BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 8
MÔN: KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH 1
Chủ đề: Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên
I. Khái quát về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên trong kiểm toán tài chính
* Khái niệm trách nhiệm pháp lý: Là nghĩa vụ thanh toán nợ theo quy định của
pháp luật, phát sinh khi hành động của một cá nhân gây ra những thiệt hại cho
những người khác thì cá nhân đó có trách nhiệm pháp lý đối với những thiệt hại,
được quyết định bởi tòa án.
* Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên: phát sinh do những kết luận kiểm toán
của KTV không xác đáng làm cho những người quan tâm (ngân hàng, nhà đầu tư,
nhà cung cấp, cơ quan thuế,…) đưa ra các quyết định sai lầm, ảnh hưởng đến lợi
ích kinh tế của họ.
* Bao gồm có 2 loại:
- Trách nhiệm theo hợp đồng: xác định theo các điều khoản cam kết trong hợp
đồng khi 1 bên vi phạm hợp đồng gây ra thiệt hại cho bên đối tác.
VD: Nếu KTV vi phạm cam kết về thời hạn phát hành BCTC theo hợp đồng dẫn
đến bên được kiểm toán bị phạt vì nộp BCTC muộn thì KTV có trách nhiệm với
bên được kiểm toán theo điều khoản hợp đồng.
- Trách nhiệm luật pháp quy định đối với các bên hữu quan được xác định căn cứ
vào các quy định pháp lý, không phụ thuộc vào việc có hay không hợp đồng giữa
các bên.
VD: KTV do cẩu thả không phát hiện ra nhân viên cảu đơn vị được kiểm toán biển
thủ tài sản thì khoản thiệt hại này là cơ sở phát sinh trách nhiệm của KTV.với đơn
vị được kiểm toán.
* Điều kiện để hình thành trách nhiệm pháp lý của KTV: bên bị thiệt phải chứng
minh được 3 điều kiện đồng thời
1. Có trách nhiệm: bị đơn KTV là người có lỗi
2. Có thiệt hại
3. Có quan hệ nhân quả giữa hành vi không đúng của KTV và thiệt hại xảy
ra.
- Nếu KTV chỉ ra được rằng ít nhất 1 trong 3 điều kiện trên không được thỏa mãn
- Cam kết đánh giá tính trung thực và hợp lý các thông tin trong BCTC
Nếu KTV vi phạm các cam kết này thì trách nhiệm pháp lý của KTV với khách hàng sẽ nảy sinh.
• Trách nhiệm luật pháp quy định
Luật Kiểm toán, chuẩn mực kiểm toán, luật dân sự… yêu cầu KTV phải thận trọng thích
đáng, có kỹ năng, phải bảo mật thông tin khách hàng và trung thực…
Sự thiếu thận trọng thích đáng được quy kết khi có sự bất cẩn thông thường hay bất cẩn toàn
bộ:
- Bất cẩn thông thường: Được xác định khi so sánh với hành động của KTV khác có năng lực ở
cùng tình huống.
- Bất cẩn toàn bộ: Có thể coi là hành vi khinh suất, coi thường và thái độ bất chấp chuẩn mực.
Đối với khách hàng là đơn vị niêm yết, trách nhiệm của KTV được quy định tại Điều 13
QĐBTC 89/2007, theo đó công ty kiểm toán có nghĩa vụ:
- Thông báo kiến nghị cho đơn vị được kiểm toán có biện pháp ngăn ngừa, sửa chữa và xử lý sai
phạm.
- Sau khi phát hành báo cáo kiểm toán, nếu có nghi ngờ hoặc phát hiện khách hàng có những sai
phạm trọng yếu thì công ty kiểm toán phải thông báo cho khách hàng.
- Bảo mật thông tin khách hàng
b. Mức phạt đối với KTV
Quy định ở điều 35 NĐ-CP 85/2010 ban hành ngày 2/8/2010, theo đó:
- Phạt tiền từ 30 trđ đến 50 trđ đối với tổ chức kiểm toán và KTV khi không thông báo cho khách
hàng về sự không tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan đến BCTC được kiểm toán và
không kiến nghị để ngăn ngừa, sửa chữa trong quá trình kiểm toán
- Phạt tiền từ 50 trđ đến 70 trđ đối với tổ chức kiểm toán và KTV
a. không ghi ý kiến vào báo cáo kiểm toán về những sai phạm chưa được xử lý của khách hàng
b. Không thông báo hay thông báo không kịp thời cho đơn vị được kiểm toán
- Phạt từ 70 trđ đến 100 trđ đối với tổ chức kiểm toán và KTV lập báo cáo kiểm toán không trung
thực, không chính xác, không đầy đủ thông tin cần thiết theo quy định.
- Hình thức xủ phạt bổ sung: Đình chỉ có thời hạn hoặc hủy bỏ tư cách được chấp thuận kiểm
toán của tổ chức kiểm toán của tổ chức kiểm toán, KTV do thực hiện hành vi vi phạm quy định
tại các khoản trên.
của Công ty Cenco đã ngăn cản họ phát hiện ra gian lận.
Kỳ họp thứ 7 của toà thượng thẩm đã kết luận là Công ty kiểm toán không chịu
trách nhiệm trong trường hợp này. Việc làm sai trái của Ban quản trị Công ty
Cenco được xem là lời bào chữa thích hợp chống lại lời buộc tội về vi phạm hợp
đồng, bất cẩn và gian lận cho dù ban quản trị đó không còn làm việc cho Công ty
nữa.
2. Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với bên thứ ba
- Bên thứ ba là những cá nhân, tổ chức có liên quan đến cuộc kiểm toán báo cáo tài
chính của đơn vị được kiểm toán bao gồm: cổ đông (hiện tại, tương lai), nhà cung
cấp, nhà đầu tư, ngân hàng và tổ chức tín dụng
- Ở Việt Nam, theo Khoản 12 Điều 29 Chương 3 Luật Kiểm toán độc lập ( Quốc
hội khóa 12 thông qua) quy định doanh nghiệp kiểm toán phải chịu trách nhiệm
với những người sử dụng kết quả kiểm toán sau:
+ Có lợi ích liên quan trực tiếp đến kết quả kiểm toán của đơn vị được kiểm toán;
+ Có hiểu biết một cách hợp lí về báo cáo tài chính và cơ sỏ lập báo cáo tài chính
dựa trên các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định pháp luật khác;
+ Đã sử dụng thận trọng thông tin trên báo cáo tài chính đã kiểm toán.
- KTV sẽ phải chịu trách nhiệm với bên thứ ba khi họ chịu thiệt hại về tài chính do
dựa trên kết quả kiểm toán không xác đáng.
=> Theo học thuyết Ultramares: KTV sẽ phải chịu trách nhiệm nếu bên thứ ba là
người có lợi ích liên quan cơ bản( những người mà KTV được thông báo trước khi
thực hiện cuộc kiểm toán)
Ví dụ, khách hàng thông báo với KTV thực hiện kểm toán tài chính để vay vốn,
thì KTV sẽ phải có trách nhiệm với ngân hàng nơi mà doanh nghiệp được kiểm
toán vay vốn.
Các hình thức phản vệ của KTV( sử dụng khi bên thứ ba yêu cầu bồi thường):
1.Chứng minh đã thực hiện kiểm toán không cẩu thả (hay được sử dụng).
2.Chứng minh không có trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
3.Lập luận không có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại của bên thứ ba với
hoạt động kiểm toán.
kiểm tra kỹ lưỡng sẽ tìm thấy 700. 000 USD gian lận này. Các khoản phải trả cũng
có những khoản không nhất quán tương tự.
Sau khi điều tra vấn đề, toà án liên bang Mỹ kết luận rằng các kiểm toán viên đã
có bất cẩn trong quá trình kiểm toán, tuy nhiên kiểm toán viên không phải chịu
trách nhiệm đối với các chủ nợ của Công ty Ultramares vì điều sai lầm vượt ra
ngoài phạm vi của hợp đồng kiểm toán ban đầu. Toà án cho rằng chỉ có người ký
hợp đồng với kiểm toán viên về các dịch vụ kiểm toán mới có thể kiện nếu các
dịch vụ đó được cung cấp một cách bất cẩn.
Vụ kiện này là cơ sở cho sù ra đời của cái gọi là " học thuyết Ultramares". Theo
học thuyết này, những bất cẩn thông thường không đủ ràng buộc trách nhiệm pháp
lý của kiểm toán viên với bên thứ ba vì không có quan hệ riêng theo hợp đồng giữa
bên thứ ba với kiểm toán viên. Ultramares còng cho rằng chỉ khi có gian lận hoặc
bất cẩn nghiêm trọng thì KTV có thể chịu trách nhiệm đối với bên hưởng lợi thứ
ba.
• Stephens industries kiện Haskin and Sells (1971):
Năm 1971, người mua 2/ 3 cổ phiếu của Công ty cho thuê ô tô Stephens
industries đã kiện Công ty kiểm toán Haskin and Sells vì bất cẩn khi kiểm toán các
khoản phải thu. Tuy nhiên, theo hợp đồng kiểm toán thì số liệu của các khoản phải
thu trên sổ sách của Công ty phải được giữ nguyên không có sự điều chỉnh và
trong báo cáo kiểm toán, nhận xét của KTV đã nêu cụ thể: " Theo điều khoản của
hợp đồng, chúng tôi không yêu cầu khách hàng phải xác nhận số dư của họ và
cũng không xem xét lại khả năng thu của bất kỳ khoản phải thu thương mại nào".
Việc không có sự điều chỉnh để phản ánh số tiền không thu được cũng được ghi rõ
ở " các ghi chú trong Bảng cân đối tài sản".
Áp dông " học thuyết Ultramares", toà án sơ thẩm cho rằng không có mối quan
hệ riêng theo hợp đồng giữa bên nguyên đơn và KTV nên không tồn tại trách
nhiệm pháp lý vì sự bất cẩn của KTV. Toà án phúc thẩm cũng đưa ra quyết định
tương tự.
Hiện nay học thuyết " Ultramares" đã được mở rộng: đối với những người
không có quan hệ theo hợp đồng với KTV, nhưng KTV thấy trước là sẽ sử dụng
phạt nặng nhất là ngừng tạm thời hoặc vĩnh viễn không được kiểm toán tại đơn vị
niêm yết khi công ty kiểm toán có hành vi vi phạm nghiêm trọng.
Một số ví dụ:
Để hiểu rõ về trách nhiệm với các đơn vị niêm yết, cũng như KTV làm thế nào để
phản vệ lại, chúng ta sẽ tìm hiểu về vụ bê bối của EY và sino forest
Tập đoàn lâm sản sino forest niêm yết trên thị trường chứng khoán Canada, thời
kỳ thịnh vượng có giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường Canada, tuy nhiên công ty
này bị phá sản năm 2012 chỉ sau một vụ bê bối bi phát hiện bởi một nhà phân tích
độc lập tháng 6 năm 2011, vì có bằng chứng cho rằng công ty này có dấu hiệu gian
dối sổ sách, thiếu minh bạch, cố tình đánh lạc hướng nhà đầu tư và cổ đông. Còn
về phần công ty kiểm toán EY thì bị cáo buộc là không tuân thủ các chuẩn mực về
xác định tình sở hữu và sự tồn tại của các tài sản lâm sản của công ty. Phát hiện
này công bố chỉ sau 2 tuần thì giá chứng khoán của sino forest giảm 80% và hơn
50 mã chứng khoán mác tàu giảm giá trên thị trường chứng khoán Canada, và chỉ
ít lâu sau thì sino forest đệ trình đề nghị xin phá sản. trách nhiệm pháp lý đè nặng
lên vai EY khi phải chịu thêm vụ kiện tập thể của cổ đông và nhân viên trong công
ty vì đơn giản khi công ty bị phá sản thì họ chẳng còn gì và cũng nhận thấy trách
nhiệm thuộc về công ty kiểm toán. theo đó EY đã đồng ý dành 117,6 triệu đô la để
giàn xếp vụ kiện tập thể của các cổ đông. Xin lưu ý thêm là giàn xếp ở đây là hoàn
toàn hợp pháp và có quyết định của tòa án
Vậy EY đã xử lý như thế nào?
Theo đúng như lý thuyết, công ty kiểm toán có 4 cách để phản vệ, một là ktv
biện minh rằng không có đủ thẩm quyền. thư 2 ktv chứng minh là đã thực hiện
kiểm toán không cẩu thả. Thứ 3 ktv chứng minh thiệt hại là sự bất cẩn toàn bộ.
cuối cung ktv lập luận là không có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại của khách
hàng với hoạt động kiểm toán. trong tình huống với sino forest ktv đã áp dụng cách
phản biện thứ 2. Đó là kiểm toán viên sử dụng những bằng chứng là giấy tờ làm
việc, chuẩn mực và các bằng chứng khác để chứng minh rằng mình đã tuân thủ các
các chuẩn mực và rằng mình đã đánh giá đúng sự tồn tại và sở hữu của các tài sản
lâm sản của sino, phản bác lại các cáo buộc. ktv dễ dàng đưa ra pản biện này vì đặc
có trách nhiệm bảo mật thông tin theo các điều khoản về tư cách đạo đức trong bản
quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
Cuối cùng, Toà án liên bang Mỹ đã quyết định Công ty kiểm toán phải bồi
thường thiệt hại cho các cổ đông của Fund of Funds 80 triệu USD, mét phán
quyết cao nhất dành cho Công ty kiểm toán cho đến thời điểm lúc đó.
4. Trách nhiệm hình sự của kiểm toán viên
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý được thể hiện bằng
việc người phạm tội bị áp dụng một hoặc nhiều các biện pháp cưỡng chế hình sự
khác nhau do Luật Hình sự quy định.
Trong lĩnh vực kiểm toán, trách nhiệm hình sự phát sinh khi: Cam kết của kiểm
toán viên với quốc gia hay chính phủ là sai lầm; khi kiểm toán viên lừa gạt một
người khác qua báo cáo tài chính sai.
- Kiểm toán viên chịu trách nhiệm hình sự khi kết luận sai một cách trọng yếu
với mục tiêu đánh lừa hay gây hiểu lầm ( Điều 46 Luật Công ty của Anh)
- Kiểm toán viên chịu trách nhiệm hình sự khi lừa gạt người khác thông qua
BCTC có sai phạm ( Luật chứng khoán thống nhất Hoa Kỳ)
- Vi phạm hình sự xảy ra khi kiểm toán viên thực hiện những hoạt động không
liên quan đến kiểm toán như nhận hối lộ, hối lộ cán bộ thuế, lập hồ sơ hoàn
thuế giả mạo,
Vi phạm hình sự làm ảnh hưởng rất tiêu cực đến uy tín nghề kiểm toán.
* Một số ví dụ
VD1. Trong quá trình kiểm toán, nếu KTV có những vi phạm nghiêm trọng thì
có thể phải chịu trách nhiệm hình sự như trong trường hợp UNITED STATES kiện
SIMON (1969): vụ kiện này liên quan đến việc ba KTV bị kiện vì đệ trình các báo
cáo giả đến một cơ quan Nhà nước và vi phạm đến luật trao đổi chứng khoán năm
1934. Kết thúc vụ kiện ba KTV bị phạt tổng số tiền là 17000 USD và bị mất giấy
chứng nhận KTVĐL theo điều 501 của bản điều lệ đạo đức nghề nghiệp (hành vi
làm mất tín nhiệm) và bị buộc phải ra khái nghề. Sau đó, họ được tổng thống
Nixơn ân xá.
VD2. TAND tỉnh Quảng Ngãi đã mở phiên tòa hình sự xét xử vụ 4 kiểm toán