VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHO TRẺ EM NGHÈO TẠI TRƯỜNG TÌNH THƯƠNG BÀ MƯỜI - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA/BỘ MÔN: KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG NĂM 2015.
TÊN CÔNG TRÌNH: VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHO TRẺ EM NGHÈO TẠI
TRƯỜNG TÌNH THƯƠNG BÀ MƯỜI.
KE-45 phường Tân Thuận Tây, Q7.Thành phố Hồ Chí Minh
.
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
CHỦ NHIỆM : LÊ THỊ ÁNH Lớp k06 khoa Công Tác Xã Hội
THÀNH VIÊN: HOÀNG THỊ HÀNH Lớp k06 khoa Công Tác Xã Hội
LÂM HÙNG THANH Lớp k06 khoa Công Tác Xã
Hội
LÝ THỊ NÉN Lớp k06 khoa Công Tác Xã Hội
Người hướng dẫn:
THS. TẠ THỊ THANH THỦY, GIẢNG VIÊN KHOA: CÔNG TÁC
XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN.
TP.HCM. NGÀY 03/03/2015
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ST
T
Tên đầy đủ Viết tắt
1 Bộ Lao động thương binh và Xã hội BLĐTB&XH
2 Bảo trợ trẻ em Việt Nam BTTE VN
3 Uỷ ban Nhân Dân UBND
4 Thành phố Hồ Chí Minh TP. HCM
5 Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc UNP
6 Tổ chức Bảo vệ quyền trẻ em UNICEF
7 Giáo sư.Tiến sĩ GS.TS
8 Nhà xuất bản NXB


người thực hiện, còn tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, thời điểm cụ thể riêng của trường
tình thương bà Mười. Trong phần này tác giả đã tổng kết những kết quả của cuộc
nghiên cứu và đưa ra đề xuất của mình để góp phần giảm những khó khăn, nâng cao
chất lượng dạy và học cho trẻ em nghèo đang theo học tại trường tình thương bà Mười
tại phường Tân Thuận Tây, Q7.Tp Hồ Chí Minh.
2
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Một trong vấn đề khá quan trọng của xã hội hiện nay là việc các trẻ theo cha mẹ đến
thành phố kiếm sống ngày càng phổ biến và với số lượng lớn ngày càng tăng. Vậy khi
các em lên thành phố với cha mẹ cuộc sống các em sẽ như thế nào? các em có được
học hành theo trường, theo lớp hay phải phụ giúp gia đình, như các em đi bán vé số,
đánh giầy, lượm ve chai, lang thang trên các nẻo đường

thay vì được ngồi trên ghế
nhà trường như khi còn ở thôn quê.? Với những câu hỏi đó đã có rất hiều các nhà hoạt
động xã hội, hoạch định chính sách giáo dục trong đó vấn đề giáo dục được quan tâm
nghiên cứu nhất là giáo dục đối với các trẻ em nghèo, một vấn đề nổi cộm trong xã hội
hiện nay. Tuy nhiên trên thực tiễn lại có rất ít đề tài nghiên cứu cụ thể về vấn đề giáo
dục trẻ em nghèo tại các trường tình thương, nhưng đa phần các lớp học tình thương
chỉ được phản ánh nhiều thông qua các bài báo nhất là báo giáo dục và tuổi trẻ như
các bài báo : Lớp học tình thương của mẹ Năm Tốt, lớp học tình thương Vạn Đò,
trường tình thương Hòa Hảo
Và các đề tài trên chỉ nghiên cứu một hiên trạng khá chung chung hoặc tập trung vào
một vấn đề và làm rõ vấn đề đó, chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh,
những ảnh hưởng, hay phương pháp giáo dục mà hiện nay các trường tình thương
đang áp dụng.
Việc nghiên cứu chưa thể tổng quát được thực trạng những vấn đề mà trẻ có hoàn
cảnh khó khăn gặp phải trong giáo dục ở các trường tình thương cũng như những
phương pháp dạy học các em sao cho đạt hiệu quả?. Nhận thấy được những mặt hạn
chế của các đề tài nói trên, nhóm chúng tôi đã tập trung nghiên cứu

tật, 147 nghìn trẻ mồ côi, 12 nghìn trẻ em lang thang, 12,5 nghìn trẻ bị nhiễm HIV ,27
nghìn trẻ em lao động sớm, 5,7 nghìn trẻ em nghiện ma túy và 247nghìn trẻ em bị
xâm hại tình dục.
Với sự hỗ trợ của UNICEF, Việt Nam gần đây đã xây dựng một cách tiếp cận về
nghèo dành riêng cho trẻ em. Đó là cách tiếp cận đa chiều, dựa trên quyền của trẻ em,
tổng hợp 8 lĩnh vực: giáo dục, dinh dưỡng, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, lao động
trẻ em, giải trí, tham gia và bảo trợ xã hội. Nếu không được đáp ứng 2 trong 8 nhu cầu
ấy được coi là nghèo, thì nước ta có khoảng 1/3 số lượng trẻ em (tương đương gần 7
triệu) nghèo dưới 16 tuổi vào năm 2006.
Chính vì vậy, sự bất bình đẳng ở trẻ em các gia đình nghèo và không nghèo ngày càng
gia tăng. Chỉ tính riêng về vấn đề dinh dưỡng, theo số liệu mới nhất, Việt Nam có
khoảng 31,9% trẻ em suy dinh dưỡng thấp còi (Viện Dinh dưỡng Quốc gia, 2/2009).
Khoảng 1/3 số trẻ em dưới năm tuổi bị còi cọc do suy dinh dưỡng kéo dài. Cứ ba trẻ
em dưới 5 tuổi thì có hơn một em chưa được tiêm chủng đầy đủ. Gần 1/2 tổng số trẻ
em không được tiếp cận với thiết bị vệ sinh hợp vệ sinh ngay tại gia đình và 2/3 trẻ em
không có được một quyển truyện tranh hay một quyển sách dành cho thiếu nhi để đọc,
khoảng 20% trẻ em bị thiếu cân và suy dinh dưỡng.Tai nạn thương tích trẻ em là một
nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng tử vong ở trẻ từ 1 tuổi trở lên đại dịch HIV
ở trẻ em tỷ lệ tương đối thấp, nằm trong nhóm có nguy cơ cao như trẻ mại dâm và trẻ
có sử dụng ma túy. Nhưng đến năm 2012, số người nhiễm HIV ước tính tăng lên
khoảng 280.000 người trong đó có khoảng 5.500 trẻ em (xấp xỉ 2%).
4
Với tỷ lệ di cư và tình trạng gia đình tan vỡ tăng lên, trẻ em Việt Nam đang đứng trước
nguy cơ cao hơn bị lạm dụng, bóc lột, bạo lực và xao nhãng. Năm 2006, có 40% trẻ
em nghèo sống ở các vùng nông thôn trong khi đó tỷ lệ trẻ em nghèo sống ở các thành
phố là khoảng 10%. Tỷ lệ nghèo trẻ em cao nhất là ở các vùng núi phía Bắc, tới 78% ở
Tây Bắc và Đông Bắc và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có tới 60% trẻ em được xác
định là nghèo. Tình trạng chênh lệch về giáo dục vẫn còn tồn tại với khoảng 75% trẻ
em thành phố được học mẫu giáo trong khi chỉ có 51% trẻ em nông thôn được học
mẫu giáo.

người dân tộc thiểu số đã được mua thẻ bảo hiểm y tế- khoảng hơn 15 triệu người. Có
hơn 1,6 triệu đối tượng cận nghèo có bảo hiểm y tế. Trong hai năm 2011, 2012 có 29
triệu lượt người nghèo, dân tộc thiểu số được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí.
Với thực trạng nghèo đáng lo ngại như vậy, nhà nước ta cũng đã có những chính sách
cụ thể trong việc hỗ trợ trẻ em nghèo như Hội đồng Bảo trợ Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt
Nam tổ chức họp tổng kết công tác năm 2013 và triển khai kế hoạch năm 2014 do Ủy
viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan - Chủ tịch Hội đồng Bảo
trợ Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam chủ trì cuộc họp tham dự còn có Thứ trưởng Bộ LĐ-
TBXH Doãn Mậu Diệp; Giám đốc Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam Hoàng Văn Tiến
cùng các ủy viên trong Hội đồng tại cuộc họp, Giám đốc Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam
Hoàng Văn Tiến báo cáo về kết quả vận động của Quỹ trong năm 2013. Theo đó,
nguồn vận động vượt mức kế hoạch, tổng nguồn tiền và hiện vật tài trợ đạt trên 62 tỷ,
đạt 125% kế hoạch năm, trong đó nguồn vận động trực tiếp qua Quỹ BTTEVN là 26,3
tỷ đồng. Căn cứ trên nhu cầu của địa phương và nguồn lực vận động, Quỹ
BTTEVN(bảo trợ trẻ em Việt Nam) đã triển khai các hoạt động hỗ trợ cho 37.643 trẻ
em tại 63 tỉnh, thành phố, tương ứng với tổng kinh phí 67 tỷ 756 triệu đồng (trong đó
ngân sách 4,9 tỷ, nguồn vận động 62 tỷ 856 triệu đồng).
Mục tiêu năm 2014 của Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam là: Vận động đạt 87 tỷ
đồng (tăng 40,3 % so với năm 2013); Hỗ trợ cho 58.000 trẻ em (tăng 16,7% so với
năm 2013) thông qua các chương trình hỗ trợ của Quỹ.
Một trong những nội dung chính của cuộc họp là thảo luận, xin ý kiến các thành viên
Hội đồng Bảo trợ về công tác vận động nguồn lực hỗ trợ trẻ em năm 2014 với Quỹ
Bảo trợ trẻ em Việt Nam. Các ủy viên của Hội đồng Bảo trợ Quỹ đã có những ý kiến
đóng góp, những gợi ý để xây dựng công tác vận động, huy động nguồn lực cao nhất
hỗ trợ cho trẻ em nghèo, có hoàn cảnh khó khăn ở những vùng miền khó khăn. Đồng
thời, các đại biểu cùng nhau thảo luận để có những hình thức hỗ trợ hiệu quả nhất cho
trẻ em nghèo.
Tháng Hành động Vì Trẻ em năm 2010 (15/5-15/6) có chủ đề

Tạo cơ hội phát triển

giảm nghèo, tăng hộ khá bằng giải pháp khảo sát, phân loại, nắm chắc mức sống, điều
kiện sống, lao động việc làm của hộ nghèo để có biện pháp hỗ trợ cụ thể, thiết thực
như hỗ trợ vốn tín dụng, đào tạo nghề, giải quyết việc làm và thực hiện các chương
trình an sinh xã hội.
Theo Phó Trưởng ban Chỉ đạo xóa đói giảm nghèo và việc làm TP.HCM. Nguyễn Văn
Xê, các hộ nghèo đều hạn chế về trình độ, tay nghề và thậm chí, một số thành viên
trong gia đình ý thức kỷ luật kém

Bởi vậy, bên cạnh giới thiệu họ tới các doanh
nghiệp làm việc, TP.HCM còn tăng cường giải pháp về cho vay vốn, tự tạo việc làm.
Từ nhiều nguồn lực cho vay vốn ưu đãi và quỹ tín dụng

các hộ nghèo đã vươn lên
thoát nghèo hiệu quả. Năm 2013, TP.HCM giảm 122.000 hộ nghèo so với năm 2009.
Cuối năm 2013, thành phố nỗ lực kéo giảm còn dưới 1% số hộ nghèo và kết thúc sớm
chương trình giảm hộ nghèo, tăng hộ khá giai đoạn 3 trước 2 năm so với kế hoạch trên
toàn thành phố.
Đây là thông tin từ hội thảo

Vấn đề nghèo khu vực đô thị và lấy ý kiến dự thảo đề
cương báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo
giai đoạn 2005-2012

do Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội, tổ chức ngày 7-3.
7
Theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ nghèo khu vực thành thị năm 2012 giảm còn khoảng
4,3%. Còn điều tra của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 2013 cho thấy, tỷ lệ
nghèo theo chuẩn quốc gia ở một số tỉnh, thành phố rất thấp: Hà Nội 2,66%; Đà Nẵng
0,83%; TP Hồ Chí Minh 0%; Bình Dương 0%, Đồng Nai 0,66%, Bà Rịa - Vũng Tàu
0,95%. Đây cũng là sáu địa phương nâng chuẩn nghèo cao hơn chuẩn nghèo quốc gia

Minh của dự án

Hỗ trợ đánh giá sâu về tình trạng nghèo đô thị ở Hà Nội và TP. Hồ
Chí Minh

do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ, ông Nguyễn
Phong, đại diện nhóm chuyên gia nghiên cứu cho biết: Kết quả điều tra nghèo đô thị
8
với tám chiều đói nghèo, gồm: thu nhập, giáo dục, y tế, tiếp cận hệ thống an sinh xã
hội, chất lượng và diện tích nhà ở, dịch vụ nhà ở, tham gia các hoạt động xã hội, an
toàn xã hội đã cho thấy bức tranh đầy đủ hơn về tình trạng nghèo ở hai thành phố này.
Mặc dù có tỷ lệ nghèo thu nhập thấp hơn Hà Nội nhưng TP.HCM lại có tỷ lệ nghèo
cao hơn đối với tất cả các chiều thiếu hụt khía cạnh xã hội. Ở cả hai thành phố, ba lĩnh
vực thiếu hụt nhiều nhất là tiếp cận hệ thống an sinh xã hội, tiếp cận các dịch vụ nhà ở
phù hợp (dịch vụ điện, nước, rác thải) và tiếp cận nhà ở có chất lượng và diện tích phù
hợp. Tại TP.HCM tỷ lệ người không có thẻ bảo hiểm y tế cao (42,8%). Tại hai thành
phố, người dân ở khu vực nông thôn và người dân di cư chịu thiếu hụt ở tất cả các
chiều nhiều hơn người dân thành thị và dân có hộ khẩu

.
Theo cục thống kê về dân số kết quả cuộc điều tra dân số giữa kỳ năm 2004
(1/10/2004) ở TP HCM cho thấy, hiện nay toàn TP có 1.844.548 người đến từ các tỉnh,
thành phố trong cả nước chiếm 30,1% dân số toàn TP (6.117.251 người). Theo số liệu
thống kê năm 2000, số người không có hộ khẩu thường trú chỉ chiếm 15,2% (730.878
người). Tỷ lệ này tăng dần theo thời gian, năm 1998 là 12,9% trên toàn địa bàn TP.
Mặc dù có thể có những sai số nhất định, thực tế cũng cho thấy rõ ràng trong 5 năm trở
lại đây số người không có hộ khẩu thường trú đã tăng đáng kể, ít nhất là từ 700.000
đến 1 triệu người.
Tỷ lệ tăng cơ học của TP. HCM cũng gia tăng rõ rệt, nếu thời kỳ 1979-1989 là 0,02%,
thì thời kỳ 1989-1999 là 0,84% và thời kỳ 1999-2004 là 2,33%. Sự gia tăng này đã kéo

công lập (trường nhà nước) nên việc các em vào học ở những ngôi trường tình thương
là không tránh khỏi thậm chí còn rất nhiều. Trong nội dung buổi thảo luận nghiên
cứu và vận động chính sách về tác động kinh tế xã hội của di cư tại địa phương đi và
địa phương đến" mà Viện nghiên cứu phát triển xã hội đề cập đến nội dung ở Việt
Nam cản trở lớn nhất tới sự ra đời của bất kì chính sách bảo trợ xã hội cho người di cư
là do quan điểm khá phổ biến coi người dân di cư như là gánh nặng của các dịch vụ
công cộng và là các nhân tố gây mất ổn định xã hội ( ví dụ: người di cư bị xã hội nhìn
nhận là dễ nhiễm các tệ nạn xã hội như là sử dụng ma túy, mại dâm, và các hành động
phạm pháp khác). Trong khi đó những đóng góp tích cực của di dân cho các khu vực
đô thị thì hầu như không được ghi nhận, thậm chí ở các nơi đi có rất ít thông tin về tác
động của người di cư đến gia đình và cộng đồng của họ đến quê hương.
Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:
Chỉ ra những đóng góp của người di cư tại khu vực đô thị đến thông qua việc hình
thành và tham gia vào thị trường lao động cũng như là tạo ra các hiệu quả kinh tế.
Làm sáng tỏ giả thuyết "Người di cư đồng nghĩa với các gánh nặng về các dịch vụ xã
hội" và "Người di cư có nghĩa là các tệ nạn xã hội" ở điểm đến đô thị. Xem xét tác
động của người di dân đối với cộng đồng nơi đi. Vận động cho các chính sách bảo trợ
xã hội cho người di cư.
Trước những hạn chế về mặt kiến thức nêu trên dự án nghiên cứu và vận động chính
sách có mục đích là để: Cung cấp những hiểu biết về tác động kinh tế xã hội của di dân
nông thôn- đô thị đến địa phương nơi đi và nơi đến thông qua một cuộc điều tra quốc
gia về đi dân; và sử dụng các kết quả nghiên cứu cho việc vận động chính sách bảo trợ
xã hội cho người di cư.
10
Nghiên cứu này hướng tới việc làm thay đổi các quan điểm tiêu cựcvề di dân, khẳng
định những đóng góp tích cực của người di cư cho quá trình phát triển trong khi vấn
lưu ý đến các mặt tiêu cực khác mà di cư có thể gây ra.
Xét thấy các nghiên cứu trên có đề cập tới những mặt tích cực cũng như ảnh hưởng
tiêu cực của việc di cư và nhập cư, từ đó giúp mọi người có cái nhìn mới mẻ hơn về
nhóm đối tượng này, nghiên cứu cũng đã đề xuất những giải pháp cụ thể và các chính

thấy đó là vấn đề học sinh bỏ học, bạo lực trong học đường, vấn đề sức khỏe. Cần có
những biện pháp thông qua con đường công tác xã hội học đường giúp học sinh thoát
khỏi những tổn thương, thiếu thốn. Điều đó cũng cho thấy hiện nay đã có một số
trường học đã quan tâm và đẩy mạnh mô hình này.
Nhìn nhận ở một góc độ nhà nghiên cứu Thạc sĩ Đỗ Văn Bình cho rằng: "Ở
Việt Nam trong những năm qua các vấn đề xã hội của học sinh ngày càng có xu hướng
gia tăng, vai trò giáo dục của gia đình, cộng đồng cũng như một số hạn chế của cơ chế
chính sách giáo dục đã được nhiều chuyên gia cũng như toàn xã hội quan tâm phân
tích, góp ý và một số thử nghiệm mô hình công tác xã hội học đường đã được triển
khai và đạt kết quả tốt.
Do vậy việc xây dựng và phát triển nghề công tác xã hội nói chung và công tác xã hội
học đường nói riêng là một giải pháp quan trọng nhằm góp phần giải quyết tốt các vấn
đề xã hội liên quan đến công tác trẻ em cũng như các chính sách bảo trợ xã hội cho trẻ
trong bối cảnh hiện nay ở nước ta.
Nền giáo dục và trẻ em là một trong những mối quan tâm hàng đầu, là nền tảng
của sự phát triển một đất nước và liên quan đến vận mệnh của một quốc gia. Một đất
nước giàu mạnh, có nền kinh tế phát triển là một đất nước có nền giáo dục tốt, luôn ưu
tiên đầu tư cho chất lượng giáo dục và tất cả mọi người đều được hưởng nền giáo dục
ấy

giáo dục cho mọi người

. Do vậy, vấn đề giáo dục cho trẻ em, đặc biệt là giáo dục
chuyên biệt, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm
hiểu.
Vì sự phát triển toàn diện con người Việt Nam luôn là mục tiêu và động lực cao nhất
của sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước,

Phát triển con người Việt Nam
năm 2011

Xem xét mối quan hệ giữa thiết chế giáo dục với một số thiết chế cơ bản của xã hội
như kinh tế, pháp luật và văn hóa.
Tập trung nghiên cứu vấn đề phân hóa xã hội và bình đẳng xã hội trong giáo dục.
Phân tích vị trí, vai trò của giáo dục nhà trường trong mối quan hệ với dân số và gia
đình.
Có thể nêu ra một số hướng và công trình nghiên cứu về vấn đề này của các tác giả
trong nước như sau:
GS.TS. Vũ Dũng (2012)nghiên cứu về sự thích ứng xã hội của các nhóm xã hội yếu
thế ở nước ta hiện nay.
Mai Quỳnh Nam và các đồng nghiệp (2004)đã nghiên cứu

về trẻ em, gia đình và xã
hội

. Ở đây các tác giả đã phân tích sự quan tâm của xã hội, vai trò của gia đình đối
với sự chăm sóc và giáo dục trẻ em, những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và vấn đề
giúp đỡ các em . . .
Tác giả Vũ Thị Nho (1995)đã nghiên cứu

sự ảnh hưởng của giáo dục mẫu giáo đến
khả năng thích ứng học tập của học sinh đầu tiểu học

.
Tác giả Phạm Tất Dong (2012) đã nghiên cứu về

sự phát triển giáo dục của một số
nước trên thế giới hướng tới xã hội học tập và ở Việt Nam hiện nay trong bước khởi
đầu định hướng xây dựng xã hội học tập

.

tại và tương lai. Đó cũng là những vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm và tìm hiểu.
Những nghiên cứu về vấn đề giáo dục trẻ em, giáo dục chuyên biệt và trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn ở trong nước là rất đa dạng và đây là cũng vấn đề xã hội, vấn đề nhân
đạo. Những nghiên cứu này phân tích về những khó khăn, thực trạng của vấn đề và
nhìn nhận vấn đề từ góc độ kinh tế, xã hội và một số khía cạnh tâm lý, song những
nghiên cứu này chưa đi sâu tìm hiểu về hệ thống giáo dục cho trẻ em nghèo tại các
14
trung tâm học tập cộng đồng cũng như những khó khăn và nhu cầu học tập của các
em.
Hầu hết các tác phẩm trên đều đã đi sâu tìm hiểu vấn đề giáo dục theo một hướng
riêng. Các tác phẩm cũng đã nói lên một vấn đề khá nhức nhối hiện nay đó là vấn đề
giáo dục trẻ có hoàn cảnh khó khăn chưa được quan tâm đúng mức cũng như các mối
nguy hiểm luôn rình rập với các em.Trong giới hạn tìm hiểu của mình, chúng tôi xin
được đề cập đến một số tác phẩm đã kể trên. Tuy nhiên, trong hầu hết các tác phẩm đã
nêu và một số tác phẩm mà chúng tôi đã tham khảo, tìm hiểu, thì chưa có một đề tài
nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề

Giáo dục trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại các
trường tình thương

con em các gia đình nhập cư. Và để hiểu sâu hơn về đối tượng
này chúng tôi đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu

Vấn đề giáo dục trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn tại các trường tình thương Bà Mười

làm thí điểm cũng như đi nghiên cứu những
giải pháp giáo dục riêng tại một số các trường thương có những điểm gì giống và khác
và sự khác biệt giữa các trường tình thương với biệt hệ thống giáo dục chung của Việt
Nam hiện nay.

hành

Tuy nhiên, hiện vẫn còn tình trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn phải
bỏ học vẫn chiếm tỉ lệ rất cao (Con số đáng báo động này được công bố tại "Hội thảo
Báo cáo Trẻ em ngoài nhà trường: nghiên cứu của Việt Nam”, do Bộ Giáo dục & Đào
tạo và UNICEF phối hợp tổ chức sáng 11-9/2014, tại Hà Nội; theo đó có tới 1,1 triệu
trẻ em Việt Nam độ tuổi từ 5-14 tuổi chưa từng được đến trường học hoặc đã bỏ học.)
vì lý do kinh tế, do không nhận được sự hỗ trợ thường xuyên của địa phương hay các
em không có hứng thú học tập do phương pháp giảng dạy cũ rích, nhàm chán nên các
em không có ý chí vượt lên hoàn cảnh. Và trong các hoạt động vui chơi, giải trí tinh
thần các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn chưa được hưởng những hoạt động phù hợp
với điều kiện của các em, hoặc thiếu nơi vui chơi, thiếu các trò chơi và ít được tham
gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật vẫn còn phổ biến.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em bỏ học ở độ tuổi thiếu nhi
nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là do gia đình các em quá nghèo, không có tiền cho
con em mình đi học. Với đặc điểm này, nổi cộm lên với địa bàn Phường Tân Thuận
Tây, quận 7 thành phố Hồ Chí Minh là nơi có số lượng người dân đông và có nhiều hộ
gia đình làm nghề đánh bắt cá ngoài sông Tân Thuận, sống ngoài ghe hoặc là những
người di dân lên thành phố tìm việc làm, dân chủ yếu là ở trọ, làm những công việc có
mức thu nhập thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn. Vì vậy con cái của họ cũng chưa có
đủ điều kiện tham gia học tập tại các trường, lớp trong thành phố. Phần còn do tư
tưởng của họ không muốn cho các em đi học mà muốn các em ở nhà phụ giúp gia
đình, không được đến trường như bao đứa trẻ khác nên bà Mười, một con người tốt
bụng hiếm có đã đem cái chữ, con số đến cho các em, đã thành lập nên ngôi trường
tình thương mang tên bà Mười, nhằm xóa mù chữ cho trẻ, dạy trẻ biết sống, cách làm
người. Hiện nay, trường tình thương bà Mười đang thu hút nhiều trẻ em, con của các
hộ gia đình nghèo, có mức thu nhập thấp đến học vì họ không thể lo đủ cho con em
mình đến học những nơi có điều kiện học tập cao hơn.
Theo thống kê của Viện xã hội học thì công việc hàng ngày, trẻ em lang thang Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh kiếm sống bằng đủ mọi nghề, kết quả khảo sát ở báng 4

nhiều thời gian quan tâm, dạy bảo con em mình.
Với những lý do trên nhóm chúng tôi chọn đề tài

tìm hiểu vấn đề giáo dục trẻ em
nghèo tại trường tình thương bà Mười

(tại Trung tâm học tập cộng đồng KE5 đường
Huỳnh Tấn Phát - phường Tân Thuận Tây - Quận 7-TP. HCM) để ngiên cứu. Thông
qua đề tài nhóm muốn đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp nhằm xây dựng một mô
hình góp phần giảm tải các vấn đề giáo dục còn tồn đọng chưa được giải quyết, để
giúp các trẻ em nghèo có cơ hội và điều kiện học tâp tốt hơn.
3.2 Mục tiêu của đề tài và nhiệm vụ:
17
3.1 Mục tiêu chung: Tìm hiểu và làm rõ thực trạng về các vấn đề giáo dục của
trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đang gặp phải trong học tập tại lớp học tình thương Bà
Mười.
3.2. 2. Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu thực trạng về giáo dục trẻ có hoàn cảnh khó khăn tại trường tình thương bà
Mười
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động học tập (học sinh, nhà trường, giáo viên, gia
đình

.)
- Mong muốn của trẻ, nhu cầu, ước vọng của trẻ khi học tập ở trường tình thương bà
Mười.
- Mô hình giáo dục phù hợp với trẻ tại trường tình thương Bà Mười.
- Những đề xuất và khuyến nghị trong công tác giảng dạy tại trường tình thương Bà
Mười.
3.3.3.Nhiệm vụ của đề tài:
Vớí mục tiêu đã đặt ra cuộc nghiên cứu phải thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

ngoại cảnh. Những kinh nghiệm mới phù hợp với nhu cầu nhận thức được sát nhận
vào nó, ngược lại khi gặp những kinh nghiệm mới trái ngược với cấu trúc nhận thức,
người ta sẽ chỉnh sửa lại cấu trúc nhận thức để chứa đựng được kinh nghiệm mới. Áp
dụng lí thuyết nhận thức vào bài nghiên cứu, nhóm muốn thấy được sự khác nhau của
trẻ em nghèo tại trường tình thương bà Mười trong quá trình học tập. Bên cạnh đó việc
ứng dụng chương trình công tác xã hội trong trường học thành công và phát triển như
thế nào là phụ thuộc vào nhận thức của mỗi khách thể trong đề tài nghiên cứu mà
chúng em đưa ra.

Thuyết học tập xã hội
19
Thuyết học tập xã hội được bắt đầu từ nguồn gốc của quan điểm học tập của Tarde.
Trong đó, ông nhấn mạnh ý tưởng về học tập xã hội thông qua ba qui luật bắt trước: sự
tiếp xúc gần gũi, bắt chước người khác và sự kết hợp cả hai. Cá nhân học cách hành
động và ứng xử của người khác qua quan sát hoặc bắt chước.
Thuyết này được sử dụng để giải thích cho hành vi tội phạm liên quan đến việc đột
nhập và phá hoại hệ thống máy tính tại các trường đại học (hacker máy tính). Và có
thể được sử dụng để điều chỉnh hành vi.
Với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thuyết này vào bài nghiên cứu để điều
chỉnh hành vi đối với một số học sinh có hành vi lệch lạc. Ví dụ: việc bố trí, sắp xếp
một hành vi lệch lạc ngồi cạnh một học sinh có hành vi tốt. Như vậy, cách cư xử của
học sinh tốt sẽ giúp cho học sinh kia nhận thấy hành vi chưa đúng của mình và chỉnh
sửa. Tuy nhiên, học sinh có hành vi tốt cũng có thể sẽ bị nhiễm hành vi lệch lạc của
học sinh kia, đây chính là kết quả trái ngược không mong đợi.

Lý thuyết hệ thống sinh thái. (Ecology systems):
Lý thuyết hệ thống chỉ sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, các cộng đồng
và các nhóm ảnh hưởng lên cá nhân. Cá nhân được xem như là bị lôi cuốn vào sự
tương tác không dứt với nhiều hệ thống khác nhau trong môi trường. Theo Barker:



* Những nhu cầu xã hội hay nhu cầu liên kết và chấp nhận: là các nhu cầu về tình yêu
được chấp nhận, bạn bè, xã hội

* Những nhu cầu được tôn trọng: là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác,
được người khác tôn trọng, địa vị

* Những nhu cầu tự thể hiện hay tự thân vận động: là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ,
tự chủ, sáng tạo, hài hước

Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp
thấp. Nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh học và nhu cầu an ninh/an toàn. Nhu cầu
cấp cao bao gồm các nhu cầu xã hội, tôn trọng, và tự thể hiện. Sự khác biệt giữa hai
loại này là các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi đó các
nhu cầu cấp cao lại được thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại của con người. Maslow cho
rằng làm thỏa mãn các nhu cầu ở cấp thấp là dễ làm hơn so với việc làm thỏa mãn
21
những nhu cầu ở cấp cao vì nhu cầu cấp thấp là có giới hạn và có thể được thỏa mãn từ
bên ngoài. Ông còn cho rằng đầu tiên các nhu cầu ở cấp thấp nhất hoạt động, nó đòi
hỏi được thỏa mãn và như vậy nó là động lực thúc đẩy con người

nó là nhân tố động
cơ. Khi các nhu cầu này được thỏa mãn thì nó không còn là yếu tố động cơ nữa, lúc đó
các nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ xuất hiện.
4.2. Thao tác hóa khái niệm
Sau đây là một số khái niệm cơ bản của đề tài, những phân tích về định hướng của các
khái niệm này chính là kim chỉ nam trong quá trình trong quá trình xây dựng các giả
thuyết nghiên cứu.
Khái niệm trẻ em:
Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là "mọi con


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status