HỆ ĐA TÁC TỬ VÀ ỨNG DỤNG TRONG ĐIỀU KHIỂN ĐÈN GIAO THÔNG THÔNG MINH - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẠC SĨ CNTT QUA MẠNG
&
BÀI THU HOẠCH MÔN HỌC
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRONG TIN HỌC
ĐỀ TÀI:
HỆ ĐA TÁC TỬ
VÀ ỨNG DỤNG TRONG ĐIỀU KHIỂN ĐÈN
GIAO THÔNG THÔNG MINH
• GVHD: GS.TSKH HOÀNG VĂN KIẾM
• HVTH: NGUYỄN DƯƠNG HÀO – CH1201028
TP.Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2013
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
Mở đầu
Trong xu hướng phát triển bùng nổ công nghệ thông tin và truyền thông
mạnh như hiện này, có một hệ thống đóng vai trò rất quan trọng. Đó là hệ đa tác tử
(Multi- Agents System). Hệ đa tác tử này có rất nhiều agents, mỗi tác tử có những
đặc điểm, khả năng phản ứng rất đa dạng. Vì vậy sự phối hợp hoạt động của các
tác tử này sẽ làm yếu tố chính quyết định đến sự thành công hay thất bại của hệ đa
tác tử nói riêng và của toàn bộ hệ thống nói chung.
Nói một cách khác các tác tử trong hệ đa tác tử phối hợp hoạt động một cách
nhịp nhanh, linh hoạt sẽ làm cho hệ thống hoạt động trôi chảy, trơn tru không bị
nhập nhằng hay tắc nghẽn.
Nắm bắt được tầm quan trọng này em mạnh dạn chọn đề tài về hệ thống đa
tác tử và ứng dụng trong điều khiển đèn giao thông thông minh cho bài thu hoạch
môn phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học . Đây là một lĩnh vực rất mới
và đây tiềm năng cho việc nghiên cứu.
Em xin chân thành gởi lời cám ơn đến thầy- GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm,
người đã tận tâm truyền đạt những kiến thức nền tảng cơ bản cho chúng em về
môn học “Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học”. Bên cạnh đó em cũng

3
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
3.1.1 Ý tưởng hệ thống đèn giao thông thông minh 18
3.1.2 Mục đích của hệ thống đèn giao thông thông minh: 20
3.1.3 Cơ sở của hệ thống 20
3.2 Ứng dụng hệ thống đèn giao thông thông minh và những ứng dụng liên quan. .21
3.2.1.Phương pháp điều khiển động đèn tín hiệu giao thông ứng dụng lý thuyết đại
số gia tử-Th.s Hoàng Văn Thông, trường ĐH Giao Thông Vận Tải (2010) 21
3.2.2 Điều khiển đèn tín hiệu giao thông của Nguyễn Hồng Thắng – dự thi trí tuệ
Việt Nam 2002 23
3.2.3 Đèn giao thông thông minh-Stefan Lämmer, ĐH Công nghệ Dresden (Đức) và
Dirk Helbing, trường ETH Zurich (Thụy Sĩ) 24
3.2.4 Hệ thống điều khiển giao thông thành phố thông minh –đề tài nghiên cứu của
các kỹ sư ĐH Giao thông Vận tải 26
28
3.4 So sánh và nhận xét 28
Chương 4 Kết luận 29
Tài liệu tham khảo 30
HVTH: Nguyễn Dương Hào – CH1201028
4
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÁC TỬ
1. 1 Giới thiệu
Sự phát triển của kỹ thuật tính toán trong vài thập kỷ cuối đã dẫn đến sự thay đổi
tích cực các lĩnh vực sử dụng thông tin đồng thời dẫn đến sự ra đời của nhiều công nghệ
và lĩnh vực nghiên cứu mới. Một mặt, các hệ thống máy tính ngày càng tiên tiến cho
phép xử lý thông tin nhanh hơn, đa dạng hơn đã tác động tích cực đến đời sống, văn hóa,
kinh tế. Mặt khác, bản thân sự phát triển và sự phổ cập máy tính đặt ra những yêu cầu
mới về mặt công nghệ, về cách thức xây dựng, ứng dụng và nghiên cứu các hệ thống
thông tin. Các hệ thống máy tính hiện đại có một số đặc điểm sau:

thân thiện và trực giác, khả năng thích nghi với yêu cầu người dùng, cho phép cung cấp
thông tin có tính cá nhân hóa với từng đối tượng sử dụng[2].
1.2 ĐỊNH NGHĨA TÁC TỬ
1.2.2.Tác tử là gì?
Theo một định nghĩa thường được sử dụng, tác tử (agent) là hệ thống tính toán
hoạt động tự chủ trong một môi trường nào đó, có khả năng cảm nhận môi trường và tác
động vào môi trường.
Định nghĩa trên có một số đặc điểm cần làm rõ.
Trước hết, tác tử là hệ thống tính toán, có thể là phần cứng, phần mềm, hoặc cả
cứng lẫn mềm. Nếu là phần mềm, tác tử có thể là chương trình máy tính, mô đun chương
trình hoặc thậm chí các dòng thực hiện.
Khi nói tác tử tồn tại và hoạt động trong một môi trường, định nghĩa trên nhấn
mạnh khả năng của tác tử cảm nhận thông tin trực tiếp từ môi trường và có thể tác động
trực tiếp làm thay đổi môi trường một cách nào đó (hình 1.1). Tác tử nhận thông tin từ
HVTH: Nguyễn Dương Hào – CH1201028
6
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
môi trường qua các cơ quan cảm nhận và tác động vào môi trường bằng các cơ quan
tác động.
Đối với tác tử phần cứng, cơ quan cảm nhận có thể là các cảm biến, camera, cơ
quan tác động có thể là các bộ phận cơ học, quang học hoặc âm thanh. Đối với các tác tử
là chương trình phần mềm, môi trường hoạt động thông thường là các máy tính hoặc
mạng máy tính. Việc cảm nhận môi trường và tác động được thực hiện thông qua các lời
gọi hệ thống.
Một số ví dụ tác tử. Các đặc điểm nói trên tồn tại trong môi trường và tự chủ có
thể tìm thấy trong rất nhiều hệ thống và do vậy những hệ thống này được coi là tác tử
theo định nghĩa trên. Dưới đây là hai ví dụ tác tử phần cứng và phần mềm.
• Các hệ thống điều khiển tự động. Các hệ thống này được đặt trong môi trường
làm việc, có khả năng thu nhận trực tiếp thông tin môi trường khi các điều kiện bên ngoài
thay đổi. Ví dụ đơn giản cho hệ thống điều khiển tự động là bộ điều nhiệt (của lò sưởi,

• Tính phản xạ: tác tử có khả năng phản xạ kịp thời với các thay đổi trong môi
trường mà tác tử cảm nhận được[4].
• Tính cộng đồng: tác tử có khả năng tương tác với người dùng hoặc các tác tử khác
để thực hiện nhiệm vụ của riêng mình hoặc để giúp đỡ các đối tác[4].
HVTH: Nguyễn Dương Hào – CH1201028
8
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
1.2.3 Một số đặc tính của tác tử
Khả năng tự học: tự học hoặc tự động là khả năng của tác tử thu thập các kiến
thức mới từ kinh nghiệm thu lượm được, chẳng hạn qua các lần thành công và thất bại.
Kết quả tự học phải làm cho tác tử hành động tốt hơn, hiệu quả hơn[4]
Tính thích nghi: thích nghi là khả năng của tác tử tồn tại và hoạt động hiệu quả
khi môi trường thay đổi. Mặc dù có nhiều nét liên quan với tính phản xạ, khả năng thích
nghi của tác tử khó thực hiện và đòi hỏi nhiều thay đổi trong quá trình suy diễn của tác tử
hơn. Tính thích nghi có thể thực nhờ khả năng tự học từ kinh nghiệm của tác tử. [4]
Khả năng di chuyển: là khả năng cảu tác tử (phần mềm) di chuyển giữa các máy
tính hoặc các nút khác nhau trong mạng đồng thời giữ nguyên trạng thái và khả năng hoạt
động của mình. Các tác tử có đặc điểm này được gọi là tác tử di động. Việc thiết kế và
cài đặt tác tử di động đặt ra các yêu cầu đặc biệt về vấn đề an ninh hệ thống. Do có nhiều
ứng dụng và các vấn đề đặc thù trong thiết kế và cài đặt, tác tử di động sẽ được đề cập
đến trong một chương riêng. Trên thực tế, tác tử di động và tác tử thông minh thường
được coi như hai hướng nghiên cứu riêng[4]
1.3. HỆ THỐNG ĐA TÁC TỬ(Multi-Agents System)
Do ứng dụng ngày càng phức tạp, khả năng giải quyết vấn đề của những tác tử
riêng lẻ không đáp ứng được yêu cầu đặt ra hoặc tác tử trở nên quá phức tạp. Trong
trường hợp đó, hệ đa tác tử là giải pháp thích hợp. Hệ đa tác tử là hệ thống bao gồm
nhiều tác tử có khả năng tương tác nhau. Việc kết hợp nhiều tác tử cho phép tạo ra các hệ
thống có những đặc điểm mà các tác tử xét riêng lẻ không có[4]
Hệ đa tác tử như đối tượng nghiên cứu của trí tuệ nhân tạo phân tán
Nghiên cứu về hệ đa tác tử có nguồn gốc từ một hướng nghiên cứu của trí tuệ nhân

tồn tại và phát triển của mình, mục tiêu nghiên cứu cũng như quan niệm về khoa học này
có nhiều thay đổi, có những lúc không hoàn toàn phù hợp với khả năng khoa học công
nghệ và thực tế. Một số thành công ban đầu trong việc xây dựng các chương trình tự
động chơi trò chơi, tự động chứng minh định lý, tự động suy diễn gây cảm giác có thể đạt
được trí tuệ máy một cách dễ dàng. Tuy nhiên sau những thành công ban đầu, cộng đồng
nghiên cứu trí tuệ nhân tạo dần dần nhận ra việc tạo cho máy tính khả năng thực hiện
những việc vốn rất dễ với con người là không đơn giản, thậm chí là không thể thực hiện
được trong tương lai gần. Nhiều mục tiêu đặt ra cho trí tuệ nhân tạo trong thời kỳ đầu
không thực hiện được. Có thể nhớ lại một ví dụ thất bại trong bại trong việc chế tạo máy
tính thế hệ 5, máy tính thông minh, của Nhật Bản.
1.4.2 Mạng máy tính
Việc phát triển mạng máy tính nói chung và Internet nói riêng được coi là động
lực quan trọng dẫn đến hình thành và sử dụng công nghệ tác tử. Internet được hình thành
như một mạng máy tính cho phép các máy tính trao đổi thông tin với nhau qua những
khoảng cách xa. Thành công của phiên bản Internet đầu tiên đồng nghĩa với việc giao
thức TCP/IP trở thanh giao thức chuẩn cho các mạng diện rộng và quyết định sự phát
triển nhanh chóng của Internet sau này. Tiếp theo email và FTP, sự ra đời của giao thức
HTTP, giao thức nền web, biến Internet thành một hệ thống thông tin khổng lồ với hàng
tỉ trang web và nhiều dạng thông tin khác.
Cùng với khả năng truy cập và sử dụng lượng thông tin khổng lồ đó là một vấn đề
không kém quan trọng: làm thế nào để khai thác và sử dụng mạng thông tin hiệu quả.
Cách truy cập thông tin thông thường nhất là cách duyệt web bằng trình duyệt rõ ràng
không hiệu quả trong biển thông tin khổng lồ và đa dạng trên Internet.
1.4.3 Lĩnh vực phần mềm
Mục đích chính của công nghệ phần mềm là nghiên cứu kĩ thuật và quy trình phân
tích thiết kế cũng như sản xuất phần mềm sao cho giảm thời gian và giá thành đồng thời
tăng chất lượng sản phẩm. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công nghệ phần
HVTH: Nguyễn Dương Hào – CH1201028
11
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm

12
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
1.6 Một số ứng dụng của tác tử
6.1 ứng dụng trong quản lý sản xuất.
Một ứng dụng tiêu biểu sử dụng tác tử trong quản lý sản xuất là hệ thống YAMS
[parunak]. Bài toán quản lý sản xuất có thể mô tả như sau. Xưởng sản xuất hình thành từ
các phân xưởng, mỗi phân xưởng bao gồm nhiều vị trí làm việc ( cỗ máy, từng công nhân
riêng lẻ). Các vị trí làm việc trong phân xưởng tạo thành hệ thống sản xuất mềm cho phép
thực hiện trọn vẹn từng công đoạn như sơn, dập, lắp ráp.vv Hệ tác tử còn được lập kế
hoạch sản xuất, hỗ trợ thiết kế sản phẩm, quản lý robot công nghiệp.
6.2 Tác tử quản lý qua trình và luồng công việc (workflow)
Nhiệm vụ của hệ thống quản lý quá trình và luồng công việc là đảm bảo các phần
việc khác nhau của một quá trình được thực hiện bởi những nhân viên hoặc bộ phận thích
hợp vào thời gian cần thiết. Quá trình ở đây có thể là quá trình xử lý hồ sơ, quá trình cung
cấp nguyên liệu và sản phẩm. Trong giải pháp sử dụng tác tử, mỗi nhân viên hay bộ phận
tương ứng với một tác tử. Để thực hiện công việc của mình, tác tử thương lượng với nhau
về công việc, yêu cầu và điều kiện thực hiện.
6.3 Tác tử thu thập và quản lý thông tin
Tác tử thuộc loại này được sử dụng chủ yếu để giải quyết vấn đề thừa thông tin,
đặc biệt là thông tin trên Internet. Do lượng thông tin trên internet quá lớn và ngày càng
tăng lên, người sử dụng thông tin gặp khó khăn trong hai vấn đề sau
6.4 Tác tử phục vụ thương mại điện tử
Quá trình giao dịch thương mại thường bao gồm một số khâu nhất định. Để giảm
thời gian, tăng hiệu quả thương mại, một số khâu có thể tự động hóa bằng cách giao
quyền ra quyết định cho các tác tử. Tác tử thương mại điện tử hiện nay có thể chia thành
một số dạng như sau.
Tác tử mua hàng băng cách so sánh ( comparison shopping agents).
Chợ điện tử và tác tử đấu giá.
6.5 Tác tử giao diện
HVTH: Nguyễn Dương Hào – CH1201028

hành động của tác tử có thể mâu thuẩn với nhau, ví dụ nếu nhiều tác tử - robot có nhu cầu
di chuyển qua một cửa trong khi cửa chỉ cho phép từng tác tử đi qua thì có thể dẫn tới va
chạm.
Phối hợp cho phép tránh tình trạng hỗn loạn.
Phối hợp cho phép đạt được những rang buộc tổng thể.
2.1.3 Một số đặc điểm của phối hợp trong hệ đa tác tử
Một số điều cần ghi nhớ là phối hợp và hợp tác không nhất thiết phải đi cùng nhau.
Nhiều tác từ hợp tác với nhau trong công việc chung không được phối hợp tốt có thể dẫn
tới hỗn loạn, thiếu thông nhất. Để có thể hợp tác hiệu quả, tác từ cần lưu trử mô hình về
tác từ khác cũng như hình dung về các trương tác trong tương lai. Trong khi đó, phối hợp
có thể thực hiện cho các tác từ không hợp với nhau.
2.1.4 Quan hệ giữa các hành động
Như đã nói ở phần 1.2, hành động của tác từ trong hệ thống có thể có những mối quan
hệ phụ thuộc với nhau. Khi xây dựng cơ chế phối hợp cần lưu ý đến những quan hệ này.
Quan hệ giữa hành động thực hiện bởi các từ khác nhau được chia thành hai loại chính:
tiêu cực và tích cực (xem hình 2.1)
HVTH: Nguyễn Dương Hào – CH1201028
15
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
2.2. CHIA SẺ CÔNG VIỆC
Một trong các chiến lược thường được sử dụng để phối hợp tác từ trong vấn đề phân
tán là chia sẻ công việc (tash sharing).Ý tưởng chia sẻ công việc rất đơn giản:khi tác từ
có nhiều việc phải thực hiện hoặc có những phần việc không có khả năng thực hiện, tác
từ có thể yâu cầu các tác từ khác với ít công việc hơn hay có khả năng hơn thực hiện một
phần việc của mình. Chia sẻ công việc bao gồm các bước sau (xem hình 2.2):
• Phân rả công việc: Công việc (hoặc bài toán) được chia thành các phần việc nhỏ
hơn (bài toán con) mà các tác từ khác có thể thực hiện. Nếu cần thực hiện phân
việc con sinh ra lại được phân rả tiếp để tạo thành những phân việc nhỏ hơn. Quá
trình này có thể tiếp tục cho tới khi từng phần việc đủ nhỏ để từng tác từ riêng lẻ
có thể thực hiện được.

2.3 CHIA SẺ KẾT QUẢ
Một chiến lược khác cho phép phối hợp các tác từ hợp tác là chia sẻ kết quả. Chia sẻ
kết quả là phương pháp giải quyết vấn đề phân tán trong đó tác từ trao đổi thông tin về
kết qủa thực hiện công việc của mình.
• Tăng độ tin cậy.
• Tăng độ trọng vẹn của lời giải.
• Tăng độ chính xác.
• Giảm thời gian thực hiên.
HVTH: Nguyễn Dương Hào – CH1201028
TT
TT
TT
TT
Phân rã công việc Phối hợp và thực hiện
Công việc
Tổng hợp kết quả
Hình 2.2 Mô hình chia sẽ công việc
17
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
Chương 3 ỨNG DỤNG HỆ THỐNG ĐÈN GIAO THÔNG THÔNG MINH
3.1 Giới thiệu hệ thống đèn giao thông thông minh
3.1.1 Ý tưởng hệ thống đèn giao thông thông minh
Kể từ khi JP Knight lắp đặt đèn giao thông đầu tiên trên thế giới ở London
năm 1868, đến nay ứng dụng này đã trở nên phổ biến rộng rãi trên tất cả các châu
lục đến nỗi đèn giao thông có thể được tìm thấy tại các nút giao đường bộ trên
toàn thế giới. Tuy nhiên, bài viết này không nói về lịch sử của đèn giao thông mà
nói về hiệu quả của việc gia tăng số lượng đèn giao thông tại Lagos, thủ đô thương
mại của Nigeria và là một thành phố nổi tiếng với các vấn đề giao thông. Mục tiêu
ở đây là để tìm hiểu xem việc lắp đặt như vậy có mạng lại lợi ích gì cho thành phố
không.

luồng giao thông đó trước khi tuyến đường trở nên bão hòa. Tính năng mới này
của hệ thống đèn giao thông thông minh giúp ngăn ngừa việc xuất hiện tắc nghẽn.
Những đèn giao thông ở gần nhau cũng có thể được chia sẻ thông tin về
luồng giao thông do vậy mà tạo hiệu quả cân bằng trong việc điều chỉnh lưu lượng
giao thông trên một khu vực rộng lớn hơn của mạng lưới đường bộ. Một ví dụ như
hệ thống kiểm soát giao thông thông minh dựa trên kỹ thuật Tối ưu hóa bù đắp
phân tách chu trình (SCOOT) được phát triển bởi TRL, và hiện nay được TRL và
Peek Systems và Siemens Traffic Solution đồng sở hữu. Ứng dụng SCOOT đã
được cải tiến dần và thêm tính năng như ưu tiên luồng xe buýt; đèn giao thông có
thời gian thích ứng phù hợp để đảm bảo rằng các tuến đường có xe buýt trong tầm
nhìn được ưu tiên. Ngoài ra còn có các ứng dụng phần mềm điều khiển giao thông
thông minh chuyên biệt khác chuyên ngành khác được phát triển để làm việc với
đèn giao thông truyền thống làm cho các đèn giao thông truyền thống trở nên
thông minh hơn.
HVTH: Nguyễn Dương Hào – CH1201028
19
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
Từ những điều nêu ở trên, rõ ràng là đèn giao thông đã biến đổi đáng kể từ ý tưởng
ban đầu với thời gian cố định được lắp đặt hầu hết tại các giao lộ ở Lagos. Sau khi
tối ưu luồng giao thông tại các giao lộ không thể đạt được với đèn điều khiển giao
thông thời gian cố định.
3.1.2 Mục đích của hệ thống đèn giao thông thông minh:
- Dựa trên hoàn cảnh thực tế của tình hình giao thông đô thị hiện nay : tình
hình kẹt xe diễn ra liên tục trên các tuyến đường với nhiều lý do nhưng lý
do thiết yếu nhất là sự thay đổi lượng xe đến của các tuyến đường mà
không có sự thay đổi tình trạng đèn cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại
nên xảy ra ùn tắt xe.
- Tình hình kẹt xe chỉ được giải quyết khi có sự can thiệp vào sự thay đổi đèn
của lực lượng chức năng.
Với 2 lý do trên ta thấy nếu hệ thống đèn có khả năng tự kiểm soát

3.2 Ứng dụng hệ thống đèn giao thông thông minh và những ứng dụng liên
quan
3.2.1.Phương pháp điều khiển động đèn tín hiệu giao thông ứng dụng lý
thuyết đại số gia tử-Th.s Hoàng Văn Thông, trường ĐH Giao Thông Vận
Tải (2010)
Trong đề tài này tác giả đã trình bày các phương pháp điều khiển đèn tín
hiệu giao thông và đè xuất một phương pháp cải tiến để đạt được hiệu quả cao hơn
đó là phương pháp đại số gia tử để định lượng các thông tin ngôn ngữ.
Trong đề tài này tác giả đã đề cập vấn đề ùn tắc giao thông tại các điểm nút
giao thông, giao cắt đồng mức trong các thành phố lớn của nước ta và trên thế giới
HVTH: Nguyễn Dương Hào – CH1201028
21
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
ngày càng nghiêm trọng. Để giải quyết vấn đề này các nhà khoa học và các nhà
quản lý đã nghiên cứu và áp dụng nhiều biện pháp điều khiển nhằm làm giảm
thiểu sự ùn tắc tại các nút giao thông. Hiện tại, tại các điểm nút giao cắt đồng cấp
được điều khiển bằng đèn tín hiệu hoặc cảnh sát giao thông. Điều khiển bởi cảnh
sát mang lại hiệu quả cao, bởi nó có tính mềm dẻo và linh hoạt, thời gian của các
pha được người cảnh sát xác định phụ thuộc vào mật độ phương tiện hiện có tại
nút. Tuy nhiên với phương pháp này tốn nhiều nhân lực và chi phí cao. Điều khiển
các nút giao thông bằng đèn tín hiệu cũng đã mang lại hiệu quả với những nút có
mật độ phương tiện tham gia vừa phải. Các phương pháp điều khiển bằng đèn tín
hiệu hiện tại còn nhiều nhược điểm. Phương pháp điều khiển đèn với chu kỳ cố
định rất cứng nhắc, có nhiều thời gian chết. Đèn xanh vẫn được bật ngay cả khi
trên pha đó không có phương tiện, trong khi pha khác có thể có nhiều phương tiện
thì vẫn phải chờ.
Một số nhà khoa học nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin vào việc
điều khiển, thực hiện điều khiển chu kỳ đèn động dựa vào mật độ phương tiện
hiện tại xung quanh nút. Giải pháp này đã đem lại hiệu quả cao hơn giải pháp điều
khiển đèn theo chu kỳ cố định. Tuy nhiên giải pháp này mới chỉ sử dụng các thông

đối cần lắp đặt hệ thống camera và ghép nối vi xử lý phân tích màu ảnh. Phần
mềm điều khiển và mô phỏng "TLCSim” đã được xây dựng để kiểm chứng thuật
toán điều khiển.
Tác giả dự tính phát triển nghiên cứu của mình theo hướng áp dụng trí tuệ nhân
tạo phân tán (công nghệ agent, multi-agent) và lý thuyết điều khiển hệ sự kiện
rời rạc (mạng petri, đại số max-plus) cho việc kết nối các nút giao thông độc lập.
HVTH: Nguyễn Dương Hào – CH1201028
23
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
3.2.3 Đèn giao thông thông minh-Stefan Lämmer, ĐH Công nghệ Dresden
(Đức) và Dirk Helbing, trường ETH Zurich (Thụy Sĩ)
Các nhà nghiên cứu Stefan Lämmer, ĐH Công nghệ Dresden (Đức) và Dirk
Helbing, trường ETH Zurich (Thụy Sĩ) khẳng định rằng đèn tín hiểu giao thông
thông minh sẽ làm giảm thời gian dừng, đỗ chờ đèn đỏ.
Nếu bạn đã từng phải nhích từng khoảng nhỏ khi dừng đèn đỏ, chắc chắn bạn sẽ
nghĩ rằng đèn giao thông quả là ngu ngốc khi không thể phân phối thời gian dừng
và di chuyển hợp lý cho từng hướng. Nhưng điều duy nhất bạn có thể làm chỉ là
than vãn!
Đèn tín hiệu giao thông là một thiết bị được lập trình dựa trên những đặc trưng về
thời gian và vị trí nút giao thông. Nhưng nó không thể nhận biết tình hình giao
thông thực sự xảy ra tại một nơi hoặc một địa điểm bất kỳ.
Dừng và chờ đèn đỏ không những gây khó chịu, mà còn gây lãng phí lượng nhiên
liệu rất lớn, tăng lượng khí thải CO2 ra môi trường.
HVTH: Nguyễn Dương Hào – CH1201028
24
Hình 3.1 Giao diện chương trình "TLCSim"
Phương pháp nghiên cứu khoa học trong tin học GS.TSKH Hoàng Văn Kiếm
Hình 3.2 Hệ thống đèn tín hiệu thông minh có thể giảm thời
gian chờ đèn đỏ tới 30%.
Các nhà nghiên cứu đưa ra một giải pháp có thể làm giảm thời gian lái xe chờ đèn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status