Thị trường lao động Việt Nam –suy nghĩ về những hướng đi mới từ các “hiện tượng lạ - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Tốc độ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế Việt Nam trong những năm
vừa qua thể hiện Việt Nam đã và đang đẩy mạnh phát triển các loại thị trường:
Thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học công nghệ… Trong đó,
thị trường lao động là một trong những thị trường tác động mạnh nhất đến sự phát
triển kinh tế. Bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam bắt đầu thực hiện khai thác và
phân bổ nguồn lực lao động theo nguyên tắc thị trường. Trong xu thế hội nhập
khu vực và thế giới, thị trường lao động Việt Nam những năm qua luôn vận động
và phát triển mạnh mẽ theo những xu hướng phổ biến ở các nước đang phát triển.
Bên cạnh đó là sự xuất hiện của một số ““hiện tượng lạ””. Theo nhóm nghiên
cứu, “hiện tượng lạ”là những hiện tượng rất mới, chưa từng xuất hiện trên thị
trường lao động Việt Nam hay cũng có thể hiểu đây là những hiện tượng không
đi theo xu hướng phát triển chung của thị trường lao động các nước đang phát
triển. Những hiện tượng này hình thành tự phát nằm ngoài định hướng phát triển,
sự điều hành vĩ mô của Chính phủ.
Vì vậy, việc phát hiện, khảo sát, nghiên cứu những hiện tượng này là rất cần
thiết để lý giải hướng phát triển của thị trường lao động Việt Nam. Xuất phát từ
vấn đề nêu trên, đề tài “Thị trường lao động Việt Nam –suy nghĩ về những
hướng đi mới từ các “hiện tượng lạ”” được lựa chọn để nghiên cứu.
Những đóng góp của đề tài
Một là, hệ thống hóa những đặc điểm và những vấn đề mang tính phổ biến ở thị
trường lao động Việt Nam.
Hai là, phát hiện và phân tích các “hiện tượng lạ” diễn ra trong thị trường lao động
Việt Nam.
Ba là, đề xuất các hướng đi mới cho sự phát triển thị trường lao động từ các hiện
tượng trên.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368

- Phương pháp chuyên gia, trên cơ sở nhận định, đánh giá của các chuyên
gia về các mặt, các lĩnh vực của thị trường lao động.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích.
Kết cấu của đề tài
Tên đề tài nghiên cứu khoa học “Thị trường lao động Việt Nam – Suy
nghĩ về những hướng đi mới từ các “hiện tượng lạ””
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài bao gồm ba chương được kết
cấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề mang tính phổ biến ở thị trường lao động các
nước đang phát triển và Việt Nam
Chương 2: Một số “hiện tượng lạ”xuất hiện trong thị trường lao động
Việt Nam những năm vừa qua
Chương 3: Một số suy nghĩ về những hướng đi mới từ các “hiện tượng lạ”
Phân tích và nghiên cứu về các “hiện tượng lạ”của thị trường lao động Việt
Nam là công việc phức tạp, đòi hỏi nhiều nỗ lực và hợp tác. Mặc dù đề tài đã đạt
được những kết quả nhất định, song vẫn không tránh khỏi thiếu sót. Nhóm nghiên
cứu rất mong nhận được sự quan tâm và góp ý của các thầy cô, các nhà chuyên
môn để đề tài có chất lượng cao hơn.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ LĐ-TB&XH : Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
CMKT : chuyên môn kỹ thuật
CN : công nhân
CNH – HĐH : công nghiệp hoá - hiện đại hoá
ĐBSCL : đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH : đồng bằng sông Hồng
DN : doanh nghiệp
KCN, KCX : khu công nghiệp, khu chế xuất
KTXH : kinh tế xã hội

Bảng 6: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động có việc làm
Bảng 7: Luồng di cư nông thôn, thành thị 1/4/2005 – 1/4/2006
Bảng 8: Giá gạo thế giới tính đến ngày 05/08/2008
Biểu 1: Trình độ giáo dục phổ thông của lao động có việc làm
Biểu 2: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo 2000 – 2007
Biểu 3: Lao động xuất khẩu qua các năm
Biểu 4: Tỷ lệ chất xám chảy ra ở một số nước
Sơ đồ 1: Đồ thị thể hiện cân bằng cung – cầu lao động
Sơ đồ 2: Mối quan hệ và các giải pháp cho các trường học và doanh nghiệp
Sơ đồ 3: Mối liên hệ giữa các đối tượng trong việc thực hiện giải pháp cho
xuất khẩu chuyên gia
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ MANG TÍNH PHỔ BIẾN Ở
THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ
VIỆT NAM
1.1. Lý luận về thị trường lao động
1.1.1. Khái niệm
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thị trường lao động là thị trường
trong đó các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định
mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công. Khái niệm này
nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được trả công.
Theo các nhà khoa học Việt Nam (Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung

chuyên môn kĩ thuật; (3) sức khoẻ, tác phong, tính kỉ luật của người lao động.
1.1.2.2. Cầu lao động
Về lý thuyết, cầu lao động là mối quan hệ giữa lượng lao động (bao gồm cả
số lượng và chất lượng) mà nền kinh tế có nhu cầu sử dụng với mỗi mức giá cả
lao động (với giả thiết các yếu tố khác không đổi).
Trên thực tế, quyết định đến cầu lao động là số chỗ làm việc mà nền kinh
tế quốc dân đem lại trong một thời gian nhất định.
Theo quan điểm đó, lượng cầu lao động phụ thuộc vào các nhân tố sau: (1)
Quy mô, dung lượng nền kinh tế - nếu các nhân tố khác không đổi thì lượng cầu
lao động là một đại lượng có mối quan hệ đồng biến với quy mô của nền kinh tế;
(2) Năng suất lao động - năng suất lao động là yếu tố có mối quan hệ nghịch biến
với số lượng lao động, nhưng lại đòi hỏi lao động có chất lượng cao hơn để tăng
năng suất; (3) Các yếu tố công nghệ, kỹ thuật của nền kinh tế - nếu công nghệ, kỹ
thuật cao thì giảm cầu về số lượng nhưng lại đòi hỏi tăng cầu về chất lượng.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.2.3. Giá cả sức lao động
Theo lý thuyết kinh tế thị trường, giá cả lao động được xác định bởi điểm
cân bằng giữa cung và cầu trên thị trường lao động. Sự cân bằng trên thị trường
lao động quyết định mức giá cả cân bằng, tại đó số lượng lao động được cung cấp
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trong một thời kỳ nhất định bằng số lượng lao động được yêu cầu.
S
D
W
L
W*
W
1

hoặc cao hơn) tạo ra một nguồn cung rất lớn cho thị trường lao động. Sở dĩ như
vậy là do mối tương quan giữa tỷ lệ sinh - tử tại các nước này. Mặt khác, khi xã hội
ngày càng phát triển, y học ngày càng tiến bộ khiến cho tỷ lệ tử vong ở các nước
này giảm nhanh. Ngoài ra, các nước đang phát triển thường có cơ cấu dân số trẻ, tỷ
lệ số dân trong độ tuổi 15 - 24 là khá lớn (độ tuổi nằm trong lực lượng lao động),
đây chính là nguồn cung chủ yếu cho TTLĐ.
Có thể thấy, TTLĐ Việt Nam những năm qua cũng vận động, phát triển
không nằm ngoài xu hướng này. Diễn biến cung lao động của Việt Nam thời gian
qua được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Lực lượng lao động Việt Nam
giai đoạn 2000 – 2006 theo khu vực
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đơn vị: Triệu người
Năm Cả nước Thành thị Nông thôn
2000 39.3 8.9 30.4
2001 41.1 9.8 30.8
2002 41.0 9.8 31.2
2003 42.1 10.2 31.9
2004 43.2 10.6 32.7
2005 44.4 11.1 33.3
2006 45.5 12 33.5
Nguồn: Số liệu thống kê việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1996
– 2006 (2007)
Theo bảng trên ta thấy: cung lao động hay LLLĐ ngày càng tăng với tốc độ
cao: từ 39.3 triệu người năm 2000 đến 45.5 triệu người năm 2006, tốc độ tăng
trung bình là 2.5% với quy mô 1,033 triệu người/năm. Trong đó: LLLĐ ở thành
thị tăng 4.6%, tương ứng với 516,6 ngàn người/năm, LLLĐ ở khu vực nông thôn
tăng 2%, ứng với 516,6 ngàn người/năm. Mặc dù quy mô tăng LLLĐ của hai khu
vực này là bằng nhau, nhưng tốc độ tăng của khu vực thành thị cao hơn nhiều so

Cả nước
Tổng (triệu người) Tốc độ(%)
2000 38.4 -
2001 39.0 2.5
2002 40.2 2.5
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2003 41.2 2.7
2004 42.3 2.5
2005 43.5 2.7
2006 44.6 2.7
Nguồn: Số liệu thống kê việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1996
– 2005 (2006)
Từ bảng trên ta thấy: Quy mô số việc làm tăng dần qua các năm, từ 38,4
triệu người năm 2000 đến 44,6 triệu người năm 2006. Tỷ lệ tăng trưởng việc làm
từ 2,5 – 2,7%/năm. Số liệu này cũng cho thấy tuy tốc độ tăng cầu lao động tương
đương với tốc độ tăng cung lao động, nhưng quy mô tăng của cầu lao động chậm
hơn cung lao động.
1.2.1.3. Thất nghiệp vẫn là hiện tượng đáng lo ngại
Bảng 4: Tỷ lệ thất nghiệp của một số nước châu Á
Đơn vị:%
2001 2002 2003 2004
14
Theo con số của cuộc khảo sát kinh tế, xã hội châu Á - Thái Bình Dương
năm 2006 ở Đông Á, số lao động thất nghiệp tăng từ 4 triệu năm 1992 lên
9 triệu năm 2002, trong khi ở Đông Nam Á tăng từ 5,5 triệu lên 14,6 triệu.
Báo cáo cho biết các nước khu vực này đang đạt tốc độ tăng trưởng cao và
tạo được công ăn việc làm nhưng thất nghiệp vẫn gia tăng nhanh, đặc biệt
ở các nước đang phát triển. Ở Đông Á, tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 2,5 % năm
1994 lên 3,6% năm 2004 và ở Đông Nam Á từ 4,1% lên 4,8%. Bên cạnh

nông thôn
74.16 74.26 75.42 77.65
79.1
0
80.7 -
Nguồn: Niên giám thống kê 2004 - NXB Thống kê; Báo cáo kết quả điều tra
lao động - việc làm 1/7/2005.
Từ số liệu ở các bảng trên nhận thấy: Số người thất nghiệp trong nền kinh
tế ngày càng giảm, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm dần qua các năm. Điều
này cũng đúng với cả ở thành thị và nông thôn. Tình trạng thất nghiệp của LLLĐ
trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị giảm dần qua các năm trong giai đoạn
2000-2006, nhưng vẫn còn cao từ 6.42% năm 2000 xuống còn 5.32% năm 2006.
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tỷ lệ sử dụng thời gian làm việc ở nông thôn tăng dần lên qua các năm, từ
74.16% năm 2000 tăng lên 80.7% năm 2005. Nói cách khác, vẫn còn khoảng
20% người lao động nông thôn không có đủ việc làm.
1.2.2. Thiếu lao động “phức tạp”
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, lao động “phức tạp” là lao
động được đào tạo, huấn luyện, có trình độ chuyên môn nhất định, hoạt động
trong những ngành sử dụng kĩ thuật từ kĩ thuật cơ khí thông thường đến kĩ thuật
hiện đại (điện tử, tin học...), những ngành nghề nghiên cứu khoa học, những
ngành nghề đòi hỏi có trình độ nghệ thuật nhất định, …
Nhìn chung, các nước đang phát triển hiện nay đều có tỷ lệ lao động đã qua
đào tạo thấp chủ yếu do nền giáo dục còn chưa được đổi mới phát triển theo
hướng hiện đại. Tại các nước đang phát triển trong khu vực châu Á - Thái Bình
Dương, lao động qua đào tạo đạt trên 50%, còn ở các nước phát triển cao hầu hết
lao động đã qua đào tạo nghề.
Ở Việt Nam, tình trạng này càng thể hiện rõ rệt và chủ yếu do các nguyên
nhân sau:

và tổng hợp số liệu năm 2006 – 2007.
Từ bảng số liệu tổng hợp ở trên có thể thấy tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của
NLĐ có xu hướng tăng lên từ 13.4% năm 2000 lên 34% năm 2007. Tuy nhiên, tỷ
lệ này còn rất thấp do chất lượng đào tạo, cơ cấu ngành, nghề đào tạo chưa đáp ứng
yêu cầu TTLĐ, và còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Lao
động đã qua đào tạo vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu của TTLĐ, đặc biệt về
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo năm 2000 - 2007
13.4
16.8
18.7
21.1
22.5
24.8
32
34
0
5
10
15
20
25
30
35
40
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Năm
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368

CĐ, ĐH 41.8 48.7 51.6 51.9 53.8 52.7
Nguồn: Số liệu thống kê lao động và việc làm ở Việt Nam giai đoạn 1996 –
2005 (2006)
Như vậy có thể thấy, tỷ lệ trên ở VN hiện nay là 1 cử nhân - 1,16 THCN -
0,95 CNKT.
Những ngành nghề có chi phí đào tạo thấp (ít thí nghiệm, ít thực
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hành) như ngành kinh tế, luật chiếm 43% số sinh viên đào tạo. Tỷ lệ đào tạo sinh
viên cho các ngành khoa học kỹ thuật chỉ chiếm 25,5%. Và cũng mới có hơn 20%
lao động đã qua đào tạo từ sơ cấp trở lên, số lao động bậc 6, bậc 7 chiếm tỷ lệ rất
ít.
Hệ quả là sinh viên ĐH ngày càng nhiều, trong khi công nhân kĩ thuật không
tăng, dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” tái diễn.
1.2.4. Luôn tồn tại dòng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị
Trong TTLĐ, để đảm bảo sự phân bổ và bố trí lao động, sử dụng nguồn
nhân lực một cách hợp lý và hiệu quả, luôn cần có dịch chuyển lao động giữa các
khu vực, ngành nghề. Do những tác động khách quan trong quá trình phát triển
KTXH, làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị là một “xu hướng tất yếu” trong
TTLĐ các nước đang phát triển. TTLĐ khu vực thành thị luôn có sự hấp dẫn về
tiền công, và cơ hội làm việc so với TTLĐ nông thôn. Xu hướng này đã và đang
làm cho mức thất nghiệp ở thành thị ngày càng tăng đồng thời cũng dẫn đến tình
trạng mất cân đối trong các cơ hội về kinh tế ở cả nông thôn lẫn thành thị.
Cũng như ở các nước đang phát triển khác, di dân từ nông thôn ra thành thị
cũng là xu hướng phổ biến ở TTLĐ Việt Nam.
Bảng 7: Luồng di cư nông thôn, thành thị 1/4/2005 – 1/4/2006
Đơn vị: %; người
% số người di cư Nơi cư trú trước khi di chuyển
Toàn quốc 100 Thành thị Nông thôn
Thành thị 56.7 16.8 39.9

30
36.168
46.122
75
67 70 70
85
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
Nghìn người
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Năm
Bảng số liệu LĐXK qua các năm 2000 - 2007
Số lượng lao động
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Loan, Malaysia . Một vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu mở TTLĐ sang khu
vực Trung Đông. Hiện nay, có khoảng 3000 lao động làm việc ở các Tiểu Vương
Quốc Ả Rập thống nhất, gần 2000 lao động làm việc tại Qatar.
1.2.6. Chảy máu chất xám
Sự dịch chuyển lao động được đào luyện có kỹ năng từ nước này sang nước
khác, từ châu lục này sang châu lục khác được gọi là chảy máu chất xám.
Đây là một hiện tượng xảy ra ở hầu hết các nơi trên thế giới, ngay cả các

Tonga
Fiji
Ghama
Việt Nam
Ấn Độ
Trung Quốc
Úc
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối với Việt Nam, đây cũng là một vấn đề đáng quan tâm khi tỷ lệ này là tương
đối cao 27%. Hậu quả tiêu cực của chảy máu chất xám khiến đất nước nghèo và
lạc hậu, không thể tiến triển nhanh để bắt kịp đà văn minh của nhân loại.
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kết luận:
Trên đây là những xu hướng mang tính phổ biến mà gần như đã trở thành
đặc trưng của các nước đang phát triển. Thị trường lao động Việt Nam trong quá
trình vận động và phát triển cũng không nằm ngoài những xu hướng đó. Nghiên
cứu này không có ý định phân tích sâu các xu hướng phổ biến nói trên. Mục đích
trong việc nhấn mạnh các xu hướng này để nhấn mạnh thị trường lao động các
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, luôn có những đặc trưng riêng biệt.
Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy, điều quan trọng là trên thực tế, ở Việt
Nam đã và đang diễn ra những hiện tượng không theo xu hướng trên. Chúng ta
cần phải “chụp” nhanh những hiện tượng ấy, phân tích và tìm cách “nhân điển
hình” những hiện tượng không mang tính xu hướng, nhưng lại có nhiều tác động
tích cực, để từ đó biến chúng trở thành những xu hướng mới ở Việt Nam.
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ “HIỆN TƯỢNG LẠ” XUẤT HIỆN TRÊN THỊ

động đang làm trong Nam “chuyển động ngược”
về quê tìm cơ hội.
Nguồn:
(24/5/2004)
Có một thời nguồn nhân lực từ các
tỉnh ùn ùn đổ về TP.HCM, Bình
Dương, Đồng Nai; có một thời tìm
một việc làm trong các khu công
nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX)
phía Nam người ta phải “chạy” bằng
tiền... Nhưng giờ đây các doanh
nghiệp (DN) luôn kêu ca thiếu lao
động, nhiều nhà máy phải bỏ chi phí
hàng trăm ngàn đồng để tìm từng lao
động một... Nguồn nhân lực đang
chuyển hướng “chảy” về các tỉnh...
Nguồn:
(11/04/2006)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để hiểu được nguyên nhân của việc di chuyển lao động “có vẻ” như đi ngược
lại xu hướng của TTLĐ Việt Nam, trước hết chúng ta cùng tìm hiểu các hình thức di
chuyển lao động từ thành thị về nông thôn. Qua quá trình nghiên cứu, có hai hình
thức sau:
(1) Lao động di chuyển từ các thành phố (thành phố loại 1) (Hà Nội, Hải Phòng,
Đà Nẵng, TP. HCM) về quê hương mình (các quận, huyện, thị trấn) làm việc.
(2) Lao động di chuyển từ các thành phố (trực thuộc tỉnh) về quê hương mình
(các quận, huyện, thị trấn) làm việc.
(3) Lao động di chuyển từ các thành phố lớn về các thành phố nhỏ (quê hương
họ) làm việc.
Đây là một hiện tượng rất mới xảy ra ở thị trường lao động Việt Nam. Hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status