Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc, là lớp
người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cần được ưu tiên bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục.
Sự nghiệp chăm lo, giáo dục thiếu niên và nhi đồng là việc làm thường
xuyên có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Ngay từ khi mới ra đời,
trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn xác định các em thiếu
niên, nhi đồng ngày nay sẽ là người xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa
cộng sản sau này. Quan tâm đến thiếu niên, nhi đồng là quan tâm đến việc đào
tạo, bồi dưỡng một lớp người mới, không những phục vụ cho sự nghiệp xây
dựng Chủ nghĩa xã hội ngày nay mà còn chính cho sự nghiệp xây dựng Chủ
nghĩa cộng sản sau này.
Pháp luật Nhà nước ta ngày càng hoàn chỉnh các quy định về sự quan
tâm chăm sóc, bảo vệ trẻ em. Trong Hiến pháp của Nước ta, tại Điều 40 ghi
rõ: “Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc
bà mẹ và trẻ em v.v...” và tại Điều 65 cũng ghi rõ: “Trẻ em được gia đình,
Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”. Luật bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em, tại Điều 8 quy định: “1. Trẻ em được Nhà nước và xã hội tôn
trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; được bày tỏ ý kiến,
nguyện vọng của mình về những vấn đề liên quan; 2. Nghiêm cấm việc ngược
đãi, làm nhục, hành hạ, ruồng bỏ trẻ em; bắt trộm, bắt cóc, mua bán, đánh
tráo trẻ em; kích động lôi kéo, ép buộc trẻ em thực hiện những hành vi vi phạm
pháp luật hoặc làm những việc có hại đến sự phát triển lành mạnh của trẻ
em”.
1
Qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, với những
thành tựu to lớn đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực, bộ mặt kinh tế – xã hội
của Nước ta đã có nhiều khởi sắc. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, trong đó có trẻ em được cải thiện rõ rệt, văn hoá xã hội không ngừng
tiến bộ, an ninh chính trị và TTATXH được giữ vững, vị thế và uy tín của
Trước tình hình đó, dưới sự lãnh, chỉ đạo tập trung, sâu sát của Bộ
Công an, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và được sự lãnh, chỉ đạo trực tiếp, chặt chẽ của
Đảng ủy, Ban Giám đốc Công an tỉnh, lực lượng CSĐT TP về TTXH Công
an tỉnh An Giang đã nghiên cứu, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của ngành Công
an, chủ động xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện các hoạt động nghiệp vụ
để phòng ngừa, liên tục tấn công TPHS nói chung, TP XHTDTE nói riêng và
đã thu được nhiều kết quả đáng kể. Tuy nhiên, trong hoạt động của lực lượng
CSĐT TP về TTXH Công an tỉnh An Giang vẫn còn bộc lộ những tồn tại,
thiếu sót v.v… Hiệu quả hoạt động phòng ngừa, điều tra, xử lý TP XHTDTE
vẫn còn bị hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, TP XHTDTE tuy có
giảm nhưng chưa ổn định, trong từng lúc, ở từng nơi vẫn còn diễn biến rất
phức tạp. Từ đó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, luận giải một cách khoa học,
tìm ra nguyên nhân và đề ra những phương hướng, giải pháp hữu hiệu để
nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh
An Giang.
Là một cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đã nhiều năm công tác trong lực lượng
CSĐT TP về TTXH, tác giả luôn có suy nghĩ phải làm thế nào để khắc phục
được những tồn tại, thiếu sót, tìm ra phương hướng và các giải pháp tăng
cường nghiệp vụ, nâng cao tính chiến đấu cho toàn lực lượng nhằm làm cho
3
hoạt động phòng ngừa, điều tra, xử lý TP XHTDTE ở tỉnh An Giang của lực
lượng CSĐT TP về TTXH Công an tỉnh An Giang đạt hiệu quả cao nhất. Vì
vậy, tác giả chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa, điều tra,
xử lý TP XHTDTE trên địa bàn tỉnh An Giang” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
luật học là có tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
TP XHTDTE là vấn đề đã được nghiên cứu, thảo luận, trao đổi ở nhiều
góc độ khác nhau. Nhiều báo cáo khoa học, bài báo đã nghiên cứu TP
XHTDTE nhưng chỉ mới đề cập chung về thực trạng, nguyên nhân, điều kiện
- Nghiên cứu hệ thống lý luận về hoạt động phòng ngừa, điều tra, xử lý
TP XHTDTE.
- Phân tích, đánh giá thực trạng; nguyên nhân và điều kiện của tình
trạng phạm tội XHTDTE ở tỉnh An Giang; làm rõ đặc điểm hình sự của TP
XHTDTE ở tỉnh An Giang.
- Phân tích, đánh giá kết quả các mặt công tác, các biện pháp điều tra,
các biện pháp nghiệp vụ mà lực lượng CSĐT TP về TTXH Công an tỉnh An
Giang đã sử dụng trong hoạt động phòng ngừa, điều tra, xử lý TP XHTDTE ở
tỉnh An Giang.
- Đưa ra những dự báo, đề xuất những phương hướng, giải pháp để
nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa, điều tra, xử lý TP XHTDTE ở tỉnh
An Giang của lực lượng CSĐT TP về TTXH Công an tỉnh An Giang trong
thời gian tới.
4. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những lý luận cơ bản về trẻ em, TP
XHTDTE; tình hình TP XHTDTE ở tỉnh An Giang; thực trạng hoạt động
5
phòng ngừa, điều tra, xử lý TP XHTDTE ở tỉnh An Giang của lực lượng
CSĐT TP về TTXH Công an tỉnh An Giang.
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa, điều tra, xử lý TP
XHTDTE trên địa bàn tỉnh An Giang” là một vấn đề vừa có tính lý luận, vừa
có tính thực tiễn sâu sắc, cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, đầy
đủ và khoa học. Nhưng trong phạm vi và điều kiện cho phép, tác giả chỉ tập
trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:
- Những lý luận chung – nhận thức cơ bản về trẻ em, TP XHTDTE; cơ
sở pháp lý về hoạt động phòng ngừa, điều tra, xử lý TP XHTDTE.
- Nghiên cứu về tình hình TP XHTDTE ở tỉnh An Giang; thực trạng
hoạt động phòng ngừa, điều tra, xử lý TP XHTDTE ở tỉnh An Giang của lực
lượng CSĐT TP về TTXH Công an tỉnh An Giang từ năm 2002 đến nay.
xử lý TP XHTDTE.
- Kết quả nghiên cứu đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu
chuyên sâu dành cho cán bộ, chiến sĩ làm công tác thực tiễn và học viên các
nhà trường CAND, các nhà trường pháp lý.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ
lục, luận văn được cấu trúc thành 03 chương như sau:
Chương 1: Nhận thức cơ bản về hoạt động phòng ngừa, điều tra, xử lý
TP XHTDTE.
7
Chương 2: Thực trạng hoạt động phòng ngừa, điều tra, xử lý TP
XHTDTE ở tỉnh An Giang.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
phòng ngừa, điều tra, xử lý TP XHTDTE ở tỉnh An Giang.
8
Chương 1
NHậN THứC CƠ BảN Về HOạT ĐộNG PHòNG NGừA,
ĐIềU TRA, Xử Lý TộI PHạM XÂM HạI TìNH DụC TRẻ EM
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm trẻ em
Nói đến trẻ em, theo Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ
em được thông qua ngày 20/11/1989 tại Viên (Áo) và có hiệu lực từ ngày
02/9/1990 thì: “Trong phạm vi công ước này trẻ em có nghĩa là người dưới 18
tuổi. Trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành
niên sớm hơn”. Các quốc gia, trong đó có Việt Nam phê chuẩn hoặc tham gia
công ước này đều phải tuân thủ theo quy định về tuổi trẻ em là dưới 18 tuổi.
ở Việt Nam cũng chưa có sự thống nhất về độ tuổi của trẻ em và người
chưa thành niên, cụ thể trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được
Quốc hội Khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004, tại Điều 1 quy
định: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”;
thể trong xã hội có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm hại trực
tiếp đến tình dục, nhân phẩm, danh dự và sức khỏe của trẻ em, hành vi xâm
hại của họ đều được thực hiện bằng lỗi cố ý và nạn nhân của tội phạm này –
người bị xâm hại tình dục ở đây là trẻ em gái.
Việc tìm hiểu khái niệm trẻ em và TP XHTDTE có ý nghĩa nhận thức
lý luận và thực tiễn vô cùng quan trọng đối với toàn bộ hoạt động phòng
ngừa, điều tra, xử lý TP XHTDTE.
1.1.3. Khái niệm phòng ngừa TP XHTDTE
10
- Phòng ngừa là một trong hai phương diện cơ bản của cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm. Vấn đề này được ghi nhận rõ trong Điều 12 Hiến
pháp năm 1992 của Nước ta: “Các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị
vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp
và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến
pháp và pháp luật”.
- Phòng ngừa tội phạm có thể hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng,
phòng ngừa tội phạm bao hàm, một mặt không để cho tội phạm xảy ra, thủ
tiêu nguyên nhân và điều kiện của tình trạng phạm tội; mặt khác, bằng mọi
cách để ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh
các vụ phạm tội và cuối cùng là cải tạo, giáo dục người phạm tội, tạo điều
kiện cho họ trở thành những công dân có ích cho xã hội. Theo nghĩa hẹp,
phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, không để cho tội phạm
gây ra hậu quả cho xã hội, không để cho thành viên của xã hội phải chịu hình
phạt của pháp luật, tiết kiệm được những chi phí cần thiết cho Nhà nước trong
hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án và giam giữ, cải tạo, giáo dục người
phạm tội.
Từ đó có thể nói khái niệm về phòng ngừa TP XHTDTE như sau:
Là việc áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp khác nhau hướng vào việc
thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện của tình trạng phạm tội XHTDTE nhằm từng
bước ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ chúng trong đời sống xã
tra, lực lượng CSĐT TP về TTXH phải tiến hành các biện pháp cần thiết theo
luật định để xác định sự thật của vụ án, chứng minh tội phạm và người phạm
tội. Từ đó, có cơ sở giải quyết đúng đắn vụ phạm tội và những vấn đề có liên
12
quan như đề nghị truy tố, đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra v.v… Đồng
thời, khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra, xây dựng kế hoạch và áp dụng
các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh v.v… Hoạt động trên của lực lượng
CSĐT TP về TTXH cũng được xem là một trong những hình thức xử lý TP
XHTDTE nói chung.
* Xử lý người phạm tội:
Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, chứng minh rõ
về nội dung, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng,
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm v.v… của người phạm tội, lực lượng CSĐT TP
về TTXH áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp như bắt, tạm giữ, tạm
giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh v.v… hoặc có kết luận điều tra chính
xác. Trên cơ sở đó Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử công minh đối với
người phạm tội, áp dụng hình phạt thích đáng. Ngoài ra, lực lượng CSĐT TP
về TTXH còn có thể áp dụng các hình thức xử lý khác đối với người phạm tội
theo quy định của pháp luật.
1.2. Nhận thức về hoạt động phòng ngừa, điều tra, xử lý TP XHTDTE
của lực lượng CSĐT TP về TTXH
1.2.1. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
Sự nghiệp chăm lo, giáo dục thiếu niên và nhi đồng là việc làm thường
xuyên có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Trong di chúc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là
điều rất quan trọng và cần thiết”. Ngay từ khi Nhà nước ta mới ra đời trong
suốt quá trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn xác định: “Các em thiếu
niên, nhi đồng ngày nay sẽ là người xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa
cộng sản sau này. Quan tâm đến thiếu niên, nhi đồng là quan tâm đến việc đào
tạo, bồi dưỡng một lớp người mới, không những phục vụ cho sự nghiệp xây
khác nhau của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, Nhà nước ta đều
quan tâm đến quyền của trẻ em và quy định cụ thể cho tất cả những chủ thể có
liên quan đến trẻ em phải thực hiện. Đồng thời, pháp luật của Việt Nam cũng
quy định các chế tài đối với những ai xâm phạm các quyền của trẻ em.
- Hiến pháp năm 1992 phần quy định về quyền trẻ em không còn là
những quy định riêng lẻ mà đã trở thành một chế định pháp lý hoàn chỉnh,
đồng bộ và chặt chẽ đặt trong khuôn khổ, mối quan hệ trực tiếp với chế định
quyền công dân. Tại Điều 65 của Hiến pháp ghi rõ: “Trẻ em được gia đình,
Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”.
- Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội khóa XI, kỳ
họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004, gồm 5 chương, 60 điều, đã quy định
tương đối đầy đủ các quyền cơ bản của trẻ em… Luật quy định trẻ em là công
dân Việt Nam dưới 16 tuổi; mọi trẻ em không phân biệt đều được bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục; đó là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, các cơ quan
Nhà nước và công dân; mọi hành vi xâm hại trẻ em đều bị nghiêm trị; nghiêm
cấm việc dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại
dâm; XHTDTE.
- BLHS quy định các tội phạm cụ thể về TP XHTDTE như sau:
+ Điều 112 quy định về “Tội hiếp dâm trẻ em”.
+ Điều 114 quy định về “Tội cưỡng dâm trẻ em”.
+ Điều 115 quy định về “Tội giao cấu với trẻ em”.
+ Điều 116 quy định về “Tội dâm ô đối với trẻ em”.
1.2.3. Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng CSĐT TP
về TTXH trong hệ thống CQĐT
Trong hệ thống CQĐT, lực lượng CSĐT TP về TTXH bao gồm:
- Cục CSĐT TP về TTXH (C14).
15
Cục CSĐT TP về TTXH thuộc Tổng cục CSND – Bộ Công an. Cục
CSĐT TP về TTXH gồm có 10 phòng.
- Phòng CSĐT TP về TTXH (PC14).
- Chủ trì việc tổ chức điều tra tại hiện trường các vụ án về trật tự xã hội.
Tổ chức việc truy tìm tung tích nạn nhân, vật chứng; ra quyết định truy nã và
truy bắt người phạm tội về trật tự xã hội; kiểm tra, đôn đốc, thực hiện, theo
dõi kết quả thực hiện công tác truy nã theo quy định.
- Tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ và trực tiếp tham gia công tác
quản lý các đối tượng về trật tự xã hội bị quản chế, cấm cư trú, cư trú bắt
buộc, cải tạo không giam giữ, án treo, cư trú tại địa bàn dân cư và phối hợp
tham gia lập hồ sơ đưa đối tượng vào cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng; thực
hiện công tác xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực trật tự xã hội theo quy
định.
- Thông qua công tác đấu tranh phòng, chống TPHS nói chung, TP
XHTDTE nói riêng, phát hiện nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm
để đề xuất, kiến nghị với các ngành chủ quản, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã
hội có kế hoạch chấn chỉnh kịp thời nhằm góp phần phòng ngừa, đấu tranh
đạt hiệu quả cao.
- Tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm công tác để đề xuất các chế
độ và quy trình công tác, cải tiến chế độ làm việc và phương pháp công tác
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, chiến đấu góp phần xây dựng
lý luận nghiệp vụ của lực lượng CSĐT TP về TTXH.
- Thực hiện kế hoạch hợp tác quốc tế về công tác điều tra TPHS nói
chung, TP XHTDTE nói riêng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.
17
- Phối hợp với các đơn vị chức năng nghiên cứu, đề xuất việc bổ nhiệm,
miễn nhiệm Phó thủ trưởng, ĐTV CQCSĐT và ĐTV thuộc lực lượng CSĐT
TP về TTXH theo quy định.
- Quản lý tổ chức cán bộ và thực hiện công tác hậu cần của lực lượng
CSĐT TP về TTXH theo quy định.
- Thực hiện những nhiệm vụ khác thuộc chức năng của lực lượng
CSĐT TP về TTXH do Bộ trưởng Bộ Công an, Tổng Cục trưởng Tổng cục
Cảnh sát và Giám đốc Công an cấp tỉnh giao.
chống tội phạm được nâng lên và tách riêng thành bộ môn khoa học độc lập
chuyên nghiên cứu về những quy luật hình thành, phát sinh phát triển của tội
phạm cùng với các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn nhằm loại bỏ và hạn chế
sự tác động của hiện tượng này. Như vậy, ngành khoa học nghiên cứu về tội
phạm đã ra đời và phát triển.
Xem xét về thuật ngữ, các nhà nghiên cứu thấy rằng: “Tội phạm học”
là một cụm từ ghép bao gồm: Crimin: tội phạm (theo ngôn ngữ la tinh) và
Logos có nghĩa là: Học thuyết hoặc khoa học (theo tiếng Hy Lạp). Vậy tội
phạm học có nghĩa là “học thuyết về tội phạm” hay “khoa học nghiên cứu về
tội phạm”. Tuy nhiên, nếu nói là “nghiên cứu về tội phạm” thì nhiều ngành
khoa học nghiên cứu về vấn đề này, như: khoa học luật hình sự, khoa học luật
tố tụng hình sự, Điều tra hình sự, tâm lý học, xã hội học…Vì vậy, cá nhà
nghiên cứu tội phạm học xác định phạm vi nghiên cứu của tội phạm học được
giới hạn bởi đối tượng nghiên cứu chủ yếu của nó là:
- Tình trạng tội phạm.
- Nguyên nhân, điều kiện của tội phạm.
- Nhân thân người phạm tội
19
- Biện pháp phòng ngừa tội phạm.
Trên cơ sở đó, có thể nêu khái niệm về Tội phạm hộc như sau:
Tội phạm học là ngành khoa học, nghiên cứu về tội Tình trạng tội
phạm, nguyên nhân và điều kiện phát sinh phát triển của tình trạng tội phạm
và các loại tội phạm cụ thể, nghiên cứu nhân thân người phạm tội và các biện
pháp phòng ngừa ngăn chặn nhằm hạn chế, tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi
đời sống xã hội.
Trong điều kiện phát triển của sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta,
Đảng và Nhà nước đã xác định vị trí quan trọng đặc biệt của công cuộc bảo vệ
vững chắc nền an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, đấu tranh kiên quyết
và triệt để chống các loại tội phạm hình sự. Điều đó đang đặt ra những nhiệm
vụ nặng nề cho các nhà nghiên cứu và cán bộ thực tế trong nghiên cứu tội
hoặc bốn nhóm hiện tượng xã hội cần phải nghiên nghiên cứu trong khoa học
tội phạm.
Các đối tượng nghiên cứu và nội dung cơ bản của Tội phạm học bao
gồm:
2.1.1 Tình trạng tội phạm.
Tình trạng tội phạm là hệ thống các sự kiện phạm tội cụ thể được diễn
ra trong hệ thống quốc gia hoặc khu vực trong một thời gian nhất định. Như
vậy có nghĩa là xem xét mhư một hiện tượng xã hội nhằm nắm vững bản chất
của nó cũng như các yếu tố cấu thành có tính đặc trưng của hiện tượng xã hội
này.
Đối với nhóm đối tượng này cần phải xoay quanh các nội dung cơ bản
sau:
21
- Nghiên cứu tình trạng hoạt động của tội phạm, cấu trúc và động thái
của Tình trạng tội phạm nói chung cũng như từng loại tội phạm cụ thể trong
phạm vi cả nước và ở mỗi vùng dân cư. Những nội dung này phản ánh số
lượng và tính chất hoạt động của tội phạm nói chung và các loại tội phạm cụ
thể trong mỗi thời kỳ, mỗi địa phương khác nhau.
- Nghiên cứu các mối quan hệ tác động qua lại giữa Tình trạng tội
phạm với các hiện tượng và các quá trình xã hội khác (CT,KT, VH, GD…)
hoặc với những hình thức khác nhau của hành vi tiêu cực (lười biếng, suy
thoái về đạo đức, tệ nạn xã hội ).
Nghiên cứu làm rõ những nội dung đã chỉ ra trong nhóm đối tượng
nghiên cứu trên cho phép chúng ta đánh giá một cách khái quát về Tình trạng
tội phạm nói chung trong phạm vi cả nước và ở mỗi địa phương cụ thể, đồng
thời có thể đề ra phương hướng chung, biện pháp tổng hợp trong việc phòng
ngừa ngăn chặn tội phạm.
1.2.2. Nguyên nhân nảy sinh tình trạng tội phạm và điều kiện tạo thuận
lợi cho việc thực hiện hành vi phạm tội là một trong những nội dung tất yếu
của sự phát triển và tồn tại trong mỗi thời kỳ phát triển của xã hội.
trạng gia đình, quan hệ xã hội …)
Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội theo các nội dung
sau:
- Nghiên cứu các đặc điểm về xã hội – nhân khẩu học bao gồm giới
tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp….
- Nghiên cứu về phẩm chất đạo đức và tâm lý cá nhân kể phạm tội. Ơ
đây cần đề cập đến các đặc điểm về thái độ đối xử của kể phạm tội và các tổ
23
chức chính quyền, tổ chức xã hội và những con người xung quanh, đối với
các giá trị tinh thần, đạo đức xã hội …cũng như các yếu tố về trí tuệ, tình
cảm…đặc biệt, nghiên cứu các biểu hiện của nhân cách kẻ phạm tội trong
quá trình sống; hoạt động lao động, công tác xã hội , vai trò cá nhân trong xã
hội , trong đơn vị công tác,trong các nhóm người và với những con người cụ
thể khác, các cơ quan, đơn vị khác.
Nghiên cứu các đặc điẻm cá nhân kẻ phạm tội mang tính pháp luật hình
sự. Tính chất hành vi tội phạm, mục đích, động cơ phạm tội, hoạt động cá
nhân hay tổ chức, vai trò trong các tổ chức phạm tội, các tiền án, tiền sự…
- Phân loại nhân thân người phạm tội phục vụ cho công tác phòng ngừa
ngăn chặn hoặc giáo dục người phạm tội.
Tất cả những nội dung trên tạo thành hệ thống các đặc tính thể hiện bản
chất xã hội của con người phạm tội. Nghiên cứu những vấn đề trên có ý nghĩa
quan trọng trong việc xác định nguyên nhân và điều kiện tội phạm nói chung
và các loại tội phạm cụh thể, con người cụ thể. Mặt khác nghiên cứu nhân
thân người phạm tội giúp ta đề ra biện pháp phòng ngừa, giáo dục và nâng
cao hiệu quả biện pháp phòng ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm cụ
thể.
1.2.4. Phòng ngừa tội phạm.
Phòng ngừa tội phạm là hệ thống các biện pháp của Nhà nước và xã hội
hướng đến việc xoá br, hạn chế nguyên nhân, diều kiện tội phạm, ngăn ngừa
kịp thời những hành vi sai lệch của những người có ý định phạm tội. Ơ nhiều
tượng này kỏi đời sống xã hội, đó cũng là mục đích nghiên cứu của khoa học
Tội phạm học.
25