CHƯƠNG 1: NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
TỈNH HẢI DƯƠNG
1.1 Vị trí địa lí
Hải Dương là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, lại nằm trong địa bàn
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, với tổng diện tích tự nhiên là 1651 km
2
. Hải Dương có
tọa độ địa lí từ 20
0
36’B đến 21
0
33’B và từ 106
0
30’Đ đến 106
0
36’Đ. Với vị trí này,
Hải Dương là điểm chung chuyển giữa thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, tạo
mối giao lưu giữa các vùng kinh tế khác trong nước cũng như các nước trong khu
vực và trên thế giới. Đây cũng là những đô thị có dân số đông, là thị trường tiêu
thụ rộng rãi các sản phẩm nông nghiệp của tỉnh. Đồng thời cũng là nơi cung cấp
máy móc, trang thiết bị kĩ thuật để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn của tỉnh.
Hải Dương nằm trên trục giao thông đường sắt, đường bộ, đường sông thuận
lợi thuận tiện như quốc lộ 5, 18, 37… tạo thế mạnh để giao lưu, vận chuyển sản
phẩm nông nghiệp từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ, rút ngắn quá trình vận chuyển,
nâng cao chất lượng của sản phẩm nông nghiệp.
Với những thuận lợi đặc biệt về vị trí địa lí như trên, Hải Dương đã và dang
phát huy lợi thế đó trong phát triển kinh tế, đặc biệt trong phát triển nông nghiệp
của tỉnh, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn, phát triển nông nghiệp của tỉnh theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá
trị sản xuất của ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, góp phần nâng
đông bắc hoạt động yếu làm cho thời tiết nóng lên sớm, bất thường. CÒn về mùa
hạ tùy theo nhịp điệu và sự xuất hiện của hội tụ front bãi biển Đông mà gây nên sự
khác biệt về cường độ, thời gian, lượng mưa giữa các năm. Đồng thời sự hoạt động
xen kẽ của tín phong bắc bán cầu, gió phơn tây nam, gió mùa đông bắc tạo nên sự
gián đoạn thay đổi thất thường mưa – khô, nóng lạnh trong những ngày mùa hè.
Tóm lại, với đặc điểm khí hậu này cùng với công tác thủy lợi được quan
tâm, chú trọng xây dựng cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu
của tỉnh và chuyển đổi cơ cấu mùa vụ hợp lí… thì trên địa bàn tỉnh có khả năng
xen canh, gối vụ, thâm canh, tăng diện tích gieo trồng… làm tăng năng suất, sản
lượng, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển nông nghieepjj của tỉnh.
1.2.3 Tài nguyên nước
Hải Dương có mạng lưới sông ngòi tự nhiên và sông nội đồng dày đặc cùng
với hàng nghìn ao hồ nhỏ.
Các sông ở Hải Dương có hai nguồn cung cấp là nước mưa trong tỉnh và
lượng nước từ các nơi khác đổ vào. Trong đó, đối với các sông lớn thì lượng nước
từ các nơi khác đổ vào (nước từ thượng nguồn và thủy triều) là chủ yếu. Còn các
song trong nội đồng, ngoài việc lấy nước qua các cống, các trạm bơm thì nước mưa
cũng là một phần quan trọng. Lượng mưa trung bình năm từ 1400 – 1700 mm, do
đó, tổng lượng nước mặt khoảng 20 – 30 tỉ m
3
/năm. Tổng chiều dài sông lớn đạt
5000 km và trên 2000 km sông nhỏ, tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất nông
nghiệp phát triển.
Nguồn tài nguyên nước ngầm của tỉnh Hải Dương khá phong phú tuy nhiên
chưa được nghiên cứu kĩ, khai thác và đưa vào phục vụ nhiều cho mục đích sản
xuất nông nghiệp.
Như vậy, tỉnh Hải Dương có nguồn tài nguyên nước phong phú tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, thâm canh, tăng vụ… Nhưng mực nước
của các sông trong tỉnh có sự khác nhau rõ rệt giữa các mùa: mùa mưa các sông có
nhiều nước thường gây ngập úng, còn mùa khô các sông ít nước và thường thiếu
kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp. Như vậy, dân số đông và tăng nhanh tạo
ra một lực lượng lao động nông nghiệp dồi dào, một thị trường tiêu thụ các sản
phẩm nông nghiệp rộng lớn. Do đó tạo điều kiện cho việc phát triển một số cây
trồng cần nhiều lao động như: cây lương thực, các loại rau đậu… và phát triển một
nền nông nghiệp với trình độ thâm canh cao.
1.3.2 Cơ sở vật chất, kĩ thuật
- Hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, nhìn chung hầu hết các xã trong
huyện, tỉnh đều có một trạm bơm khá kiên cố, hệ thống kênh dẫn được bê tong
hóa, mở rộng, hệ thống mương nội đồng thường xuyên được nạo vét… tạo điều
kiện thuận lợi cho công tác tười tiêu, thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.
- Ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, nhiều máy móc đã được sử dụng
vào tất cả các khâu của quá trình sản xuất: máy cày và cơ giới hóa làm đất, máy
tuốt lúa, máy bơm, máy gieo xạ, máy cấy.
- Nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới cho năng suất cao, chất lượng tốt như:
giống lúa P6, AC5…., cây thực phẩm như dưa lai, bí lai, măng tây.. Việc đưa vào
sản xuất nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới đã góp phần nâng cao năng suất, chất
lượng và giá trị trong sản xuất nông nghiệp. Công tác bảo vệ thực vật đã được thực
hiện có hiệu quả, xác định được các loại sâu bệnh gây hại cho cây trồng, đề ra
được các giải pháp phòng trừ sâu bệnh theo hướng tích cực, hạn chế sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật hợp lí nhằm tăng giá trị và chất lượng của nông sản, bảo vệ môi
trường.
1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Mạng lưới giao thông vận tải của Hải Dương khá hoàn chỉnh với đầy đủ các
loại hình giao thông, bao gồm cả đường ô tô, đường sắt, đường sông… Mạng lưới
giao thông vận tải phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển các sản
phẩm nông sản, máy móc, phân bón, thuốc trừ sâu… tốt hơn, là tiền đề để xây
dựng một nền nông nghiệp hàng hóa.
Như vậy, mạng lưới giao thông vận tải của tỉnh khá phát triển tạo điều kiện
cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các xã, các huyện trong tỉnh và với các
tỉnh khác trong vùng. Đặc biệt là việc vận chuyển các sản phẩm nông nghiệp đến
đó, dân số đông trong tỉnh đã trở thành một nguồn lực thực sự cho việc phát triển
nông nghiệp
+ Thị trường ngoài tỉnh: Hải Dương giáp với 3 đô thị lớn Hà Nội, Hải
Phòng, Hạ Long… đây là một thị trường tiêu thụ rộng lớn. Tuy nhiên, những thị
trường này cũng đòi hỏi cao về sự đa dạng và chất lượng của sản phẩm nông
nghiệp; đó là động lực giúp cho nông nghiệp của tỉnh Hải Dương phát triển với cơ
cấu đa dạng và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm.
Như vậy, sản phẩm nông nghiệp bảo tỉnh có thị trường tiêu thụ rộng lớn, tạo
điều kiện cho nông nghiệp của tỉnh phát triển đa dạng, quy mô sản xuất được mở
rộng và nâng cao chất lượng sản phẩm. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống của người dân.
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ
NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1 Khái quát chung
2.1.1 Vị trí của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế tỉnh Hải Dương
Ngành nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng, năm 2009 chiếm 89,9% trong
cơ cấu giá trị sản xuất cảu khu vực nông – lâm – thủy sản. Quy mô giá trị sản xuất
nông nghiệp cao gấp 197 lần so với ngành lâm nghiệp và 9,3 lần so với nghành
thủy sản.
Bảng 1: Giá trị sản xuất, cơ cấu sản xuất nông – lâm – thủy sản giai đoạn
2005 – 2009
Năm 2005 2007 2009
Tỉ đồng % Tỉ đồng % Tỉ đồng %
Tổng số 5988,1 100 7353,0 100 10244,8 100
Nông nghiệp 5493,8 91,7 6610,0 89,9 9208,0 89,9
Lâm nghiệp 21,7 0,4 22,7 0,3 46,7 0,4
Thủy sản 472,6 7,9 719,3 9,8 990,1 9,7
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2009
Với vị trí đó, nông nghiệp đóng góp một phần cơ bản vào GDP khu vực
nông – lâm - ngư nghiệp đang chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỉ trọng ngành
trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Tuy nhiên, sự chuyển dịch còn diễn
ra chậm và chưa ổn định.
Bảng 3: Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp
giai đoạn 2000 – 2009 (Giá thực tế)
2000 2005 2008 2009
Tỉ
đồng
% Tỉ đồng % Tỉ đồng % Tỉ đồng %
Tổng số 2.943,2 100 3753,2 100 4105,1 100 4031,1 100
Trồng trọt 2.139,6 72,7 2363,7 63,0 2550,3 62,1 2418,5 60,0
Chăn nuôi 740,9 25,2 1195,0 31,8 1335,1 32,5 1381,1 34,3
Dịch vụ 62,6 2,1 194,5 5,2 219,6 5,4 231,5 5,7
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2009.
Ngành trồng trọt vẫn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu giá trị sản xuất nông
nghiệp, đạt 60% năm 2009.
Ngành chăn nuôi chiếm tỉ trọng khá, có tăng lên nhưng tốc độ còn chậm, đạt
34,3% năm 2009.
Tỉ trọng ngành dịch vụ nông nghiệp còn thấp và tốc độ tăng chậm, năm
2009 chỉ đạt 5,7%.
Sản xuất trồng trọt và chăn nuôi đang từng bước chuyển dần từ sản xuất tự
cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa và nâng cao thu nhập trên 1 đơn vị diện tích.
2.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp theo ngành
2.2.1 Trồng trọt
Trồng trọt là ngành có nhiều lợi thế nhất trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh
Hải Dương. Ngành trồng trọt hiện chiếm 60% giá trị sản xuất nông nghiệp của
tỉnh. Tốc độ tăng trưởng của ngành trồng trọt tuy co giảm trong giai đoạn 2000 –
2009 tuy nhiển tỷ trọng của ngành vẫn chiếm 60% trong cơ cấu giá trị sản xuất
nông nghiệp của ngành nông nghiệp. Trồng trọt vẫn giữ vai trò quan trọng trong
sản xuất nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Giá trị sản phẩm thực tế thu hoạch trên một ha đất trồng trọt và nuôi trồng
(15,4%), nhưng chủ yếu là do sự đột biến tưng về giá nông sản (chỉ số giá nông sản
phẩm tăng 34,9%, riêng giá lúa tăng 54%)
Bảng 5: Giá trị sản phẩm trên 1ha đất nông nghiệp phân theo huyện, thành
phố năm 2006 – 2010. (Tính theo giá bình quân chung của tỉnh Hải Dương). Đơn
vị: triệu đồng/ha,%
2005 2006 2007 2008 2009 2010 Chỉ số
tăng BQ
năm (%)
Toàn tỉnh 38,3 42,7 43,8 67,2 69,4 73,5 13,9
Hải Dương 30,7 31,7 27,8 61,4 67,2 71,4 18,4
Chí Linh 19,2 23,8 31,3 41,8 42,5 46,2 19,2
Nam Sách 40,5 42,9 49,8 65,5 74,2 78,4 14,1
Kinh Môn 35,6 39,1 46,3 64,2 67,4 71,7 15,0
Kim Thành 44,1 53,2 57,9 79,1 89,0 93,2 16,1
Thanh Hà 29,4 36,1 38,9 52,3 54,0 57,5 14,4
Cẩm Giàng 46,0 48,9 55,3 77,9 78,9 83,1 12,6
Bình Giang 37,2 41,3 45,7 66,3 66,7 71,0 13,8
Gia Lộc 64,8 71,3 85,3 111,1 110,8 115,1 12,2
Tứ Kì 42,8 42,8 53,9 72,4 77,1 81,38 13,7
Nam Giang 37,6 38,6 42,0 63,6 65,7 70,0 13,2
Thanh Miện 38,5 41,8 46,2 66,8 64,6 68,8 12,3
Nguồn: Kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương 5 năm (2006 – 2010)
Giá trị sản phẩm trồng trọt và nuôi trồng thủy sản ở các huyện, thị xã, thành
phố nhìn chung đều tăng qua các năm, năm sau cao hơn năm trước. Dẫn đầu trogn
việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và quay vòng đất để đạt được hiệu quả
kinh tế cao nhất là huyện Gia Lộc; với lợi thế của huyện là quỹ đất phong phú, tỷ
lệ diện tích đất loại I cao, nguồn nhân lực dồi dào, kinh nghiệm, trình độ kĩ thuật
thâm canh cây, con cao nên kết quả sản xuất đạt cao nhất trong tỉnh, năm 2005 đạt
64,8 triệu đồng/1ha, năm 2010 đạt 115,1 triệu dồng/ha.
Thị xã Chí Linh, do đặc điểm của miền đồi núi, đất bạc màu, độ dinh dưỡng
trogn tỉnh. Vùng trọng điểm thâm canh cây lương thực nằm ở vùng có đất đai màu
mỡ, khí hậu thuận lợi, hệ thống thủy lợi khá hoàn chỉnh và dịch vụ nông nghiệp
như: phân bón, thuốc trừ sâu…. phát triển nên cho năng suất cao, đó là các huyện
Cẩm Giàng, huyện Thanh Miện.
Bình quân lương thực có hạt trong giai đoạn 2000 – 2009 không ổn định.
Giai đoạn 2000 – 2007, bình quân lương thực trên đầu người giảm mạnh do sự
giảm sút của diện tích gieo trồng và giảm mạnh của sản lượng lương thực, từ 508,6
kg/người năm 2000 xuống 449,8 kg/người năm 2007. Từ sau 2007 trở lại đây, bình
quân lương thực có xu hướng tăng lên, đạt 464,4 kg/người. Cho đến nay, trên địa
bàn tỉnh Hải Dương đã đạt mức trugn bình về an ninh lương thực, trên cơ sở đó tạo
điều kiện để khai thác thế mạnh một số cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển các
ngành nghề khác. Tuy nhiên, mức bình quân lương lực của tỉnh còn thấp hơn so
với mức trung bình của cả nước (503,7 kg/người). Cho nên, trong những năm tới,
tỉnh cần chú trọng hơn nữa trong vấn đề an ninh lương thực, nâng cao đời sống
nhân dân, thay đổi bộ mặt nông thôn.
* Cây lúa
Từ nhiều đời nay, trong cơ cấu diện tích và sản lượng của tỉnh, cây lúa vẫn
giữ vai trò quan trọng.
Bảng 6: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tỉnh Hải Dương
giai đoạn 2000 – 2009
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2009
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(Nghìn tấn)
2000 147.4 55.8 823.4
2001 145 54.9 796.5
DT(nghìn ha) 74,1 67,2 64,9 63,6 63,9
NS(tạ/ha) 59,1 63,8 58,4 64,9 64,6
SL(nghìn tấn) 438,3 429,2 379,1 413,3 413,4
Lúa
hè thu
DT(nghìn ha) 73,3 66,0 63,7 63,1 63,0
NS(tạ/ha) 52,5 52,2 56,9 53,0 57,1
SL(nghìn tấn) 385,1 344,8 362,7 335,4 360,0
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2009
Về cơ cấu giống: Hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa có tác động rất lớn
đến sản xuất lúa, do đó người nông dân quan tâm nhiều hơn tới nhu cầu của thị
trường. Nông dân đang có xu hướng coi trọng chất lượng, giá trị và lợi nhuận, thị
hiếu người tiêu dung. Các giống lúa chất lượng cao đang được phát triển mạnh mẽ
như Bắc thơm, Nếp thơm, Thiên Hương… Một số giống lúa cho năng suất rất đến
vài tấn/ha mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Về phân bố: Cây lúa được trồng phổ biến trong toàn tỉnh, tuy nhiên cũng có
sự phân hóa về diện tích và sản lượng .
Bảng 8: Diện tích, sản lượng lúa phân theo huyện, thành phố của
tỉnh Hải Dương năm 2009.
Diện tích(nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn)
Hải Dương 2,7 16,8
Chí Linh 9,1 48,5
Nam Sách 9,5 60,5
Kinh Môn 12,7 74,7
Kim Thành 9,1 53,4
Thanh Hà 7,8 48,0
Cẩm Giàng 8,9 57,2
Bình Giang 12,6 78,3
Gia Lộc 10,3 66,2
Tứ Kì 15,5 94,8
Biểu đồ 2: Tình hình sản xuất ngô giai đoạn 2000 - 2009
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Năm