Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất một số giống lúa thuần chất lượng và ảnh hưởng của phân bón lá đối với giống lúa HT1 vụ xuân năm 2013, tại lạng giang bắc giang - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN HOẠT
ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT
MỘT SỐ GIỐNG LÚA THUẦN CHẤT LƯỢNG VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ ĐỐI VỚI GIỐNG LÚA HT1 VỤ
XUÂN NĂM 2013, TẠI LẠNG GIANG - BẮC GIANG Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Mã số : 60.62.01.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN PHÚ
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i


nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã đóng góp nhiều
ý kiến quý báu về chuyên môn cho tôi hoàn thành luận văn.
- Cảm ơn Lãnh đạo và cán bộ nhân viên Công ty CP Giống cây trồng
Bắc Giang, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã tạo điều kiện thuận lợi,
động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.

Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hoạt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
2.1 Mục đích 3
2.2 Yêu cầu: 3
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
3.1 Ý nghĩa khoa học 4
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

2.5.4 Theo dõi về một số đặc trưng hình thái của giống 35
2.5.5 Khả năng chống chịu sâu bệnh 35
2.5.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống 36
2.5.7 Một số chỉ tiêu về phẩm chất của các giống tham gia vào quá trình thí
nghiệm 37
2.6 Phương pháp phân tích số liệu 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất một số giống lúa thuần chất
lượng tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013. 39
3.1.1 Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển giai đoạn mạ của một số giống lúa
thuần chất lượng tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013. 39
3.1.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của một số giống lúa
thuần chất lượng tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013. 40
3.1.3 Chỉ số diện tích lá (LAI) của một số giống lúa thuần chất lượng tại Lạng
Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013. 42
3.1.4 Khả năng tích lũy chất khô của một số giống lúa thuần chất lượng tại Lạng
Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013. 44
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.1.5 Một số đặc tính nông học khác của một số giống lúa thuần chất lượng tại
Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013. 46
3.1.6 Khả năng chống chịu với một số đối tượng sâu bệnh hại chính của một số
giống lúa thuần chất lượng tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013. 48
3.1.7 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của một số giống lúa thuần
chất lượng tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013. 52
3.1.8 Một số chỉ tiêu về chất lượng gạo của một số giống lúa thuần chất lượng
tại Lạng Giang – Bắc Giang, vụ xuân 2013. 57
3.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến giống lúa HT1 tại huyện Lạng Giang –
Bắc Giang, vụ xuân năm 2013 60


3.3 Chỉ số diện tích lá của các giống lúa thí nghiệm 43

3.4 Khả năng tích lũy chất khô của các giống lúa thí nghiệm 45

3.5 Một số đặc tính nông học khác của các giống lúa(điểm) 46

3.6 Tình hình sâu bệnh trên các giống lúa thí nghiệm (điểm) 49

3.7 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa nghiên cứu 53

3.8 Năng suất của các giống lúa thí nghiệm 56

3.9 Một số chỉ tiêu về chất lượng gạo xay xát của các giống thí
nghiệm 59

3.10 Một số chỉ tiêu về chất lượng gạo thương phẩm và nấu nướng
của các giống lúa 60

3.11 Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng và phát
triển của giống lúa HT1 61

3.12 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ số diện tích lá của giống
lúa HT1 62

3.13 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng tích lũy chất khô của
giống lúa HT1 63

3.14 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng chống chịu sâu bệnh
của giống lúa HT1 65

cũng tăng rõ rệt. Các loại gạo kém như Syn6, Nhị ưu 838, Q5, DT10…. rất
khó bán chủ yếu dành cho chăn nuôi. Một số loại gạo chất lượng trung bình
như C70, KD18, ĐV108… được sử dụng theo phương thức tự sản, tự tiêu là
chính, có giá bán thấp, dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao. Các loại gạo chất
lượng như HT1, LT2, Bắc Thơm 7… có giá bán thường cao hơn từ 3000-
5000đ/kg, giá cao một phần là do chất lượng gạo ngon một phần là do nguồn
cung không đủ cho nhu cầu ngày càng lớn về loại gạo này.
Đối với huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, để đem lại hiệu quả kinh tế
cao trong sản xuất lúa gạo cần phải định hướng sản xuất theo hướng hàng
hoá, đáp ứng yêu cầu thị trường cần có bộ giống lúa có năng suất cao, chất
lượng tốt và có thời gian sinh trưởng tương đương giống KD18, ĐV108 để
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

đưa vào cơ cấu sản xuất và gieo trồng vụ đông.
Trong những năm gần đây, diện tích lúa ở Lạng Giang từ 2008 - 2012
có xu hướng giảm dần từ 10756 ha năm 2008 còn 8330 ha năm 2012 nghĩa là
mỗi năm giảm bình quân 485,2 ha (nguyên nhân chủ yếu do xây dựng hệ
thống giao thông, mở rộng thêm khu công nghiệp, khu dân cư, một số diện
tích lúa chuyển đổi sang cây trồng khác ). Diện tích lúa lai ở vụ xuân hàng
năm chiếm khoảng 40% diện tích lúa của huyện. Giống lúa Q5, Khang Dân
18 là giống lúa chiếm diện tích gieo cấy lớn, tỷ lệ gieo cấy bình quân hàng
năm chiếm từ 18,34 % - 39,44%. Tỷ lệ gieo cấy các giống dài ngày như Xi23
có xu hướng giảm, diện tích gieo cấy các giống lúa ngắn ngày, chất lượng như
HT1, Bắc Thơm 7 ngày càng mở rộng.
Vụ mùa, các giống lúa Q5, Khang dân 18, Hương thơm số1, lúa lai có
xu hướng giảm từ năm 2008- 2012 (riêng các giống lúa lai chiếm 12,8% cơ
cấu giống lúa năm 2009 đến năm 2012 không còn diện tích cấy, giống lúa Q5
giảm từ 51,80% năm 2008 xuống còn 5,92% năm 2012, giống BC15 từ chỗ
không có diện tích cấy năm 2008, 2009 đến năm 2010, 2011 diện tích gieo

giống lúa vừa có năng suất cao, phẩm chất tốt đưa vào cơ cấu sản xuất của
tỉnh Bắc Giang.
- Cũng như xác định được loại phân bón lá thích hợp nhất góp phần vào
việc xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất, tăng thu nhập cho người
trồng lúa.
2.2 Yêu cầu:
- Điều tra tình hình sản xuất và kỹ thuật gieo cấy lúa chất lượng tại
huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc giang
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành
năng suất, năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh hại của các giống lúa
chất lượng tại huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang
- Đánh giá được ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón lá đối với cây lúa
để xác định được loại phân bón lá tốt nhất đến sinh trưởng, phát triển và năng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4

suất của giống lúa HT1.
- Đề xuất được một số giống tốt cho sản xuất thông qua việc đánh giá
các đặc điểm nông sinh học của các giống tham gia thí nghiệm.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài tăng thêm hiểu biết về giống lúa chất
lượng thích hợp trong điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện Lạng Giang tỉnh
Bắc Giang.
- Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác đào
tạo, nghiên cứu về loại phân bón lá cho giống lúa HT1 trồng tại vụ xuân
tại Bắc Giang.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được 1-2 giống lúa chất lượng giới thiệu , bổ sung vào cơ cấu
sản xuất của huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang

B, Nhật, Italia, Nga
(Krasnodar) 45
0
B đến nam bán cầu, New South Wales (Australia): 35
0
N.
Vùng phân bố chủ yếu ở Châu Á từ 30
0
B đến 10
0
N
Sản xuất lúa gạo trong những thập kỷ gần đây đã có mức tăng đáng kể,
nhưng do dân số tăng nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển (Châu Á,
Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh) nên vấn đề lương thực vẫn là yêu cầu cấp bách
phải quan tâm trong những năm trước mắt và lâu dài.
Theo thống kê của tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp
quốc (FAO) thì trong vòng 30 năm từ năm 1970 đến năm 2000 diện tích trồng
lúa tăng từ 134.390 nghìn ha lên 154.377 nghìn ha. Tổng sản lượng lương
thực tăng từ 308,76 triệu tấn lên 598,98 triệu tấn.
Nhìn tổng quan về diện tích và năng suất thì năm 2008 có diện tích
trồng lúa thấp nhất đạt 148.730 ha nhưng lại có năng suất cao nhất là 42,1
tạ/ha. Sở dĩ có sản lượng cao như vậy là do áp dụng được các tiến bộ về
khoa học kỹ thuật như: Đầu tư phân bón, sử dụng các giống lúa mới có
năng suất cao và phẩm chất tốt, xây dựng cơ sở vật chất, hoàn chỉnh về
biện pháp kỹ thuật. Năng suất bình quân trên thế giới trong mấy năm gần
đây có xu hướng tăng lên rõ rệt. Năm 2005 diện tích sản xuất lúa gạo thế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

giới là 154,987 triệu ha, năng suất đạt 40,935 tạ/ha, sản lượng đạt 634,444

cả mấy chục triệu con người.
Theo Nguyễn Đình Giao và cộng sự: Trước năm 1945, diện tích trồng lúa
của hai đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ là 1,8 triệu ha và 2,7 triệu ha với sản
lượng tương ứng là 2,4 triệu tấn và 3 triệu tấn, năng suất bình quân là 13 tạ/ha.
Khoảng hai thập kỷ sau, vào những năm của thập kỷ 60 miền Bắc có phong trào
phấn đấu đạt 5 tấn/ha/năm cho đến năm 1974 đạt được mục tiêu này.
Sau năm 1975, trong điều kiện đất nước thống nhất sản xuất lúa ở nước
ta đã có những thuận lợi mới và đã có những bước phát triển đáng kể. Bình
quân lương thực tiêu thụ của Việt Nam năm 1975 đạt 200 kg/người/năm, năm
1985 đạt 300kg/người/năm và đến năm 2001 đạt 420 kg/người/năm.
Theo đánh giá của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc
(FAO), hiện tại trong 10 nước trồng lúa lớn nhất thế giới, Việt Nam xếp hạng
thứ 5 với 7,5 triệu ha gieo trồng, sản lượng khoảng 43 triệu tấn lúa/năm, xếp
sau Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia và Bănglades.
Những năm gần đây sản xuất lúa gạo ở Việt Nam đã đạt được những thành
tựu rất ấn tượng với cộng đồng quốc tế. Từ một nước thiếu lương thực, Việt Nam
đã từng bước vươn lên trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng
đầu thế giới.
Kể từ năm 1989, năm đầu tiên Việt nam có gạo xuất khẩu đến nay
Việt Nam đã đóng góp với thế giới trên 40,7 triệu tấn gạo với giá trị trên
90 tỷ USD, từng bước vươn lên trở thành quốc gia đứng thứ 2 trên thế
giới về xuất khẩu gạo.
Năng suất và sản lượng lúa tăng do nhiều nguyên nhân, trong đó trước
tiên là những thay đổi về cơ chế chính sách mới trong nông nghiệp nông thôn,
sau đó là những thay đổi trong kỹ thuật trồng lúa. Nhờ có sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước với chủ trương của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông
thôn, tình hình sản xuất lúa của nước ta mấy chục năm gần đây đã có sự tăng
trưởng mạnh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

Page 9

bón, chế độ nước và kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh…trong đó chế độ
dinh dưỡng hợp lý là yếu tố quan trọng để tăng năng suất lúa.
Bảng 1.1. Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần đây
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
1990 6.042,8 31,8 19.225,1
1995 7.666,3 42,4 32.529,5
2001 7.492,7 42,9 32.108,4
2002 7.504,3 45,9 34.447,2
2003 7.452,2 46,4 34.568,8
2004 7.445,3 48,6 36.148,9
2005 7.329,2 48,9 35.832,9
2006 7.324,8 48,9 35.849,5
2007 7.207,4 49,9 35.942,7
2008 7422,2 52,3 38729,8
2009 7.437,2 52,4 38.950,2
2010 7.489,4 53,4 40.005,6
2011 7.651,4 55,3 42324,4
2012 7753,2 56,3 43661,8
(Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2013)
Mặc dù sản lượng lúa tăng nhưng lợi nhuận từ sản xuất lúa những năm
gần đây không cao hơn so với năm trước do chi phí sản xuất tăng cao. Tốc độ
tăng giá lúa chỉ bằng 1/2 tốc độ tăng giá của các loại vật tư đầu vào, trong đó

Do Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến công tác chọn tạo giống
nên sau khi đất nước thống nhất nhiều trung tâm giống cây trồng đã được thành
lập trong cả nước. Một số trung tâm đã thu được những kết quả nhất định. Trung
tâm giống cây trồng Ma Lâm, Bình Thuận đã chọn tạo được hai tập đoàn lúa với
khoảng 800 giống. Trong đó có hai giống lúa ML48 và TH6 được rất nhiều nông
dân các tỉnh miền Trung và miền Đông Nam Bộ ưa chuộng và đưa vào gieo cấy.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam được thành lập vào năm 1952
nhưng ngay từ giai đoạn 1954-1963 Viện đã tuyển chọn được nhiều giống lúa
mới: Nam Ninh, Trà Trung Tử, 828, 813, NN1 Trong thời kì đổi mới nhờ sử
dụng công nghệ sinh học trong nghiên cứu phân loại, đánh giá tính đa dạng di
truyền Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã tạo ra các giống cây
trồng chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu như các giống BM 9895, Xi 23,
AYT 77, giống lúa lai HYT 57 Bằng các phương pháp chọn tạo giống mới như
nuôi cấy bao phấn, nuôi cấy tế bào sôma, lai xa, đột biến, ưu thế lai, lai tạo kết
hợp với đột biến, lai tạo kết hợp với nuôi cấy bao phấn được áp dụng nhiều hơn
vào kêt quả bước đầu đã tạo nhiều dòng, giống mới có giá trị như OM 3007-16-
27, OM 3007-42-94, DT 122, BM 9963. Đây là những dòng giống mang nhiều
đặc điểm quí như tiềm năng năng xuất cao, chất lượng gạo tốt, chống chịu sâu
bệnh và các điều kiện bất thuận như phèn, mặn, hạn, úng.
Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long cũng đã tạo ra được một số giống lúa
mới giống AS 1007 và AS 996 thông qua cặp lai IR64/ oryza rufifogon.
Nhóm nghiên cứu lúa tổ tài nguyên cây trồng thuộc Viện lúa đồng bằng sông
Cửu Long cũng đã tăng cường chọn lọc giống lúa năng suất cao chống chịu
bệnh cháy lá phù hợp với nhiều vùng sinh thái ở đồng bằng sông Cửu Long
như: MTL364 có nguồn gốc từ tổ hợp lai IR64/ MTL14. MTL384 được lai
tạo từ tổ hợp lai MTL142 và lúa thơm cực ngắn.
Vừa qua Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long công bố đã nghiên cứu ứng

ảnh hưởng của yếu tố giống, điều kiện môi trường sinh thái, kỹ thuật canh tác
và các công đoạn sau thu hoạch, bảo quản. Trong các yếu tố trên giống lúa là
yếu tố tiên quyết. Các yếu tố như điều kiện môi trường gieo trồng, phân bón,
công đoạn sau thu hoạch cũng ảnh hưởng khá lớn đến tỷ lệ gạo nguyên, nhiệt
độ hoá hồ, tỷ lệ trắng bạc và hàm lượng dinh dưỡng trong hạt.
Chỉ tiêu nấu nướng và ăn uống của gạo xát chủ yếu được xác định được
bởi tỷ số aymylose/amylopectin. Một trong những chỉ tiêu quan trọng của
chất lượng nấu nướng là nhiệt độ hoá hồ của tinh bột gạo. Người ta đã chia
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

gạo của các giống lúa khác nhau thành các loại sau đây: giống có nhiệt độ hoá
hồ thấp <69
0
C; trung bình từ 70 - 74
0
C ; cao > 74
0
C.
Hàm lượng amylose được coi là thành phần quan trọng bậc nhất để xác
định chất lượng nấu nướng.
1.1.3.1. Di truyền mùi thơm
Mùi thơm là một trong tính trạng quan trọng nhất quyết định đến giá trị
thương phẩm và chất lượng gạo. Mùi thơm, khi nấu cơm mùi vị bốc hơi cho
thấy một hợp chất chính của formaldehydes và hydrogen sulfide. Emmanual
(1993) khi đánh giá mùi thơm của gạo IR64, Azucena và Basmati đã chứng
minh các hợp chất pentanol, hexanol, benzaldehyde, 2-acetyl-1-pyrroline và
2-acetyl-1-pyrroline là thành phần chính trong mùi thơm của gạo.
Theo Nguyễn Thị Lang và Bùi Chí Bửu (2006), tính trạng mùi thơm rất
dễ bị thay đổi bởi điều kiện môi trường. Mùi thơm của Basmati cần nhiệt độ

Theo Juliano (1985) có thể tổng hợp lại để đánh giá chất lượng gạo
theo nhóm chỉ tiêu sau :
- Chất lượng thương trường: là các tiêu chuẩn liên quan đến giá cả mua
bán, trao đổi trong nước và quốc tế. Các chỉ tiêu chất lượng thương trường
gồm có: chiều dài, chiều rộng hạt gạo xát, màu sắc nội nhũ, độ bạc bụng, độ
trong hạt gạo.
- Chất lượng xay xát hay chất lượng cơ lý gồm các chỉ tiêu: Tỷ lệ gạo
xát, tỷ lệ gạo nguyên, tỷ lệ trắng trong nói chung là hệ số thu hồi sản phẩm
sau chế biến.
- Chất lượng nấu nướng, ăn uống hay nếm thử đánh giá bằng cảm quan
nên phụ thuộc vào tập quán của từng nhóm dân cư: căn cứ chủ yếu vào hàm
lượng amyloza, nhiệt độ hoá hồ, độ bền thể gen, độ nở cơm, sức hút nước và
hương thơm…
- Chất lượng dinh dưỡng: được thể hiện thông qua hàm lượng protein,
hàm lượng lysine…
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

1.1.4.1. Chất lượng thương phẩm.
Đánh giá của IRRI về phân loại hạt chất lượng theo chỉ tiêu hình dạng
và kích thước hạt theo hạt gạo xay: loại rất dài: > 7,5mm; loại dài: 6,61 -
7,5mm; loại trung bình: 5,51 - 6,60mm; loại ngắn < 5,50mm. Dạng hạt được
đánh giá theo tỉ lệ dài/rộng (D/R): hạt thon D/R > 3,0; trung bình D/R khoảng
2,1-3,0; bầu D/R khoảng 1,1 - 2,0; tròn D/R < 1,1.
1.1.4.2. Chất lượng xay xát
Theo Lê Doãn Diên (2003), chất lượng xay xát được xem xét ở 2 chỉ
tiêu chủ yếu sau: tỷ lệ gạo xát và tỷ lệ gạo nguyên. Xay xát thóc thực chất là
quá trình loại bỏ trấu, phôi và vỏ cám. Khi loại bỏ các bộ phận này hàm lượng
cellulose và lipip sẽ bị giảm rõ rệt. Loại bỏ cellulose sẽ làm tăng tỷ lệ tiêu hoá
còn khi loại bỏ lipid sẽ làm tăng khả năng bảo quản gạo. Sản phẩm xay xát

khác của gạo.
* Hàm lượng protein
Theo Lê Doãn Diên (2003), Protein của lúa gạo là loại dinh dưỡng cao,
cao nhất trong tất cả các loại protein của các hạt ngũ cốc khác như lúa mì,
ngô, cao lương Protein của gạo được đặc trưng bởi tính dễ đồng hoá và tính
cân bằng của 8 aminoacid không thay thế đối với sức khoẻ của con người.
Hàm lượng protein là một thông số quan trọng trong giá trị dinh dưỡng
hạt gạo. Protein trong hạt gạo có giá trị cao hơn so với các loại hạt cốc khác,
bởi vì hàm lượng lysin của nó khá cao (3,5- 4%) (Juliano, 1985). Do đó hàm
lượng protein của lúa gạo tuy thấp khoảng 7 - 10% nhưng nó vẫn được xem
như là một protein có phẩm chất cao nhất. Các nhà chọn giống đã cố gắng
nâng cao hàm lượng protein trong các giống lúa mới nhưng ít thành công, bởi
vì di truyền tính trạng protein trong hạt rất phức tạp và bị ảnh hưởng của điều
kiện môi trường khá mạnh mẽ (Juliano, 1993).
Hàm lượng protein thay đổi theo môi trường canh tác và yếu tố phân
bón khá rõ. Phân đạm có vai trò làm tăng cường quá trình tổng hợp protein
mà không làm thay đổi đặc tính phẩm chất của giống. Hàm lượng protein của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17

các giống có xu hướng tăng lên tỷ lệ thuận với lượng N bón tới mức 120
kg/ha. Lượng N bón cao tới 150 kg/ha làm giảm lượng protein của tất cả các
giống (Vũ Tuyên Hoàng và cs, 2001).
Nâng cao hàm lượng và phẩm chất protein trong hạt gạo là mục tiêu
chọn giống của không ít các chương trình nghiên cứu trên thế giới. Năm
1970, bộ môn trồng trọt thuộc IRRI khẳng định: trong vụ khô hàm lượng
protein của các giống IR20, IR22 cao hơn hẳn giống IR8 khi bón ở mức
150kg N/ha làm nhiều lần và bón vào lúc cấy, phân hoá đòng. Còn trong vụ
mưa thì hàm lượng protein không ảnh hưởng đáng kể ở các giống. Theo kết
quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hiển trên các giống lúa địa phương và nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status