch sử và Địa lý,
Khoa học, Đạo đức, Thể dục, Nghệ thuật; trong đó, bốn môn có sách giáo khoa
là Tiếng Việt, Toán, Lịch sử và Địa lý, Khoa học, các môn học còn lại có tài liệu
hướng dẫn giảng dạy. Ngoài ra, cần đưa dần chương trình tin học vào tiểu học để
bổ sung các kỹ năng cơ bản cho học sinh lên cấp học cao hơn.
Năm học 2007-2008, cả nước có 14.939 trường tiểu học với 6.832.567

kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có
những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát
huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, hoặc học lên đại học, cao
đẳng, hoặc học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Năm học 2007-2008, cả nước có 10.491 trường trung học cơ sở với
5.791.229 học sinh; trong đó, số trường công lập là 10.458 với 5.791.229 học
sinh và số trường ngoài công lập là 33 với 68.297 học sinh. Cũng trong năm
học này, số trường trung học phổ thông là 2.476 với 3.070.023 học sinh; trong
đó, số trường công lập là 1.826 với 2.238.141 học sinh và số trường ngoài
công lập là 831.882 học sinh.
Tại các tỉnh có đông người dân tộc thiểu số (tỉnh miền núi và tỉnh có
huyện miền núi) trong các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông có
một số trường nội trú. Theo thống kê năm 2005, tổng số trường nội trú dành
cho con em dân tộc thiểu số là 325; trong đó có 11 trường dân tộc nội trú
trung ương với 4.400 học sinh; 48 trường tỉnh (trung học phổ thông) với
khoảng 20 nghìn học sinh; và 266 trường huyện (trung học cơ sở) với khoảng
60 nghìn học sinh.
18
Triển khai chương trình phân ban ở trung học phổ thông là một nội
dung đổi mới quan trọng ở giáo dục phổ thông. Từ năm học 2006-2007, cấp
trung học phổ thông có ba ban: (i) Ban cơ bản, (ii) Ban khoa học tự nhiên,
(iii) Ban khoa học xã hội và nhân văn. Chương trình của cả ba ban đều gồm
các môn học: Văn học, Lịch sử, Địa lý, Toán học, Vật lý, Hoá học, Ngoại
ngữ, Chính trị và Giáo dục công dân, Thể dục thể thao Yêu cầu của ban cơ
bản chính là chuẩn kiến thức và kỹ năng (nghĩa là yêu cầu tối thiểu cần thiết)
đối với tất cả các môn học thuộc chương trình của cấp học. Yêu cầu của Ban
khoa học tự nhiên là nâng cao đối với bốn bộ môn: Toán, Vật lý, Hoá học và
Sinh học. Yêu cầu của ban khoa học xã hội và nhân văn là nâng cao đối với
bốn bộ môn: Văn học, Lịch sử, Địa lý và Ngoại ngữ.
Đối với một trường, việc giảng dạy, học tập theo mấy ban, là ban nào

thục, trường có vốn đầu tư của nước ngoài và trường của quân đội để thực
hiện việc dạy nghề cho bộ đội xuất ngũ. Về các trường trung học chuyên
nghiệp (thuộc quyền quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo), mặc dầu nhiều
trường mạnh lần lượt chuyển thành trường cao đẳng nhưng trong 5 năm (từ
2001 đến 2005) tổng số các trường trung học chuyên nghiệp vẫn tăng. Cụ thể,
năm học 2001 có 253 trường đến năm học 2005 có 285 trường, với 283.335
học sinh. Trong đó, có 238 trường công lập và 47 trường tư thục; có trường
thuộc các bộ và có trường thuộc địa phương, mỗi tỉnh trung bình có từ 3 đến 5
trường (trừ 3 tỉnh mới thành lập).
* Mục tiêu phát triển của giáo dục nghề nghiệp đến năm 2015 là:
- Thiết lập hệ thống đào tạo nghề nghiệp thực hành đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng đào tạo nghề ngắn hạn và đào tạo công
nhân lành nghề, đội ngũ kỹ thuật viên và cán bộ chuyên môn ở trình độ cao
đẳng từ những người tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề.
- Thu hút 30% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào học các trường
trung cấp và 10% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào học các cao
đẳng nghề.
1
20
1.1.6. Giáo dục đại học
Giáo dục đại học đào tạo bốn trình độ: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến
sĩ. Cụ thể:
- Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ 2-3 năm, đối với người
tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề;
1-2 năm đối với người tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành;
- Đào tạo trình độ đại học được thực hiện từ 4-6 năm đối với người tốt
nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp; từ 2
1
/
2

thuộc các trường ngoài công lập.
- Bảo đảm đến năm 2010 đạt 40% giảng viên đại học, cao đẳng có trình
độ thạc sĩ và 25% có trình độ tiến sĩ; tỉ lệ sinh viên/giảng viên của cả hệ thống
giáo dục đại học không quá 20.
- Áp dụng các phương thức và công nghệ quản lý hiện đại trong các cơ
sở giáo dục đại học, đặc biệt là áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông;
hình thành trung tâm dữ liệu quốc gia về đào tạo và nghiên cứu khoa học, và
hệ thống thư viện điện tử.
- Nâng cao rõ rệt quy mô và hiệu quả của các hoạt động khoa học công
nghệ trong các trường đại học. Các trường đại học lớn phải là các trung tâm
nghiên cứu khoa học mạnh của cả nước. Nguồn thu từ các hoạt động khoa học
- công nghệ, sản xuất và dịch vụ đạt khoảng 15% tổng nguồn thu của các
trường. Nhà nước dành hơn 1% ngân sách để các trường đại học thực hiện
nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.
- Bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của nhà trường về tất cả
các mặt. Bảo đảm vai trò quản lý của nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá
của xã hội đối với các hoạt động của nhà trường.
1.1.7. Giáo dục thường xuyên
Trong suốt một thời gian dài, nhân dân ta kiên trì tiến hành công cuộc
chống nạn mù chữ, phát triển giáo dục người lớn (lúc đầu là giáo dục bình
dân, rồi giáo dục bổ túc và ngày nay là giáo dục thường xuyên). Kết quả là
hàng chục triệu người đã thoát khỏi nạn mù chữ. Hàng triệu người, thông qua
các lớp bổ túc văn hoá và các khoá đào tạo tại chức mà tiếp tục mở mang sự
hiểu biết, vươn tới ánh sáng của tri thức.
22
Ngày nay, giáo dục thường xuyên có chức năng giúp mọi người vừa
làm vừa học, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết,
nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng
cuộc sống, tìm việc làm và tự tạo việc làm, thích nghi với đời sống xã hội.
Trong phạm vi chức năng, giáo dục thường xuyên có các chương trình

và dân số khoảng trên 4,8 triệu người. Vốn là một
làng chài cá ở phía nam quần đảo Mã Lai, Singapore trở thành thuộc địa của
Anh từ thế kỷ 19, giành quyền tự trị vào năm 1959 và trở thành quốc gia độc
lập thuộc Khối thịnh vượng chung từ năm 1965. Chính vì vậy tiếng Anh là
ngôn ngữ phổ biến ở đảo quốc này.
Quá trình phát triển giáo dục Singapore tính từ 1959 đến nay được chia
ra làm nhiều giai đoạn với những phương châm cải cách giáo dục riêng. Các
giai đoạn cải cách giáo dục ở Singapore có thể được chia thành 4 giai đoạn
như sau:
- Giáo dục để tồn tại (1959-1978);
- Giáo dục lấy hiệu quả làm động lực (1979-1996);
- Giáo dục lấy năng lực làm động lực (1997-2005);
- Giáo dục lấy đổi mới làm động lực (từ 2006).
Những giai đoạn khác nhau không tách rời mà tạo thành một chuỗi liên
tục, thời điểm chỉ có ý nghĩa đánh dấu cho thuận tiện.
Mục đích của nền giáo dục chính thống ở Singapore là trang bị cho
thanh thiếu niên những kỹ năng kiếm sống, có giá trị đạo đức lành mạnh, và
khi trưởng thành trở thành những con người có trách nhiệm và những công
dân trung thành. Quá trình học tập nhằm nuôi dưỡng những tố chất tốt nhất
của mỗi trẻ, giúp cho từng em phát huy tối đa tiềm năng của mình.
Hiện nay, hệ thống học tập chủ yếu là tập trung giám sát khoảng 165
trường tiểu học (trường công và trường được chính phủ hỗ trợ), 156 trường
trung học, 12 trường hỗn hợp đào tạo, 7 trường độc lập, 13 trường cao đẳng
và 1 trường dự bị đại học tập trung. Giáo dục tiểu học là bắt buộc, với tất cả
24
trẻ em từ 6 tuổi. Các em được hưởng 10 năm giáo dục miễn phí: 6 năm ở bậc
tiểu học và 4 năm ở bậc trung học. Giáo dục sau trung học chuyên về học
thuật được đưa vào các trường cao đẳng và một trường dự bị đại học tập
trung, trong khi đào tạo trực tiếp chuẩn bị cho thế giới việc làm được giao cho
các cơ sở và các trường đào tạo thuộc Viện Giáo dục Kỹ thuật và 5 trường kỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status