1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khuyết hổng phần mềm vùng cẳng chân là một tổn thương thường gặp,
do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, đặc biệt trong tình hình hiện nay
chúng ta đối mặt với tai nạn giao thông năng lượng cao gây tổn thương gãy
hở nghiêm trọng. Nếu không được điều trị đúng và kịp thời, khuyết hổng
phần mềm do gãy xương hở vùng cẳng chân có thể dẫn đến những biến chứng
phức tạp như thiểu dưỡng, hoại tử vùng chi gãy, nhiễm trùng, viêm xương,
loét, dò mãn tính, chậm liền, khớp giả, mất chức năng chi, và nguy cơ cắt cụt
chi[3],[23], [31].
Các phương pháp điều trị khuyết hổng phần mềm được đề cập từ rất sớm
như ghép da tự do, tạo hình cuống vạt ngẫu nhiên, trám một phần cơ vào ổ
khuyết[[11], [17], [36 ]. Các phương pháp trên tuy đáp ứng được yêu cầu che
phủ phần mềm nhưng lại có những khuyết điểm không thể sửa chữa được là
không che phủ được những khuyết hổng có kích thước lớn, không chống
được nhiễm trùng và không mang lại nguồn máu tới ổ gãy để kích thích liền
xương. Từ đó, các tác giả đã nghiên cứu và đi đến thống nhất phương pháp sử
dụng vạt cơ tại chỗ có cuống mạch liền là phương pháp điều trị rất hiệu quả
các khuyết hổng phần mềm vùng cẳng chân, đặc biệt do gãy xương hở. Với
kỹ thuật không quá phức tạp nó không chỉ nhanh chóng che phủ xương, thúc
đẩy quá trình liền xương, phục hồi về mặt hình thái và chức năng chi thể mà
còn có hiệu quả cao trong điều trị viêm xương, một biến chứng rất khó điều
trị[1],[14].
Ở cẳng chân, vạt cơ bụng chân và cơ dép đã được nghiên cứu từ giữa thế
kỷ XX[6],[19],[41] và được ứng dụng rộng rãi trên lâm sàng. Các vạt này tỏ
rõ ưu thế trong điều trị các khuyết hổng phần mềm vùng cẳng chân do gãy
xương hở. Vạt cơ bụng chân có ưu điểm ở nông hơn, dễ tạo vạt hơn, ít gây
2
tổn thương các thành phần khác khi phẫu tích tạo vạt. Do đó nó có ưu thế
tuyệt đối trong điều trị các khuyết hổng phần mềm ở 1/3 trên cẳng chân[1],
[21]. Tuy nhiên, đối với các gãy xương hở có tổn khuyết phần mềm ở vùng
ngón chân dài và cơ mác ba. Các cơ này có tác dụng gấp bàn chân về phía mu
chân. Riêng cơ chày trước còn giúp xoay bàn chân vào trong.
Khoang ngoài: bao gồm cơ mác dài và cơ mác ngắn. Chúng có tác dụng
xoay bàn chân ra ngoài và trợ giúp gấp gan chân.
Khoang sau: gồm các cơ lớn tạo nên bắp chân là cơ bụng chân và cơ dép,
ngoài ra còn có cơ gan chân. Cơ bụng chân ngắn hơn, dày hơn và có hai phần
là cơ bụng chân trong và cơ bụng chân ngoài. Cơ dép nằm dưới cơ bụng chân.
Ba cơ này đều bám vào gân gót, tạo thành cơ tam đầu cẳng chân, có tác dụng
gấp gan chân.
Khoang sau sâu: gồm cơ chày sau, cơ gấp các ngón chân dài và cơ gấp
ngón cái dài. Cơ chày sau có tác dụng kéo bàn chân vào trong. Cả ba cơ đều
trợ giúp gấp gan chân.
Như vậy, sự phân bố cơ ở cẳng chân không đều. Mào chày và mặt trước
trong xương chày chỉ có da và tổ chức dưới da che phủ, khi bị gãy hở vùng
này rất dễ bị lộ xương. Ở 1/3 dưới cẳng chân ít được cơ che phủ và là vùng
dinh dưỡng kém của cẳng chân.
Cơ tam đầu cẳng chân ở khoang sau là cơ có nhiều tiềm năng làm vạt.
Trong hầu hết các trường hợp, cẳng chân bị chấn thương lộ xương ở phía
trước và trước trong, các cơ này vẫn còn nguyên vẹn nên có thể sử dụng. Mặt
khác cơ tam đầu cẳng chân là một cơ lớn, động tác chủ yếu là gấp gan chân.
Động tác này còn được trợ giúp bởi các cơ ở khoang ngoài và khoang sau sâu.
Do đó khi lấy đi một phần cơ này sự ảnh hưởng đến chức năng chi thể không
đáng kể[6],[9],[34].
1.1.2. Giải phẫu, chức năng cơ dép.
1.1.2.1. Hình thể ngoài, cấu tạo, nguyên uỷ, bám tận, vị trí, liên quan.
- Nguyên uỷ: Cơ dép được hình thành bởi hai bó. Bó ngoài (bó mác) bám
vào phía sau đầu trên xương mác. Bó trong (bó chày) bám ở mép dưới đường
5
chéo và 1/3 dưới của bờ trong xương chày. Ở giữa hai xương cơ dép bám vào
một cung cân gọi là cung cơ dép[13],[19].
1.1.2.2. Chức năng cơ dép.
Cơ dép cùng với cơ bụng chân trong và cơ bụng chân ngoài tạo nên cơ
tam đầu cẳng chân. Đây là khối cơ to, khoẻ, nằm ở khu sau cẳng chân, tạo nên
bắp chân[13].
Cơ bụng chân có nguyên uỷ từ lồi cầu đùi do đó nó đi qua ba khớp:
khớp gối; khớp chày – sên; khớp sên – gót. Cơ dép có nguyên uỷ từ xương
chày và xương mác nên nó đi qua hai khớp: khớp chày – sên; khớp sên – gót.
Cơ bụng chân và cơ dép có chức năng gấp bàn chân về phía gan chân, kéo gót
lên giúp ta đứng bằng mũi chân[34].
Cơ bụng chân còn liên quan đến động tác gấp gối và làm vững khớp
gối. Cơ bụng chân và cơ dép đều giúp nâng gót và ổn định khớp cổ chân
7
trong động tác đi hay chạy nhảy. Ngay trước khi nâng gót, gối phải ở tư thế
duỗi thẳng, khớp sên – gót ở vị trí trung gian thì khớp cổ chân phải gấp mu
ít nhất 10
0
mới đạt được dáng đi bình thường[34].
Việc lấy đi toàn bộ cơ dép sẽ làm ảnh hưởng tới chức năng chi thể, chủ
yếu ảnh hưởng tới khớp cổ chân do cơ này chỉ đi qua khớp cổ chân. Tuy
nhiên, các cơ ở khu sau, ngoài cẳng chân cũng có tác dụng trợ giúp một
phần cơ tam đầu cẳng chân, chúng sẽ bù trừ khi cơ dép bị lấy đi làm vạt. Do
đó nếu chỉ lấy một phần cơ dép làm vạt thì chức năng chi thể bị ảnh hưởng
không đáng kể[6],[34].
1.2. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ GÃY HỞ THÂN XƯƠNG CẲNG CHÂN.
1.2.1. Chẩn đoán gãy xương hở.
Gãy xương hở là gãy xương mà ổ gãy mở thông với môi trường bên
ngoài qua vết thương. Đây là tổn thương kết hợp giữa gãy xương và tổn
thương phần mềm xung quanh ổ gãy. Chẩn đoán gãy xương hở không khó.
Điều trị gãy xương hở là một kì công đòi hỏi đồng thời sự tận tình của người
thày thuốc và sự hiểu biết cặn kẽ về công việc[23], [31].
Theo Gustilo (1990), nguyên tắc điều trị gãy hở thân hai xương cẳng
chân cần tuân theo các bước có trình tự như sau[31]:
1- Điều trị gãy hở như một cấp cứu.
2- Thực hiện đánh giá ban đầu để chẩn đoán các chấn thương đe dọa
sinh mạng.
3- Cần bắt đầu sử dụng liệu pháp kháng sinh tại phòng cấp cứu hoặc
phòng mổ.
9
4- Cắt lọc vết thương cấp cứu với tưới rửa dồi dào. Với gãy hở độ II và
III cần cắt lọc lại sau 48 đến 72 giờ.
5- Cố định ổ gãy.
6-Che phủ phần mềm.
7- Ghép xương.
8-Phục hồi chức năng chi.
* Sự lựa chọn phương tiện cố định ổ gãy.
Theo Gustilo, ổ gãy được cố định vững chắc từ sớm bằng các kĩ thuật
tiên tiến đã làm tăng đáng kể tỉ lệ liền xương so với điều trị không mổ. Đồng
thời, cố định vững xương trong gãy hở sẽ làm giảm tỉ lệ nhiễm trùng và bảo
vệ tính toàn vẹn của mô mềm, kích thích liền vết thương. Cố định vững ổ gãy
còn giúp chăm sóc vết thương dễ dàng khi bệnh nhân phải di chuyển nhiều
lần để cắt lọc lặp lại và nó cũng cho phép vận chuyển trên bệnh nhân đa chấn
thương[31], [32].
Các phương tiện cố định trong gãy hở được chia làm hai loại: cố định
trong và cố định ngoài. Không có một phương pháp cố định lí tưởng để điều
trị cho tất cả các loại gãy hở. Sự lựa chọn phương tiện cố định phụ thuộc vào
vị trí của vết thương, các tổn thương phối hợp và kinh nghiệm của phẫu thuật
viên[3],[31].
Các phương pháp cố định ngoài bao gồm:
- Bộ khung kim loại bên ngoài.
- Nẹp chỉnh hình.
* Sự lựa chọn vạt cơ thích hợp.
Sự lựa chọn vạt cơ thích hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm: tuổi,
nhu cầu của bệnh nhân, vị trí, kích thước và tình trạng khuyết hổng, các phẫu
thuật sửa chữa tiếp theo, vị trí liên quan của các tổn thương phần mềm và các
mô sẵn sàng cho tạo vạt. Vạt có thể là vạt cân-da, vạt cơ có cuống hoặc vạt cơ
tự do chuyển bởi kĩ thuật vi phẫu (có hoặc không chuyển da)[23],[31].
Cơ bụng chân và cơ dép được sử dụng rất phổ biến dưới dạng vạt tại
chỗ để che phủ phần mềm trong gãy hở cẳng chân. Cơ bụng chân rất hữu
dụng trong che phủ các khuyết hổng 1/3 trên xương chày, có thể thấp hơn nếu
tạo một vạt cơ hình đảo thực sự bằng cách tách nguyên ủy của nó khỏi lồi cầu
đùi[1],[23],[31].
Cơ dép cuống trung tâm được sử dụng đầu tiên cho che phủ các khuyết
hổng 1/3 giữa xương chày, có thể kéo thấp xuống bằng cách rạch bao cơ. Cơ
dép cuống ngoại vi được sử dụng để che phủ các khuyết hổng 1/3 dưới xương
chày. Các khuyết hổng ở 1/3 dưới xương chày còn có thể che phủ bởi cơ duỗi
chung các ngón mặc dù cơ này có kích thước nhỏ hơn[6],[14],[31].
Chuyển vạt tự do được sử dụng che phủ các khuyết hổng lớn, thường ở
vùng dưới xương chày. Việc sử dụng vạt tự do còn tránh được việc lặp lại
phẫu thuật nhiều lần
* Các quan điểm về thời gian che phủ phần mềm.
Đối với các gãy hở độ I và II, việc cắt lọc và che phủ phần mềm không
có nhiều bàn cãi. Tuy nhiên, trong gãy hở độ III, đặc biệt gãy hở IIIb, IIIc là
những tổn thương yêu cầu chuyển vạt tại chỗ hoặc vạt tự do. Vấn đề che phủ
phần mềm sớm hay muộn được đặt ra và đang được nghiên cứu, tranh luận
rộng rãi.
Theo kinh điển, sau khi được cắt lọc thì đầu và tưới rửa sạch sẽ, vết
thương sẽ được theo dõi và cắt lọc lại do cắt lọc thì đầu rất khó đánh giá được
12
sức sống của tổ chức. Điều trị tạo hình phần mềm được thực hiện sau 5-7
ngày nếu vết thương sạch và ổn định. Việc làm này dựa trên cơ sở[22],[27],
Điều trị khuyết hổng phần mềm vùng cẳng chân đã được các tác giả đề
cập đến từ rất sớm. Chúng bao gồm các phương pháp kinh điển được nghiên
cứu và phát triển từ cuối thế kỉ XIX như ghép da tự do, sử dụng vạt da có
cuống ngẫu nhiên, phương pháp trám một phần cơ vào ổ khuyết, đến các
phương pháp sử dụng vạt có cuống mạch liền, các phương pháp chuyển vạt vi
phẫu. Ngày nay, các phương pháp điều trị khuyết hổng phần mềm vùng cẳng
chân được sử dụng rộng rãi, việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc
vào kích thước khuyết hổng (độ sâu, độ rộng), đặc điểm vùng khuyết hổng
( vị trí khuyết hổng, có lộ xương và các cấu trúc quan trọng không?), điều
kiện của cơ sở y tế và trình độ của phẫu thuật viên.
1.3.1. Các phương pháp kinh điển.
1.3.1.1. Ghép da tự do.
Ghép da tự do là phương pháp sử dụng mảnh da rời để che phủ tổn
thương khuyết hổng phần mềm. Phương pháp này được Reverdin và Ollier
thực hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XIX, sau này phương pháp được nghiên
cứu và bổ xung bởi Wolfe, Krause, Quene F[11],[41].
Năm 1929, Blair và Brown đề xướng kiểu ghép da chỉ sử dụng đến lớp
trung bì, phương pháp này được phát triển mạnh khi Padgett (1939) chế tạo ra
dao lấy da, cho phép lấy được những mảnh da theo ý muốn.
Phương pháp này có kĩ thuật đơn giản, dễ thực hiện. Tuy nhiên nó bộc
lộ nhược điểm là mảnh da ghép sống dựa vào thẩm thấu từ nền tiếp nhận vì
vậy đòi hỏi nền tiếp nhận phải tốt. Đối với các chấn thương khuyết hổng phần
mềm lộ xương, ghép da tự do không thể thực hiện được.
14
Điều kiện thực hiện:
- Khuyết hổng ở vùng ít chịu tì đè, ít tiếp xúc, ít va chạm, ít co giãn.
- Khuyết hổng nông, nền nhận phải được chuẩn bị tốt, không ghép trực
tiếp lên gân, xương, mạch máu, thần kinh, không ghép vào tổn khuyết đang
có viêm nhiễm.
1.3.1.2. Sử dụng vạt cuống ngẫu nhiên[7],[33],[36],[37].
Phương pháp được thực hiện dựa vào cắt lọc triệt để tổ chức viêm, san
bằng ổ khuyết rồi nhồi gạc mỡ kháng sinh để dẫn lưu dịch ứ đọng, cản trở
mép vết thương co hẹp lại, loại bỏ khoảng trống, chống nhiễm khuẩn, tạo điều
kiện cho tổ chức hạt mọc từ đáy vết thương lên phủ đầy tổn khuyết.
Phương pháp này có nhiều nhược điểm là thời gian điều trị kéo dài, tỉ lệ
tái phát cao, không mang được nguồn máu đến tổn khuyết nên không có khả
năng kích thích liền xương, chống nhiễm trùng. Mặt khác, xương bị phơi bày
lâu, sự tự liền sẹo diễn ra chậm chạp dễ để lại sẹo xấu dính xương, dễ chợt loét.
Như vậy các phương pháp kinh điển đã có những đóng góp to lớn trong điều
trị khuyết hổng phần mềm. Tuy nhiên qua thời gian kiểm chứng, các phương
pháp này đã bộc lộ những nhược điểm rõ rệt mà tự nó không thể khắc phục.
Ngày nay, cùng với sự phát triển về vi phẫu và những hiểu biết cặn kẽ về giải
phẫu, các phương pháp sử dụng vạt cơ có cuống mạch liền và chuyển vạt cơ
vi phẫu đang được nghiên cứu và áp dụng sâu rộng. Nó đã tỏ rõ ưu thế trong
điều trị khuyết hổng phần mềm và khắc phục các nhược điểm của các phương
pháp kinh điển. Đặc biệt trong điều trị khuyết hổng phần mềm vùng cẳng
16
chân do chấn thương, một loại tổn thương phức tạp bao gồm tổn thương phần
mềm, gãy hở xương, thương tổn mạch máu, thần kinh kèm theo mà trước đây
các tổn thương này thường có chỉ định cắt cụt.
1.3.2. Phương pháp sử dụng vạt có cuống mạch liền.
1.3.2.1. Các vạt da- cân.
Vạt da- cân là vạt mà thành phần bao gồm da, lớp tổ chức mỡ dưới da
và lớp cân bọc cẳng chân. Sự nuôi dưỡng các vạt này ở cẳng chân chủ yếu
dựa vào cuống mạch đi đến lớp cân rồi tỏa vào đám rối trên dưới cân rồi từ
đám rối cho các nhánh xiên lên nuôi lớp da. Những vạt có cuống ở gốc chi
được gọi là những vạt cuống trung tâm, các vạt có cuống ngược được gọi là
vạt có cuống ngoại vi.
Cormack và Lamberty (1984) dựa vào giải phẫu mạch nuôi đưa ra phân
loại các vạt da-cân có cuống mạch liền như sau[25]:
Chỉ định: che phủ 1/3 trên cẳng chân, trám khoeo, gối, làm vạt chéo
chân che phủ tổn khuyết bên đối diện.
Vạt bắp chân ngoài.
Vạt được thiết kế ở mặt sau ngoài bắp chân, dùng để che phủ khuyết
hổng phần mềm mặt ngoài khớp gối và cẳng chân.
Vạt được nuôi dưỡng bởi nhánh động mạch tách ra từ động mạch
khoeo hay từ thân động mạch chày mác lên thẳng lớp cân rồi từ lớp cân cho
các nhánh xiên lên nuôi dưỡng da.
Giới hạn vạt: Phía ngoài, đường thẳng song song cách bờ sau xương
mác 1cm; phía trong, đường thẳng giữa bắp chân; phía trên, ngang nếp gấp
khoeo; phía dưới, giới hạn 1/3 giữa tiếp giáp 1/3 dưới cẳng chân.
18
Các vạt có cuống ngoại vi.
Vạt mác.
Vạt mác cùng với vạt chày và vạt chày mác phối hợp được Besse D,
1990 mô tả kĩ về giải phẫu và các mốc bóc vạt.
Vạt mác được nuôi dưỡng bởi 2 nhánh xiên, nhánh thứ nhất xuất phát
từ động mạch mác, chạy qua khe giữa cơ gấp dài ngón cái, cơ dép và các cơ
mác rồi xiên vào cân ở trên đỉnh mắt cá ngoài 12-13cm, sau xương mác 2cm.
Nhánh thứ hai cũng xuất phát từ động mạch mác xiên vào cân ở trên đỉnh mắt
cá ngoài 4-10cm. Cả hai động mạch đều chạy hướng lên trên.
Giới hạn vạt: ở trên, ngang nền trám khoeo; ở dưới, cách đỉnh mắt cá
ngoài 12-13cm, rộng 3-4cm; phía ngoài là đường kẻ dọc sau xương mác 2-3cm;
phía trong, ở trên vượt quá rãnh cơ bụng chân, ở dưới chếch dần ra ngoài.
Chỉ định: che phủ các khuyết hổng phần mềm ở 2/3 dưới cẳng chân, cổ
chân, gót.
Vạt chày.
Do hai cuống mạch xiên từ động mạch chày sau nuôi dưỡng. Cuống
thứ nhất xiên vào cân cách đỉnh mắt cá trong 9-10cm, ngay bờ sau xương
chày. Cuống thứ hai ở trên đỉnh mắt cá trong 4-8cm.
trung tâm và vạt cơ dép có cuống ngoại vi.
Vạt cơ bụng chân: Cơ bụng chân bao gồm cơ bụng chân trong và cơ
bụng chân ngoài, cùng với cơ dép ở sâu tạo thành cơ tam đầu cẳng chân. Mỗi
cơ bụng chân được nuôi dưỡng bởi một cuống mạch thần kinh riêng biệt. Vạt
da-cơ hay vạt cơ bụng chân thường được sử dụng dưới dạng hình bán đảo để
tạo hình độn phủ những khuyết hổng 1/3 trên trước cẳng chân, vùng khoeo,
trước hoặc hai bên khớp gối. Vạt có thể được lấy riêng từng cơ bụng chân
20
trong hoặc ngoài hay phối hợp với vạt cơ dép, vạt da-cơ bụng chân tuỳ theo
yêu cầu thực tế.
Vạt cơ dép cuống trung tâm:
Cơ dép có kích thước lớn, có nhiều nguồn nuôi dưỡng. Vạt cơ dép
cuống trung tâm dựa vào cuống mạch chính của cơ dép ở gần nguyên uỷ, khả
năng xoay của vạt lớn. Vạt được chỉ định che phủ những khuyết hổng xương,
phần mềm ở 2/3 trên cẳng chân.
Vạt cơ dép cuống ngoại vi:
Là vạt có ưu thế tuyệt đối trong điều trị viêm khuyết xương ở 1/3 dưới
cẳng chân. Tuy nhiên, khả năng nuôi dưỡng của vạt hạn chế do các nhánh
mạch phụ của cơ dép không hằng định và còn phụ thuộc vào sự nối thông
trong cơ với những mạch khác.
Các vạt khác ở cẳng chân.
Vạt cơ chày trước, cơ chày sau, cơ gấp dài ngón cái. Các cơ này đa số
là cơ dài, mảnh, sự cấp máu cho cơ dựa vào một cuống mạch kém, do vậy
chúng ít được dùng trong lâm sàng.
Độ xoay của vạt cơ, vạt da-cơ có cuống mạch liền.
Khi sử dụng một cơ làm vạt, chúng ta không những cần đánh giá kích
thước cơ để phủ đầy khuyết hổng, khả năng sống của vạt dựa vào sự cấp máu
thích hợp mà chúng ta cần có những hiểu biết đầy đủ về độ xoay của vạt để
quyết định lựa chọn và thiết kế vạt cơ phù hợp.
Nguyên tắc xác định độ xoay của vạt:
Taylor G.I (1974) thực hiện ghép xương mác có cuống mạch nuôi,
Baudet. J (1976) thực hiện chuyển vạt cơ lưng to, Gilbert A. (1982) thực hiện
chuyển vạt cơ lưng to.
22
Trong nước, các tác giả đã sớm áp dụng và thực hiện thành công các
vạt tự do để phụchồi tổn khuyết vùng cẳng chân cũng như các vùng khác như
Nguyễn Việt Tiến với vạt xương mác, Lê Văn Đoàn với vạt cơ lưng rộng
Phương pháp chuyển vạt tự do có nhiều ưu điểm vượt trội, khắc phục
được nhiều hạn chế của các phương pháp tạo hình khác. Tuy nhiên, nó đòi hỏi
phải có kính hiển vi phẫu thuật, dụng cụ vi phẫu và phẫu thuật viên được đào
tạo công phu, giàu kinh nghiệm. Do đó, kĩ thuật này chỉ được áp dụng tại các
trung tâm lớn, chuyên khoa.
1.4. PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN VẠT NỬA TRONG CƠ DÉP CUỐNG
TRUNG TÂM, CƠ SỞ GIẢI PHẪU, CHỈ ĐỊNH, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ ỨNG DỤNG LÂM SÀNG.
1.4.1. Cơ sơ giải phẫu.
1.4.1.1. Phân loại mạch máu nuôi cơ.
Sự phân bố mạch máu trong cơ đã được nghiên cứu từ đầu thế kỉ XX.
Tuỳ theo mục đích và tương ứng với từng giai đoạn, mỗi tác giả có cách phân
loại riêng của mình.
Năm 1981, Mathes S.J. và Nahai F dựa trên cơ sở số lượng các cuống
mạch đi trong cơ và tính trội tương đối của chúng đưa ra phân loại mạch máu
trong cơ với 5 kiểu chính. Cách phân loại này phù hợp với những ứng dụng
lâm sàng và giúp các nhà phẫu thuật thành công trong thiết kế và sử dụng vạt
Phân bố mạch máu nuôi cơ theo phân loại của Mathes S.J. và Nahai F [38]:
Kiểu 1: Bao gồm những cơ chỉ có một cuống mạch duy nhất phân các
nhánh nhỏ đi vào trong cơ. Cuống mạch này đi vào cấp máu chủ yếu cho
bụng cơ. Thuộc nhóm này có cơ bụng chân, cơ căng mạc đùi, cơ khuỷu, cơ
rộng giữa.
duỗi dài ngón cái. Các cơ này đa số thuộc loại thon dài, phần da trên cơ chủ
yếu được nuôi dưỡng bởi các nhánh xuyên cơ da hơn là các nhánh cơ. Do vậy
những cơ này không thể thiết kế vạt cơ-da mà chỉ lấy được vạt cơ thuần tuý.
Kiểu 5: Bao gồm các cơ có một cuống mạch trội và nhiều cuống mạch
phụ theo tiết đoạn. Kiểu cấp máu này chủ yếu thấy ở các cơ rộng, dẹt như cơ
lưng rộng, cơ ngực lớn. Mỗi cơ có một cuống mạch lớn đi vào gần chỗ bám
tận của cơ và các cuống mạch nhỏ vào cơ theo từng đoạn đến sát nguyên uỷ
của nó. Hai hệ thống này tiếp nối rộng rãi trong cơ. Các nhánh còn cấp máu
cho da trên đường đi cấp máu cho cơ. Các cơ kiểu này rất hữu dụng trong
việc thiết kế vạt da-cơ.
Kiểu 1 Kiểu 2 Kiểu 3 Kiểu 4 Kiểu 5
Hình 1.3: Phân loại các kiểu cấp máu cho cơ theo Mathes S.J. và Nahai F
1.4.1.2. Mạch máu nuôi cơ dép.
Động mạch nuôi cơ dép.
Cơ dép được nuôi dưỡng bởi các cuống động mạch xuất phát từ động
mạch chày sau và động mạch mác. Có hai nhóm mạch riêng rẽ đi vào hai nửa
của cơ. Thông thường nửa trong cơ dép do nhóm mạch xuất phát từ động
mạch chày sau, nửa ngoài cơ dép do nhóm mạch xuất phát từ động mạch mác.
Sự phân bố động mạch nuôi dưỡng cho mỗi nửa cơ dép thuộc kiểu 2 theo
phân loại của Mathes. S.J và Nahai.F.
25
Các cuống động mạch vào nửa trong cơ dép: (3 cuống)[19]
Cuống trên: luôn luôn có, là cuống chính, đi vào mặt trong sâu 1/3 trên bó
trong cơ dép. Tách ra từ động mạch chày sau ngay trên (38,5% trường hợp)
hay dưới (61,5% trường hợp) chỗ tách ra của động mạch mác. Đường kính
ngoài trung bình tại nguyên uỷ của cuống 1,8mm; chiều dài trung bình của
cuống 3,3cm.
Cuống giữa: có mặt trong 96,2% trường hợp, khoảng 20% trường hợp có
2 nhánh giữa. Tách ra từ động mạch chày sau, đi vào mặt sâu của 1/3 giữa bó