Đánh giá nồng độ cồn trong máu ở các bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông điều trị cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị việt đức - Pdf 28


Lêi c¶m ¬n
:
TS. BS Nguyễn Đức Chính - Trƣởng khoa Phẫu Thuật Nhiễm Khuẩn, Phó
trƣởng phòng Kế hoạch Tổng hợp, Bệnh viện Hữu n
.
PGS. TS Nguyễn Quang Huy - Chủ nhiệm khoa Sinh học, Trƣờng Đại học
Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
.
, phòng Kế hoạch Tổng
hợp, Khoa Khám bệnh cấp cứu –
, u.
Ban G , p Đ
-
.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình, những ngƣời
thân , chăm sóc trong suốt quá trình
, .

Hà Nội, ngày 03 tháng 03 năm 2014
Học viên
Phạm Thị Thùy BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1.4.1. Trên thế giới 16
1.4.2. Tại Việt Nam 17
1.5. Chấn thƣơng sọ não 19
1.5.1. Khái niệm 19
1.5.2. Có những tổn thƣơng gì ngay sau khi bị CTSN 19
1.5.3. Hậu quả của chấn thƣơng sọ não 20
1.5.4. Di chứng tiếp diễn sau chấn thƣơng sọ não 21
1.5.5. Đánh giá độ nặng của chấn thƣơng sọ não theo thang điểm Glasgow. 22
1.6. Chấn thƣơng sọ não liên quan đến đồ uống có cồn khi tham gia giao
thông 23
CHƢƠNG 2 - ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 25
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân vào nhóm nghiên cứu 25
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ 25
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3. Phƣơng pháp thu thập số liệu 25
2.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu 25
2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu 26
2.6. Biến số nghiên cứu 26
2.7. Quy trình thu thập số liệu tại bệnh viện 27
2.8. Quy trình xét nghiệm BAC ở bệnh nhân CTSN do tai nạn giao
thông tại bệnh viện 28
2.8.1. Nguyên tắc phản ứng 28
2.8.2. Các bƣớc chuẩn bị 28
2.8.3. Lấy mẫu bệnh phẩm (máu) 28
2.8.4. Tiến hành xét nghiệm 28
2.8.5. Kết quả 29
2.8.6. Tổng hợp kết quả 29
2.9. Quy trình tổng hợp thông tin 29
2.10. Vấn đề đạo đức nghiên cứu 29

Bảng 2.1. Các biến số nghiên cứu 26
Bảng 3.2. Mức tiêu thụ rƣợu bia bình quân đầu ngƣời qua các năm (từ 15 tuổi) 36
Bảng 3.3. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật 37
Bảng 3.4. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo giới tính 38
Bảng 3.5. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo tuổi 39
Bảng 3.6. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo số lƣợng bạch cầu trong
máu WBC 43
Bảng 3.7. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo số lƣợng hồng cầu trong
máu RBC 43
Bảng 3.8. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo 44
Bảng 3.9. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo thể tích hồng cầu trong
máu HCT 45
Bảng 3.10. Phân bố BAC của bệnh nhânvi phạm luật theo tình trạng có hay không
đội mũ bảo hiểm 45
Bảng 3.11. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo chấn thƣơng phối hợp 47
Bảng 3.12. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo thang điểm Glasgow 49
Bảng 3.13. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo phƣơng pháp điều trị 51
Bảng 3.14. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo theo thời gian nằm viện 51
Bảng 3.15. Phân bố kết quả điều trị của bệnh nhân vi phạm luật theo thời gian nằm
viện 52
Bảng 3.16. Phân bố BAC của bệnh nhân vi phạm luật theo theo kết quả điều trị 53

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Tình hình sử dụng chất có cồn theo đơn vị trên thế giới 7
Hình 1.2. Sử dụng chất có cồn và lái xe là yếu tố nguy cơ tử vong tai nạn giao thông 9
Hình 1.3. Ƣớc lƣợng nguy cơ tử vong tƣơng đối của những lái xe sử dụng chất có
cồn theo tuổi và giới trong các vụ va chạm xe cộ đơn lẻ 13
Hình 1.4: Tỉ lệ tử vong giảm ở ngƣời lái xe ô tô và mô tô sau khi áp dụng tiêu chuẩn
mức BAC tối thiểu là 0,05g/100ml, Úc, 1981-2001 17

nhất chiếm từ 18 đến 20 ngƣời trên 100.000 dân, cao gấp 2,4 lần so với đuối nƣớc
và ngộ độc, gấp 5 lần so với tự tử và các loại thƣơng tích khác [7]. Theo kết quả
khảo sát quốc gia công bố mới đây về tai nạn thƣơng tích tại Việt Nam (VNIS
2010) do trƣờng n, mỗi năm tại Việt Nam có gần
35.000 tử vong do tai nạn thƣơng tích, tỷ suất tử vong do tai nạn thƣơng
tích năm 2010 là 38,6/100.000 dân, so với năm 2001 là 88/100.000 có sự thay đổi
lớn nhƣng tỷ lệ còn cao [8]. Sử dụng đồ uống có cồn khi tham gia giao thông đƣợc
coi là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến tai nạn giao thông. Các số
liệu thống kê của Việt Nam cho thấy có tỷ lệ khá lớn ngƣời tham gia giao thông bị
tai nạn có sử dụng rƣợu bia. Cục Quản lý môi trƣờng Y tế thống kê trong năm tháng
(từ tháng 11/2010 đến tháng 3/2011) tại 5 bệnh viện ở Hà Nam, Ninh Bình, Bắc

2
Giang cho thấy trong 1453 trƣờng hợp tai nạn thƣơng tích, tai nạn giao thông chiếm
60%, trong đó, số trƣờng hợp bị tai nạn giao thông có sử dụng chất uống có cồn
chiếm 45% [10]. Số liệu của Cục cảnh sát giao thông đƣờng bộ - đƣờng sắt từ năm
2000-2004, tỷ lệ ngƣời tham gia giao thông bị xử phạt vì sử dụng rƣợu bia cho thấy
càng về cuối tuần, tỷ lệ ngƣời sử dụng rƣợu bia tham gia giao thông càng tăng lên.
Theo điều tra hộ gia đình, có 3,6% những ngƣời sử dụng rƣợu cho biết bị tai nạn
giao thông do uống rƣợu, tỷ lệ này ở ngƣời sử dụng bia là 1,2% [50].
Mặc dù có nhiều nghiên cứu đề cập đến tình trạng ngƣời tham gia giao thông
bị tai nạn liên quan đến việc sử dụng đồ uống có cồn, nhƣng các nghiên cứu sâu về
ảnh hƣởng đồ uống có cồn đến tai nạn giao thông, đặc biệt là tai nạn gây chấn
thƣơng sọ não, nguyên nhân hàng đầu gây thƣơng tật và tử vong hầu nhƣ có rất ít
hoặc chƣa đƣợc công bố trong thời gian gần đây tại Việt Nam do phƣơng tiện xét
nghiệm và điều luật còn đang trong quá trình hoàn thiện.
Bệnh viện Việt Đức - trung tâm ngoại khoa tuyến cuối của Việt Nam với số
lƣợng bệnh nhân ngoại khoa vào khám và cấp cứu lớn, trong đó số trƣờng hợp tai
nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất. Với đội ngũ cán bộ đƣợc trang bị kỹ năng tham
gia nghiên cứu tốt, nhiều kinh nghiệm; trang thiết bị của bệnh viện Việt Đức mới,

30-40%
Vokda nếp mới
38%
Wisky
40-50%
Vokda lúa mới
45%
Rhum
40-50%
Vang hoa quả
8-12%
Brandy
45%

1.1.2. Chuyển hóa rượu trong cơ thể con người
Khi uống rƣợu vào cơ thể, nó đƣợc hấp thu nhanh 20% tại dạ dày và 80% tại
ruột non, sau 30-60 phút toàn bộ rƣợu đƣợc hấp thu hết. Sau khi hấp thu, rƣợu đƣợc
chuyển hóa chủ yếu tại gan (90%). Một lƣợng nhỏ rƣợu còn nguyên dạng (khoảng
5-10%) thải ra ngoài qua mồ hôi, hơi thở và nƣớc tiểu. Ngƣời lớn không nghiện
chuyển hóa khoảng 7-10g ethanol một giờ với sự giảm dần nồng độ ethanol máu
xấp xỉ 15-20mg/dL/giờ. Ngƣời nghiện rƣợu hoặc đã dung nạp có thể chuyển hóa
nhanh hơn và nồng độ ethanol máu có thể giảm với tốc độ 30-40 mg/dL/giờ. Nhƣ
vậy, sau 6 giờ, nồng độ ethanol trong máu có thể giảm 90-240 mg/dL [62].

4
Quá trình chuyển hóa của rƣợu tại gan chia làm 3 giai đoạn:
- GĐ 1: chuyển ethanol thành acetaldehyd qua 3 con đƣờng chuyển hóa:
Enzyme ADH (alcohol dehydrogenase) là con đƣờng chính >80%, oxy hóa ethanol
thông qua việc làm tăng NADH dẫn đến tăng tỷ lệ NADH/NAD+ ; hệ thống
microsome gan (MEOS): hoạt động ít khi nồng độ rƣợu thấp và tăng hoạt động khi

sẽ kết hợp với oxy để acid pyruvic đi vào chu trình Krebs. Khi có quá nhiều NADH
và H+, acid pyruvic sẽ kết hợp với H+ thành lactate. Toan cetone: Uống rƣợu làm
giảm thiểu năng lƣợng, có thể có hạ đƣờng huyết. Dẫn đến tăng phân hủy glycogen
dự trữ ở gan. Khi đó sẽ xuất hiện 2 cơ chế điều hòa của cơ thể nhầm làm tăng ĐH
là: giảm tiết insuline và tăng tiết glucagon. Điều này sẽ làm tăng chuyển acid béo tự
do vào trong tế bào gan, thúc đẩy quá trình oxy hóa acid béo thành acetyl coA (sản
phẩm thoái hóa cuối cùng của G,P,L). Rồi sau đó acetylcoA biến thành acetoacetate
gây toan cetone. Toan hỗn hợp: phối hợp 2 cơ chế trên.
- Hạ : Cơ chế do ethanol làm giảm tổng hợp cortisol, giảm tổng
hợp GH, và có thể làm tăng bài tiết Insuline , ngoài ra còn do uống rƣợu nhiều nên
ngƣời bệnh sẽ ăn kém [54,55].
1.1.4. Tại sao cần xác định mức độ cồn ở nạn nhân tai nạn giao thông
đường bộ
Ngộ độc chất có cồn khiến việc đánh giá và điều trị nạn nhân trở nên phức
tạp:
- Các ảnh hƣởng của chất có cồn có thể lẫn với các triệu chứng chấn thƣơng sọ
não.
- Ngộ độc chất có cồn khiến cho nạn nhân bị chấn thƣơng nghiêm trọng hơn.
- Bệnh nhân bị say rƣợu có thể không nói đƣợc chỗ bị đau hay bị tổn thƣơng.
- Chất cồn có thể tƣơng tác với các loại thuốc khác, đặc biệt là loại thuốc giảm
đau và gây buồn ngủ.
- Say rƣợu có thể gây phức tạp cho việc phẫu thuật, ảnh hƣởng tới lựa chọn
thuốc gây mê và cách giảm đau.
Chất có cồn làm nghiêm trọng hơn các bệnh mạn tính:

6
- Bệnh nhân ngộ độc rƣợu (đồ uống có cồn) có thể đang bị các bệnh lý hoặc
thần kinh khác làm khó khăn cho việc điều trị.
- Say rƣợu làm nặng thêm các bệnh trƣớc đó của bệnh nhân nhƣ các bệnh về
tim, chứng máu không đông và bệnh nhiễm trùng.

sự khác biệt đáng kể về tỉ lệ ngƣời kiêng rƣợu, ngƣời nghiện rƣợu nặng và thƣờng
xuyên say xỉn tại các nƣớc [57]. Ví dụ, tỉ lệ ngƣời kiêng rƣợu trong đối tƣợng dân
số trẻ theo báo cáo là khá thấp tại Luxembourg (2-5%) trong khi tỷ lệ này là 99,5%
tại Ai Cập. Những ngƣời nghiện rƣợu nặng (luôn vƣợt quá mức độ và số chén mỗi
lần hoặc uống hàng ngày) chỉ chiếm 1-4% tại Ấn Độ, nhƣng tại Colombia, tỷ lệ này
là 31,8% [58] .
Ngoài lƣợng uống, thói quen uống cũng liên quan tới tình trạng điều khiển
phƣơng tiện sau khi sử dụng đồ uống có cồn. Hình 1.1 cho thấy sự khác biệt về mức
độ sử dụng chất có cồn giữa các khu vực trên thế giới, bắt đầu từ điểm 1 (ít nguy cơ
nhất) đến điểm 4 (nguy cơ cao nhất). Theo đó, các điểm nguy cơ sử dụng chất có
cồn cao đặc biệt tập trung tại các nƣớc thu nhập thấp và trung bình [58]. Đơn vị sử dụng:
1.00-2.00
2.00-2.50
2.50-3.00
3.00-4.00

Báo cáo thế giới về phòng chống tai nạn thƣơng tích (TNTT), hầu hết các nƣớc có
mức thu nhập cao, khoảng 20% lái xe bị thƣơng tích dẫn đến tử vong có lƣợng cồn
trong máu vƣợt quá giới hạn cho phép. Ngƣợc lại, nghiên cứu ở những nƣớc có mức
thu nhập thấp và trung bình cho thấy từ 33-69% lái xe bị thƣơng tích tử vong và 8-
29% các lái xe bị các chấn thƣơng không tử vong có sử dụng chất có cồn trƣớc khi
xảy ra va chạm [52]. Ảnh hƣởng của chất có cồn lên các va chạm gây tử vong của
một số nƣớc đƣợc trình bày trên hình 1.2.

9

Ghi chú:
Tại Úc: tỷ lệ 7% chưa phản ánh hết tình hình thực tế do việc kiểm tra nồng độ cồn
không được phép thực hiện ở người đã tử vong.
Tại Bồ Ðào Nha: dữ liệu thống kê chưa đầy đủ do không phải tất cả người điều
khiển phương tiện bị kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở.
Hình 1.2. Sử dụng chất có cồn và lái xe là yếu tố nguy cơ tử vong tai nạn giao thông (dữ
liệu của 2002, 2003, 2004) [35]
1.2.3. Ảnh hưởng của đồ uống có cồn đến việc lái xe
Tác dụng tức thời của chất có cồn lên não bộ có thể vừa làm ức chế và vừa
làm kích thích tự nhiên, phụ thuộc vào lƣợng tiêu thụ (bảng 1.1). Theo một cách
khác, chất có cồn gây ra sự suy yếu, làm tăng khả năng bị va chạm do nó làm giảm
khả năng phán đoán, tăng thời gian phản ứng, cảnh giác thấp hơn và giảm nhạy bén
trong quan sát. Theo sinh lý học, chất có cồn làm giảm áp lực máu và ức chế trạng
thái tỉnh táo và hô hấp. Chất có cồn cũng làm giảm cảm giác đau và có khả năng
gây mê. Chất có cồn có thể làm suy giảm sự phán đoán và làm tăng nguy cơ va
chạm mặc dù BAC chỉ ở mức thấp [46]. 10
Bảng 1.2: Ảnh hưởng của BAC đối với cơ thể và hành vi lái xe [46]


0,16-0,29
Suy yếu trầm trọng các giác quan, bao gồm sự giảm của nhận
thức về các kích thích bên ngoài
Suy yếu trầm trọng cơ vận động/thần kinh vận động, ví dụ nhƣ
thƣờng xuyên bị choáng, ngã

0,30-0,39
Không có phản ứng
Bất tỉnh, có thể so sánh với việc bị gây mê khi phẫu thuật
Tử vong (nhiều trƣờng hợp)

≥ 0,40
Hôn mê
Ngƣng thở
Tử vong, thƣờng do suy hô hấp

11
1.2.4. Ảnh hưởng của đồ uống có cồn tới nguy cơ của một vụ va chạm
Sự suy giảm do đồ uống có cồn có ảnh hƣởng rõ ràng tới nguy cơ bị tai nạn
của ngƣời lái xe và ngƣời đi bộ và thƣờng đƣợc báo cáo nhƣ một yếu tố nghiêm
trọng góp phần gây tai nạn giao thông đƣờng bộ ở các nƣớc cơ giới hóa. Ngƣời lái
xe sử dụng chất có cồn có nguy cơ bị va chạm cao hơn nhiều so với những ngƣời
không có cồn trong máu, và nguy cơ này tăng lên nhanh chóng cùng với sự gia tăng
BAC. Đối với những ngƣời điều khiển xe môtô, nếu BAC trên 0,05 g/100 ml đƣợc
ƣớc lƣợng là có nguy cơ bị va chạm cao gấp 40 lần so với những ngƣời có BAC
bằng 0 [36].
Năm 1964, một nghiên cứu bệnh chứng đƣợc tiến hành tại Michigan, Mỹ đã
chỉ ra rằng những ngƣời lái xe có sử dụng đồ uống có cồn có nguy cơ bị va chạm
cao hơn nhiều so với những ngƣời có mức BAC bằng 0, và nguy cơ này tăng lên

Canada 0,08
Côte d’Ivoire 0,08
Cộng hòa Séc 0,05
Đan Mạch 0,05
Estonia 0,02
Phần Lan 0,05
Pháp 0,05
Đức 0,05
Hy Lạp 0,05
Hungary 0,05
Ai Len 0,08
Ý 0,05

Nƣớc hoặc khu vực BAC (g/100ml)
Luxembourg 0,05
Hà Lan 0,05
New Zealand 0,08
Norway 0,05
Bồ Đào Nha 0,05
Liên bang Nga 0,02
Nam Phi 0,05
Tây Ban Nha 0,05
Swaziland 0,08
Thụy Điển 0,02
Thụy Sĩ 0,08
Uganda 0,15
Anh 0,08
Cộng hòa Tazania 0,08
Mỹ* 0,10 hoặc 0,08
Zambia 0,08

riêng 02 tháng đầu năm 2014 đã có trên 1800 ngƣời chết vì TNGT (Nguồn
UBATGTQG).
Theo nghiên cứu ”Đánh giá tình hình lạm dụng rƣợu bia tại Việt Nam” của
Viện Chiến lƣợc và Chính sách y tế, tỷ lệ tham gia giao thông có sử dụng rƣợu bia
nhiều nhất thuộc về những ngƣời điều khiển xe máy. Tại Sơn La, bệnh nhân bị tai
nạn giao thông do sử dụng rƣợu bia nhập vào khoa ngoại của Bệnh viện đa khoa
tỉnh chiếm từ 7-10%. Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, hàng năm có từ 15-
20% bệnh nhân nhập viện do tai nạn giao thông, 2/3 trong số đó khi nhập viện hơi
thở có cồn (chiếm 5-7% tổng số bệnh nhân) [50].
Số liệu của Cục cảnh sát giao thông đƣờng bộ - đƣờng sắt từ năm 2000-2004,
tỷ lệ ngƣời tham gia giao thông bị xử phạt vì sử dụng rƣợu bia cho thấy càng về
cuối tuần, tỷ lệ ngƣời sử dụng rƣợu bia tham gia giao thông càng tăng lên. Theo
điều tra hộ gia đình, có 3,6% những ngƣời sử dụng rƣợu cho biết họ đã bị TNGT do
uống rƣợu, tỷ lệ này ở ngƣời sử dụng bia là 1,2%. Nam giới chiếm tỷ lệ cao nhất
trong số ngƣời đƣợc xét nghiệm lạm dụng rƣợu bia. Liên quan đến nghề nghiệp thì
nông dân là nhóm có tỷ lệ sử dụng rƣợu cao nhất [50] .
Nghiên cứu của Hiệp hội An toàn Đƣờng bộ Toàn cầu (GRSP) về tình trạng
sử dụng bia rƣợu khi tham gia giao thông đƣợc thực hiện từ tháng 11/ 2008 đến
tháng 05/2009 tại hai trung tâm lớn về cấp cứu chấn thƣơng của Việt Nam và Hà
Nội là bệnh viện Việt Đức và Xanh Pôn, cho thấy tình trạng sử dụng bia rƣợu trong
tham gia giao thông khá phổ biến, tỷ lệ nạn nhân có BAC lên tới 56,4%, trong đó
33,4% có BAC vƣợt quá quy định theo Luật GTĐB năm 2008 [39].
Theo số liệu nghiên cứu giám sát đo BAC của bệnh nhân tai nạn giao thông
nhập viện ở 5 bệnh viện chấn thƣơng tại Yên Bái, Đà Nẵng, Bình Dƣơng, TP Hồ
Chí Minh và Bệnh viện Việt Đức từ tháng 08 đến tháng 10/2009 của Cục Quản lý
môi trƣờng y tế, có 3774 bệnh nhân tai nạn giao thông đƣợc xét nghiệm BAC.

15
Trong đó trung bình 67,5% bệnh nhân có BAC với tỷ lệ từ 41% ở Bệnh viện Việt
Đức đến 95% ở Bình Dƣơng. Trong số bệnh nhân xét nghiệm BAC, có tới 58,5%

Trên thế giới cho đến nay mới có 88 quốc gia (49%) có luật uống rƣợu- lái
xe sử dụng giới hạn BAC <= 0,05 g/dl. 86% các quốc gia ở khu vực Châu Âu có
các quy định về BAC, ở các khu vực khác trên thế giới hoặc không có giới hạn
BAC hoặc có giới hạn trên 0,05 g/dl [19].
Do nguyên nhân gây tử vong hàng đầu vì TNGT nên chính phủ, các tổ chức
quốc tế, các cơ quan ban ngành liên quan đặc biệt quan tâm đến vấn đề này và đƣa
ra những văn bản chính thức để giảm thiểu tử vong do TNGT.
Tại Úc, chƣơng trình can thiệp bền vững giảm các vụ va chạm có liên quan
đến chất có cồn đã đƣợc triển khai từ những năm 1970. Các thông tin nghiên cứu về
tác hại của chất có cồn đã đƣợc thu thập, và đây là cơ sở để vận động chính sách và
phê duyệt qui định về mức độ tối đa BAC cho lái xe. Mặc dù cùng theo hệ thống
liên bang, song mỗi bang lại chịu trách nhiệm về các vấn đề an toàn đƣờng bộ riêng.
Do đó, tiêu chuẩn tối đa về BAC của các bang không có sự đồng nhất. Ở một số
bang tiêu chuẩn là 0,05 BAC trong khi ở nơi khác là 0,08 BAC. Sau khi phê chuẩn
qui định về tiêu chuẩn BAC, việc thực thi pháp luật trên diện rộng của cảnh sát giao
thông đƣợc thực hiện từ những năm 1980 cùng với việc triển khai các chƣơng trình
can thiệp khác bao gồm tuyên truyền, vận động cộng đồng, các chƣơng trình tại
cộng đồng, thay đổi giấy phép về chất có cồn. Sau hơn 30 năm thực hiện, yếu tố
chất có cồn trong các vụ va chạm đã giảm một nửa và thái độ của cộng đồng về sử
dụng chất có cồn và lái xe đã thay đổi căn bản, theo đó, cộng đồng đã nhận thức
rằng sử dụng chất có cồn khi lái xe là hành vi thiếu trách nhiệm xã hội [52]. 17

Hình 1.4: Tỉ lệ tử vong giảm ở người lái xe ô tô và mô tô sau khi áp dụng tiêu chuẩn
mức BAC tối thiểu là 0,05g/100ml, Úc, 1981-2001 [52]
Tại Pháp, năm 2002, những hình phạt cho lái xe sử dụng chất có cồn nghiêm
khắc hơn và một số luật mới đƣợc ban hành. An toàn giao thông đƣờng bộ của Pháp
trong giai đoạn 2002-2004 là một thành công lớn, khi tử vong do giao thông đƣờng

ngƣời điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông, cụ thể: nghiêm cấm ngƣời “điều
khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở
có nồng độ cồn”, còn đối với ngƣời điều khiển xe mô tô, xe gắn máy thì nồng độ
cồn trong máu hoặc trong hơi thở không đƣợc “vượt quá 50 miligam/100 mililít
máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở ”. Nhƣ vậy, với những đối tƣợng điều khiển ô
tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đƣờng, do mức độ nguy hiểm cao hơn nên
Luật quy định nghiêm cấm sử dụng đồ uống có cồn (rƣợu, bia ); đối với ngƣời
điều khiển xe mô tô, xe gắn máy trên đƣờng, tuy Luật không cấm nhƣng quy định
nồng độ cồn thấp hơn so với quy định của Luật năm 2001 và là mức 35 nƣớc trên
thế giới áp dụng [1, 3].
Đến ngày 1/7/2009, Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 có hiệu lực, tại
khoản 12 điều 23 quy định không thanh toán BHYT cho các đối tƣợng bị thƣơng
tổn về thể chất do hành vi vi phạm pháp luật của ngƣời đó gây ra.
Trong các nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông, tỷ lệ ngƣời tham gia giao
thông gây tai nạn do sử dụng rƣợu, bia chiếm tỷ lệ khá cao. Để thuận lợi cho việc
xác minh bệnh nhân có sử dụng rƣợu bia hay không, ngày 23/3/2010, Bộ Y tế đã

Trích đoạn Tỷ lệ bệnh nhân CTSN do TNGT có nồng độ cồn trong máu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status