ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÀI TẬP MÔN HỌC
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG GIÁO DỤC
Giảng viên phụ trách: PGS.TS. Đặng Quốc Bảo
Học viên:
HÀ NỘI – 2014
Hạn nộp bài theo qui định: ngày 12 tháng 9 năm 2014
Thời gian nộp bài: ngày 12 tháng 9 năm 2014
Nhận xét của giảng viên chấm bài:
Điểm: Giảng viên (kí tên):
BÀI TẬP MÔN HỌC
Học phần Quản lý tài chính trong giáo dục
2
ĐỀ BÀI
Câu 1: Căn cứ vào 6 luận điểm về giáo dục đã nêu, chọn 1 luận điểm mà
mình có ấn tượng nhất. Viết bài bình luận (2 trang) về quan điểm đó.
Câu 2: “Toán học là Ông Hoàng của các môn khoa học; Kinh tế học là
sức mạnh to lớn của giáo dục tạo ra sự phát triển của xã hội. Vai trò của
giáo dục đối với sự phát triển về mọi mặt của xã hội thì không ai có thể
phủ nhận về nó.
Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự
phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó. Đó
chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá
trình xã hội và tạo ra sự phát triển cho xã hội.
4
Giáo dục là mục tiêu và sức mạnh của kinh tế. Sự phát triển xã
hội được đặc trưng bởi sự phát triển kinh tế. Mọi xã hội được xây dựng
trên nền tảng của các nền kinh tế và được tạo ra bởi các yếu tố kinh tế.
Bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển về kinh tế
cũng cần có rất nhiều nguồn lực như nguồn lực nhân lực, nguồn lực
nguồn vốn, nguồn lực tài nguyên ; trong đó nguồn lực nhân lực (người
lao động) là quan trọng nhất. Bởi vì, nếu muốn đưa xã hội càng phát
triển, đòi hỏi phải có những người có trình độ cao, có kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn lao động sản xuất, có những phẩm chất cần thiết
của người lao động mới. Muốn có nguồn nhân lực như vậy thì xã hội
cần phải có giáo dục. Bởi vì giáo dục thông qua hệ thống giáo dục và
dạy học, bằng bằng nhiều hình thức khác nhau, giáo dục trực tiếp đào
tạo ra đội ngũ người lao động đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và có
trình độ cao, một mặt, để thay thế cho những lao động đã mất; mặt khác,
để bổ sung, nâng cao và đáp ứng nguồn nhân lực cho yêu cầu mở rộng
và phát triển sản xuất (mở rộng các khu vực sản xuất, chuyển dịch cơ
cấu, hiện đại hóa, công nghiệp hóa…). Chất lượng nguồn nhân lực được
đặc trưng bởi trình độ được đào tạo (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kỹ thuật,
năng lực công nghiệp,…). Tất cả đều do giáo dục quyết định. Vì vậy,
phát triển nguồn nhân lực có chất lượng tốt là mục tiêu tạo động lực cho
sự phát triển kinh tế.
Giáo dục đã trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các nguồn lực
Theo tôi có thể viết tiếp luận điểm trên như sau: “Toán học là Ông
Hoàng của các môn khoa học; Kinh tế học là Nữ Hoàng của các Khoa
học. Còn Kinh tế học giáo dục là một khoa học liên ngành được hình
thành chủ yếu trên cơ sở của kinh tế học và giáo dục học”. Nếu như
kinh tế học nghiên cứu cá nhân và xã hội đưa ra những lựa chọn tối ưu
như thế nào đối với các tài nguyên khan hiếm như: đất đai, lao động,
vốn, và khả năng tạo nghiệp Thì kinh tế học giáo dục chủ yếu xem xét
mối quan hệ phức tạp giữa giáo dục hay đầu tư vốn con người và sự đi
lên của kinh tế - xã hội. Khi tiếp cận các vấn đề kinh tế học giáo dục
cần dựa trên nền tảng của nhiều khoa học nhưng lấy kinh tế học làm nền
tảng chủ đạo
.
Câu 3:
Sau mỗi năm GDP tăng 1,05 lần, như vậy GDP bình quân theo sức
mua đầu người qua các năm là một cấp số nhân có công bội q = 1,05.
Theo công thức của cấp số nhân, sau t năm thì Ut = U1.1,05
t
6000 = 3000 x 1,05
t
1,05
t
= 2 t = log 2 = 14,2
Vậy để có sức mua là $6000 so với $3000 tại thời điểm hiện tại với
tốc độ tăng trưởng GDP là 5% thì nước ta phải mất khoảng 14 năm nữa.
Câu 4:
a. Mười sáu mệnh đề Tứ thụ – Tam phi… bất – Tứ tôn – Ngũ quy như
sau:
Quản Trọng (730 - 645 TCN) và "Tứ
Thụ"
Lê Qúy Đôn (1726 - 1784) và "Tứ
cạnh việc tìm kiếm, phát hiện, đào tạo và trọng dụng người tài thì chúng
ta cũng cần chăm lo sự mở mang toàn diện văn hóa giáo dục trước hết là
khai hóa tri thức cho các lực lượng có trách nhiệm của xã hội, chẳng thế
mà trong “Ngũ quy”, bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm đã nêu “Quy trí tất
hưng”.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm (1721 – 1784) là một Vương phi thời
8
Chúa Trịnh, cùng thời với Bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726 – 1784). Bà
Ngọc Diễm học rộng biết nhiều, thường hay đàm đạo với các danh nho
trong triều. Bà dâng lên Nhà Chúa các kiến giải của mình. Theo Bà chú
trọng, lo toan cho nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp thì tạo ra
nhiều của cải vật chất, đảm bảo cuộc sống no ấm cho nhân dân, đất nước
ổn định, giàu có, năng động – điều đó tạo nên sự tăng trưởng. Nhưng
muốn đất nước phát triển, hưng thịnh thì phải chăm lo cho văn hóa giáo
dục:
“Quy trí tất hưng”
(Tạm dịch: Chăm lo cho giáo dục, văn hoá thì đất nước hưng thịnh)
“Trí” vốn là một từ gốc Hán, có nghĩa là trí tuệ, để chỉ trình độ
nhận thức, suy đoán, ghi nhớ… “Quy trí tất hưng” hiểu theo nghĩa rộng
là chăm lo tổng thể sự nghiệp văn hóa giáo dục. Hiểu theo nghĩa trực
diện là chăm lo sự mở mang hiểu biết của người dân để người dân sống
đúng đắn theo trách nhiệm công dân, có hoài bão làm cho dân giàu,
nước mạnh.
Nâng cao dân trí là một trong những chủ trương đường lối chính
sách của Đảng ta đã được đề ra ngay từ những năm đầu xây dựng đất
nước. Là một vấn đề quan trọng được chủ tịch Hồ Chính Minh quan tâm
hàng đầu, theo Người thì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người
chỉ rõ, dốt nát là nguyên nhân cơ bản của yếu hèn và sai lầm. Dốt thì dại,
dại thì hèn. Hồ Chí Minh coi dốt nát là một trong ba loại giặc cần phải
tiêu diệt (giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm). Chính vì vậy, sau khi đất
10
và Nhà nước. Sự đồng thuận và đoàn kết là nhân tố vô cùng quan trọng
để duy trì an ninh trật tự và thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Ngày nay,
nhân loại đang bước vào một nền văn minh trí tuệ, một nền kinh tế tri
thức, một xã hội thông tin. Thế giới đang trong cuộc chạy đua về tốc độ
trong hệ thống kinh tế - xã hội.
Vì vậy, người ta nói, muốn biết tương lai một dân tộc ra sao hãy
nhìn vào hiện tại xem dân tộc đó đang làm giáo dục như thế nào? Trong
nền kinh tế tri thức, ưu thế không hoàn toàn lệ thuộc vào các nhân tố
truyền thống như tài nguyên, đất đai, nhân công,… mà nhân tố có ý
nghĩa quyết định là trí tuệ con người, là đội ngũ lao động chất lượng cao,
là chất xám của các chuyên gia. Việt Nam muốn “Sánh vai với các
cường quốc năm châu”, trước tiên phải làm tốt chiến lược “trồng người”
theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ có đi bằng con đường phát triển giáo
dục, phát triển năng lực sẵn có trong mỗi con người, chúng ta mới có thể
đi tắt, đón đầu, phát huy thế mạnh của con người Việt Nam (yêu nước,
ham học, thông minh, sáng tạo,…) để xây dựng và phát triển đất nước.
Chúng ta cần phải chú trọng việc nâng cao dân trí của nhân dân,
hạn chế đến mức tối đa sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các
vùng miền trong cả nước, có như vậy mới có thể đồng sức, đồng lòng
xây dựng và đưa đất nước phát triển.
Và cũng chính là cơ sở “Đại đoàn kết dân tộc” để đấu tranh chống
phá các thế lực lợi dụng trình độ nhận thức thấp trong nhân dân nhằm
chia rẽ nội bộ dân tộc ta làm mất an ninh quốc gia cũng như chủ quyền
của đất nước. Tình hình thực tế hiện nay cho ta thấy một điều rằng sự
chênh lệch về trình độ dân trí còn cao ở nước ta.
“Dân trí” gắn liền với “Quan trí” và “Doanh trí”. Dân trí không
11
phát triển được nếu Quan trí méo mó (Tham nhũng, cửa quyền áp bức
nhân dân), và Doanh trí (Chụp giật, phi đạo đức). Với quan trí cao tức là
chuyên nghiệp.Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, quản trị theo kiểu gia đình
là một quán tính gây cản trở không nhỏ cho quá trình phát triển. Muốn
thay đổi, không gì khác là doanh nhân cần học tập và chia sẻ kinh
nghiệm vận hành quản trị khoa học từ các trường lớp, từ chuyên gia, và
từ đồng nghiệp.
13