BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ KÍNH THẮNG PHẠM TRÙ NỘI ĐỘNG/ NGOẠI ĐỘNG
TRONG TIẾNG VIỆT
(SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 62.22.01.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Bùi Mạnh Hùng
2. PGS.TS. Hoàng Dũng
Tôi xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới PGS.TS Trịnh Sâm, người đã động viên, giúp đỡ tôi rất
nhiều trong quá trình học tập, quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ.
Có được luận án này t
ôi đã nhận được sự giúp đỡ quí báu cả về tri thức và tinh thần của GS.TSKH Lý
Toàn Thắng, GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, GS.TS Hoàng Trọng Phiến, PGS Hồ Lê, PGS. TS Đặng Ngọc
Lệ, PGS.TS Nguyễn Công Đức, TS Hoàng Cao Cương, PGS.TS Dư Ngọc Ngân, TS. Trần Hoàng, TS.
Nguyễn Thị Ly Kha, TS. Đỗ Thị Bích Lài, TS. Nguyễn Văn Bằng. Chính các thầy cô là những người
không tiếc công sức đọc và góp những ý kiến quí báu cho bản thảo luận án này.
Tôi cũng xi
n bày tỏ sự biết ơn chân thành tới Khoa Ngữ Văn, Phòng KHCN-Sau ĐH trường ĐHSP Tp
Hồ Chí Minh. Khoa và Phòng đã dành cho tôi những điều kiện tốt nhất trong quá trình học tập, nghiên cứu
từ khi tôi là học viên cao học đến nay.
Nhân đây tôi cũng xin gửi lời tri ân sâu sắc tới Trường CĐSP Đồng Nai, đơn vị tôi công tác. Ban
Giám hiệu, cán bộ các phòng ban và tập thể khoa Xã hội đã dành cho tôi những điều kiện t
huận lợi nhất
trong suốt 3 năm thực hiện luận án vừa qua.
Cũng sẽ không thể hoàn thành luận án nếu tôi không nhận được sự giúp đỡ của đại gia đình tôi, bạn bè
thân hữu – những người đã có sự giúp đỡ quí báu về cả tinh thần lẫn vật chất. Tôi xin gửi tới họ những lời
tri ân chân thành nhất.
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY 1. Để giản tiện trong trình bày, một số từ ngữ thường lặp lại trong luận án sẽ được chúng tôi viết tắt
như sau:
BN Bổ ngữ
NĐ Nội động
việc giới thiệu, khảo sát VT. Tuy nhiên, VT và những phạm trù liên quan cũng nằm trong số những vấn đề
còn gây nhiều bất đồng trong giới nghiên cứu trước đây
cũng như hiện nay. Những công trình khảo sát về
VT cho thấy từ loại này đã được tiếp cận từ rất nhiều hướng, rất nhiều khía cạnh khác nhau. Mỗi hướng
tiếp cận cho ta những phát hiện khác nhau. Ngay trong một hướng tiếp cận, những đặc điểm, những khía
cạnh liên quan đến V
T cũng được nhìn nhận rất khác nhau giữa các tác giả.
Trong giới Việt ngữ học, rất nhiều nhà nghiên cứu dựa trên các quan niệm, đường hướng tiếp cận
khác nhau đã bàn về ngữ pháp nói chung và VT nói riêng. Rất nhiều tác giả đã cố gắng xác định các tiêu
chí để nhận diện VT cũng như đề xuất các hướng miêu tả, phân loại VT. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có
tác giả nào đặt trọng tâm chú ý vào việc khảo sát phạm trù nội (NĐ)/ ngoại động (NgĐ) – một phạm trù
quan trọng, được coi là gắn bó mật thiết với VT. Nhìn chung các công trình nghiên cứu Việt ngữ chỉ điểm
qua về phạm trù NĐ/ NgĐ khi đề cập tới từ loại VT hoặc khi thảo luận về một số cấu trúc câu.
Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là phạm trù NĐ/ NgĐ trong tiếng Việt và những vấn đề cơ
bản c
ó liên quan. Cụ thể, luận án sẽ khảo sát một cách hệ thống các biểu hiện, các đối lập của phạm trù
NĐ/ NgĐ trong tiếng Việt; đồng thời đối chiếu với những vấn đề tương ứng trong tiếng Anh để tìm ra
những tương đồng, dị biệt cơ bản nhằm tìm thêm luận cứ cho việc biện giải phạm trù NĐ/ NgĐ trong tiếng
Việt.
0.2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
0.2.
1. Trên thế giới, phạm trù NĐ/ NgĐ đã được chú ý từ lâu. Phạm trù này thường gắn với việc
phân loại động từ trong các công trình ngữ pháp cổ điển. Các tác giả thuộc trường phái ngữ pháp Hy
Lạp cổ đại (như Aristotle, Thrax, Dyscolus, v.v.), trường phái La Mã cổ đại (như Donatus, Priscian,
v.v.), ngữ pháp Ấn Độ cổ (như Panini, v.v.) không chỉ đề cập tới vấn đề phâ
n loại, tới việc xác định vị
thế động từ trong hệ thống từ loại mà còn bàn cả về vấn đề phân chia động từ thành nội động từ và
ngoại động từ (x. [83, tr.18-76]). Phạm trù NĐ/ NgĐ được các nhà ngữ pháp trung cổ và các nhà ngữ
pháp hiện đại không ngừng tìm hiểu. J. Vendryès đã phải nói rằng: “Sự phân biệt ấy (NĐ/ NgĐ) được
đoạn danh từ bị chi phối trực tiếp bởi câu còn BN trực tiếp là ngữ đoạn danh từ bị chi phối trực tiếp bởi
ngữ động từ. Câu NgĐ là kiểu câu có một chủ ngữ và một BN trực tiếp (x. [1
99, tr.11]). NĐ/ NgĐ được
xem như là một phạm trù gắn chặt với câu. Ngữ pháp tạo sinh cũng cho rằng mô hình câu NgĐ như đề
cập trên là mô hình cơ bản (cấu trúc sâu), ở các mô hình cú pháp khác (cấu trúc bề mặt) vai trò của các
thành tố có thể thay đổi. Trong một số ngôn ngữ, nhất là các ngôn ngữ có trật tự không phải là SVO và
các ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ tác cách (ergative), quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc không
nhất th
iết tuân theo kiểu chi phối như các nhà ngữ pháp tạo sinh đề xuất ở trên.
Nhiều nhà ngôn ngữ học đã có đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu phạm trù NĐ/ NgĐ từ
góc độ loại hình khi đi tìm sự đánh dấu cách trên các ngữ đoạn chức năng (chủ ngữ [NĐ, NgĐ], BN
trực tiếp) cũng như tìm hiểu sự phù ứng của VT với các thành phần chức năng đó. C
ông trình tập thể
quy mô về “Chủ ngữ và Chủ đề” (‘Subject and Topic’) do Ch. Li chủ biên (1976) có một số bài viết đề 1
Một số tác giả còn thêm tiêu chí khả năng biến đổi sang dạng bị động. Một VT NgĐ bao giờ cũng có thể tham gia vào cấu trúc bị
động [200, tr.8-15].cập tới sự đánh dấu cách trên chủ ngữ, chủ đề cũng như sự phù ứng của động từ với các ngữ đoạn chức
năng trong các loại hình ngôn ngữ. Mặc dù không trực tiếp bàn về phạm trù NĐ/ NgĐ nhưng những
nhận xét về đặc tính, sự thể hiện các thành phần có liên quan đến động từ đã góp phần soi sáng, định
hướng ít nhiều cho việc tìm hiểu phạm trù
NĐ/ NgĐ nói riêng và VT nói chung. Sau đó, hàng loạt
công trình tương tự tiếp tục khảo sát một cách chi tiết những vấn đề liên quan đến phạm trù NĐ/ NgĐ.
Có thể nêu ra các bài viết của E. Moravcsik (1978) về sự đánh dấu cách trên ngữ đoạn làm BN trực
tiếp [181], về sự phù ứng của động từ [182], của T. Givón (1978) về tính [±xác định] của các thành
lượng các tham tố bắt buộc); (iii) lựa chọn các chu tố (kiểu và số lượng các tham tố tự do) [142,
tr.299]. Kết quả của việc lựa chọn trên là sự hình thành của một trong ba quá trình: quá trình vật
chất, quá trình tinh thần, quá trình quan hệ. Như vậy chuyển tác là kiểu mô hình cú pháp liên quan
chặt chẽ đến phương diện nghĩa (thể hiện thế giới kinh nghiệm bên ngoài). Cách hiểu chuyển tác như
trên có nhiều khác biệt so với cách hiểu thuật ngữ NgĐ (với tư cách là một phạm trù ngữ pháp của
VT) mà luận án đề cập tới vì thế thuật ngữ chuyển tác và nội hàm của nó chỉ được xem là một cơ sở
tham khảo thêm trong các phần sẽ trì
nh bày tiếp theo.
Y. Testelec (1998) khi bàn về các tiêu chí nhận diện phạm trù NĐ/ NgĐ, đã đưa ra nhận xét
chung về cách hiểu phạm trù này trong giới ngôn ngữ học đồng thời đề xuất một số tiêu chí nhận diện.
Theo tác giả, hiện có hai hướng phân loại ngữ pháp cơ bản: (i) dựa trên những đặc tính thuộc về hình
thức của từ, không dựa vào hoặc dựa rất ít vào ngữ nghĩa; (ii) dựa trên những đặc tính ngữ nghĩa kiểu
như động vật tính (ani
mateness). Tác giả cho rằng lối phân loại NĐ/ NgĐ giống với lối phân loại các
đơn vị từ vựng, là lối phân loại dựa vào tư cách cú pháp của chúng – một lối phân loại cho thấy có sự
giao thoa (overlap) ít nhiều giữa các ngôn ngữ. Cũng trong công trình này tác giả đã cho rằng theo
quan niệm truyền thống phổ biến nhất hiện nay thì “những động từ có diễn trị BN trực tiếp (direct
object vale
ncy) được gọi là những động từ NgĐ, những động từ không có diễn trị BN trực tiếp là động
từ NĐ”. Để tránh những vấn đề rắc rối về mặt lí thuyết cũng như trong miêu tả cụ thể liên quan đến
khái niệm BN trực tiếp, một số nhà loại hình học đã sử dụng các khái niệm phổ quát dựa trên cơ sở
ngữ nghĩa, theo đó “
một nhóm VT nhỏ, những VT hủy diệt và tạo tác (verbs of destruction and
creation), được coi là NgĐ ở dạng cơ bản có thể thấy trong tất cả các ngôn ngữ. Và, bất kì VT nào đòi
hỏi cấu trúc tương tự như các VT này đòi hỏi thì đều được gọi là NgĐ.” [210, tr. 29]. Đồng ý với quan
điểm cho rằng NĐ/ NgĐ có thể được xác định dựa trên cơ sở ngữ nghĩa (semantic base), tác giả đã đi
sâu bàn thảo về giá trị của hai tiêu chí có liên quan đến phạm trù
NĐ/ NgĐ, đó là tính “bị ảnh hưởng”
(affectedness) và tính “chủ ý” (control). Dựa trên các tiêu chí này, ông đã đưa ra một bảng phân loại
các VT gồm tám loại dựa trên hai tiêu chí trên [210, tr.37]. Lối phân loại dựa trên đặc điểm ngữ nghĩa
có túc từ hay không có túc từ cho thấy các tác giả có chú ý tới mối quan hệ cú pháp của động từ khi
phân loại.
Trà Ngân Lê Ngọc Vượng cũng phân chia động từ theo hướng Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm
Duy Khiêm đã đề xuất. The
o ông, động từ có thể thuộc về hai loại tự động từ và thi động từ. Hai thuật
ngữ này cũng được định nghĩa dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa – cú pháp. Tự động từ là “một động từ chỉ
một hành động mà không cần có bổ túc cũng trọn nghĩa” còn thi động từ là “động từ chỉ một hành
động do chủ động làm ra mà không chịu lấy, nên phải có một bổ túc trực tiếp hay gián tiếp mới trọn
nghĩa”. Có lẽ ảnh hưởng của lối phân loại phương Tây mà ông tiếp tục chia thi động từ thành hai thể
thụ động và tha động. Tuy nhiên ông cũng thấy sự phân biệt này chỉ là tương đối và ông cũng đã đề
cập tới một số trường hợp chuyển loại [62, tr.88-
90].
Bùi Đức Tịnh, tác giả của “Văn phạm Việt Nam”, lấy tiêu chí phân loại là “dựa vào phương diện
ý nghĩa”. Từ đó ông chia động từ ra làm bốn loại: động từ viên ý, động từ khuyết ý, động từ thụ trạng,
trợ động từ. Ngoại trừ hai loại sau tương đương với động từ tình thái, động từ nối theo cách hiểu hiện
nay, hai loại đầu lần lượt là NĐ và NgĐ. Tác giả cho rằng động từ viên ý là những động từ “chỉ dùng
một m
ình với chủ ngữ cũng có thể làm nên một câu trọn nghĩa” [100, tr.179] tuy không đi với túc từ
nhưng chúng có thể đi với những bổ túc ngữ chỉ hoàn cảnh; trong khi đó động từ khuyết ý “[…] tự nó
không đầy đủ. Nó cần được một danh từ hay một đại từ bổ túc” (tr.180). Danh từ hay đại từ này là
những BN t
huộc động (tức BN trực tiếp) hay BN can động (tức BN gián tiếp) (tr.181).
Các (nhóm) tác giả trên sử dụng những thuật ngữ khác nhau và đưa ra những tiêu chí có vẻ trái
ngược nhau (thể hiện ở cách gọi tên: hoặc nghiêng về mặt nghĩa, hoặc nghiêng về mặt hình thức) nhưng
thực ra đều có nét chung là đề cập tới cả hai tiêu chí khi phân loại. Sự dị biệt lớn tập trung ở việc Bùi
Đức Tịnh chia động từ thành bốn tiểu loại trong khi Trà Ngân và nhóm Trần Trọng Kim triệt để lưỡng
phân.
Học giả Phan Khôi lại chia động từ tiếng Việt ra làm 3 loại: NĐ, NgĐ và chuẩn động từ. Bàn về
phương diện ý nghĩa của NĐ, ông cho rằng: “sự tác động từ trong phát ra là đủ” [44, tr.197]; trong khi đó
chia thành trạng từ trọn nghĩa và trạng từ không trọn nghĩa [18, tr.220-221]. Ngoài tiêu chí nghĩa, các
tác giả cũng có dùng đến tiêu chí
kết hợp hay không kết hợp với khách thể (gồm khách thể chính – tức
BN trực tiếp và khách thể thứ – tức BN gián tiếp). Tuy nhiên ở tiêu chí này, các tác giả đã không chú ý
đầy đủ đến những dấu hiệu hình thức (chẳng hạn, các tác giả không bàn tới sự có mặt hay vắng mặt
của giới từ đứng trước BN) và điều này gây ra khó khăn trong việc nhận diện các loại trạng từ. Như
vậy, cái mới mẻ và cũng là đóng góp của các tác giả thể hiện ở chỗ họ thuộc vào số những người đầu
tiên đề cập tới tính NĐ và NgĐ của một đối tượng rộng (trạng từ) và đã đưa ra những nhận xét sâu sắc
về tính đa loại (hai cách dùng) của một số trạng từ (tr.221).
Bên cạnh những tác giả chú trọng sự đối lập NĐ – N
gĐ, nhiều tác giả khác lại chỉ coi NĐ, NgĐ
là hai trong số nhiều tiểu loại của VT (với nội hàm bị thu hẹp đáng kể), hoặc chỉ điểm
qua và xem
chúng như là kết quả của một cách chia ‘truyền thống’. Xu hướng này thể hiện phổ biến ở những công
trình ngữ pháp giai đoạn nửa cuối thế kỷ XX.
Triển khai sâu một hướng đã đề cập trước đó trong “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt” (1963),
hơn mười năm sau (năm 1977), Nguyễn Kim Thản công bố chuyên luận “Động từ trong tiếng Việt”.
Trong công trình công phu về động từ nà
y, tác giả chỉ dành 6 trang để bàn về phạm trù NĐ/ NgĐ trong
phần lịch sử nghiên cứu. Mặc dù không phủ nhận tính ‘có lí do’ và sự ‘có lợi’ nhất định của lối phân
loại này nhưng tác giả đã thấy quá nhiều khó khăn, phức tạp. Ông viết: “[…] trong nội bộ của hai loại
ấy (NĐ và NgĐ) không phải là hoàn toàn đồng nhất về đặc điểm cú pháp, hơn nữa cách phân loại n
ày
gặp nhiều khó khăn, ranh giới giữa hai loại này không phải là hoàn toàn dứt khoát” [82, tr.94]. Trong
khi cố tránh những khó khăn này, ở phần phân loại động từ dựa vào “tính chất chi phối của động từ”
(có liên quan đến phạm trù đang xét), tác giả đã phạm phải một số sai lầm. Lấy tiêu chí tính chất chi
phối của động từ, tác giả đã chia động từ ra ba nhóm lớn gồm 12 tiểu loại (ba nhóm là: ngoại hướng,
trung tính, nội hướng). Ở đây thật rất khó để xác định NĐ và N
gĐ thuộc loại nào trong một bảng phân
nghĩa của động từ (để tập trung tìm hiểu, phân loại các động từ tiếng Việt từ phương diện ngữ nghĩa)
(tr.14-19).
Bên cạnh những công trình tiếp cận trực tiếp phạm t
rù NĐ/ NgĐ như vừa trình bày, hàng loạt
các chuyên luận và giáo trình ngữ pháp đại học cũng có đề cập tới vấn đề trên. Tuy nhiên các tác giả
thường không xem nó là trọng tâm nghiên cứu của mình.
Hoàng Trọng Phiến trong “Ngữ pháp tiếng Việt – Câu” (1980) viết: “Việc chia động từ thành NĐ
và NgĐ là căn cứ vào ngữ nghĩa thuần túy, do vậy không bao quát được cái sâu bên trong của từ loại”
[69, tr.137-138] và “đối với tiếng Việt việc chia thành nội động từ và ngoại động từ triệt để như tiếng
Nga ha
y một vài ngôn ngữ Ấn-Âu khác là không thích hợp” (tr.139). Ông cũng thấy được khó khăn
trong việc áp dụng tiêu chí hình thức để xác định BN trực tiếp: “Sự có mặt hay vắng mặt hư từ còn do
sự điều hòa âm hưởng, do âm luật cân đối cấu trúc quy định” (tr.139).
Trong công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt do UBKHXH (1983) thực hiện, các tác giả tuy
không hiển ngôn bà
n về NĐ/ NgĐ, nhưng đã đề cập khá chi tiết tới các phụ tố ‘khu vực sau’ động từ
[104, tr.121-146], các phụ tố ‘khu vực sau’ tính từ (tr.149-151). Đề cập tới thành phần này, các tác giả
nhấn mạnh đến sự đối lập giữa những phụ tố do chính tố yêu cầu riêng và phụ tố không do chính tố yêu
cầu riêng. Sự đối lập này chính là sự đối lập giữa diễn tố với chu tố; trong đó những phụ tố do chính tố
có yêu cầu riêng quan hệ mật thiết tới các thành phần BN trực tiếp, BN bắt buộc mà chúng tôi sẽ đề
cập nhiều c
hỗ trong các phần tiếp theo của luận án.
Cũng đứng trên quan điểm không chú trọng đối lập NĐ với NgĐ, Đinh Văn Đức cho rằng: “Đặt
vấn đề đối lập NĐ – NgĐ dưới ảnh hưởng đồng thời của nhiều nhân tố chỉ làm
cho vấn đề thêm phức
tạp hơn và khó có được một giải pháp nhất quán.” [25, tr.118]. Tác giả cũng lưu ý đến số lượng đáng
kể các động từ “lưỡng tính” (từ dùng của tác giả – chỉ những động từ vừa là NĐ vừa là NgĐ) tồn tại
trong tiếng Việt. Giải pháp của tác giả đối với vấn đề là: “[…] nếu thấy cần thiết trong khi miêu tả thì
cũng có thể nghĩ tới sự phân chia thành NĐ – N
gĐ nhưng ngay cả trong trường hợp đó cũng chỉ nên
dành dung lượng khá lớn của công trình bàn về những vấn đề có liên quan thiết yếu tới phạm trù NĐ/
NgĐ – vấn đề thành phần khởi ngữ/ đề ngữ, vấn đề BN trực tiếp. Do đứng trên quan điểm xem BN trực
tiếp (cùng với chủ ngữ và vị ngữ) là thành phần chính của câu, các tác giả đã khảo sát khá chi tiết thành
phần này. Những kết quả khảo sát, phân tích của các tác giả có giá trị nhất định cho việc k
hảo sát phạm
trù NĐ/ NgĐ trong tiếng Việt.
Một khuynh hướng đề cập khá nhiều tới phạm trù NĐ/ NgĐ là ngữ pháp chức năng. Với quan niệm
VT là hạt nhân trung tâm thông báo, là hạt nhân của khung vị ngữ, các tác giả đã chú ý nghiên cứu VT
trong quan hệ với các thành tố chức năng khác trong câu. Các tác giả sớm vận dụng lí thuyết về vai cách
trong nghiên cứu tiếng Việt là Nguyễn Đăng Liêm (1969, 1973, 1975), Donna Hà (1970), Trần Trọng
Hải (1971, 1972), Nguyễn Đình Hòa (1972, 1973), M. Clark (1976) (x. [128]). Trong chuyên luận “Các
phụ vị từ và Cách trong tiếng Việt” (Coverbs and Case in Vietnam
ese), M. Clark đã dành một phần đáng
kể để giới thiệu về lí thuyết khung cách, các quan hệ cách (tập trung ở các loại coverb – phụ VT). Rất
nhiều lần tác giả đã liên hệ, gắn chúng với phạm trù NĐ/ NgĐ. Điều này chứng tỏ vấn đề mà chúng tôi
sẽ đề cập trong luận án là các quan hệ nghĩa (và số lượng các vai nghĩa) trong câu đóng một vai trò quan
trọng trong việc xác lập
các đối lập giữa NĐ với NgĐ.
Một tác giả khác cũng cố gắng đi theo hướng này. Nguyễn Văn Lộc trong chuyên luận “Kết trị của
động từ tiếng Việt” (1995) đã giới thiệu, vận dụng những quan niệm về tham tố của L. Tesnière và một
số nhà ngôn ngữ học Nga để miêu tả về các loại diễn trị (ông dùng: kết trị) của động từ tiếng Việt. Sau
khi phân biệt các loại kết trị: kết trị hình thức và kết trị nội dung; kết trị bắt buộc và kết trị tự do, tác giả
giới th
iệu các loại kết trị bắt buộc của động từ và tập trung miêu tả kết tố chủ thể và kết tố đối thể. Trong
phần miêu tả về kết tố chủ thể, ông cũng đề cập tới kết tố chủ thể hoạt động nội hướng. Ông cho rằng:
“về nội dung, kết tố chủ thể hoạt động nội hướng chỉ kẻ thực hiện hành động hoặc kẻ mang trạng thái
không hướng tới đối thể. Sự vắng mặt của kết tố đối thể bên các động từ nội hướng là do ý nghĩa nội
hướng của chúng qui định” [55, tr.69]
và việc tìm hiểu phạm trù NĐ/ NgĐ nói riêng.
Trong một công trình nghiên cứu gần đây, đứng trên quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống, tác
giả Diệp Quang Ban (2004) đã tập trung xem xét những vấn đề liên quan đến câu tiếng Việt. Trong công
trình này, tác giả cũng bàn khá chi tiết về cấu trúc nghĩa biểu hiện [5, tr.32-33]
, các kiểu sự thể, các tham
thể (tr.33-35), tân ngữ và tân ngữ gián tiếp (tr.71-72), và cấu trúc câu bị động (tr.203-229) – những vấn
đề liên quan trực tiếp đến phạm trù NĐ/ NgĐ. Trong phần giới thiệu quan niệm của M. Halliday về vấn
đề chuyển tác (mục 0.2.1), chúng tôi đã nêu rõ vấn đề này được tác giả xem xét ở bình diện cú. Ở công
trình “Ngữ pháp tiếng Việt – phần câu” này, tác giả Diệp Quang Ban nói rõ hơn khái niệm chuyển tác áp
dụng cho cả động từ: “[…] cấu trúc chuyển tác được hiểu là mối qu
an hệ giữa động từ với những yếu tố
định danh bất kì lệ thuộc vào động từ đó và cùng xuất hiện với động từ đó […]; nếu động từ không đòi
hỏi yếu tố định danh lệ thuộc thì gọi là động từ không chuyển tác, hay NĐ” (tr.32).
Có thể nói, tất cả cách hiểu của các khuynh hướng, các tác giả trên, dù có những khác biệt nhất
định, đều cho thấy phạm trù NĐ/ NgĐ gắn chặt với động từ (và VT nói chung) vì thế việc nghiên cứu
NĐ/ NgĐ sẽ giúp hiểu sâu hơn bản c
hất, hoạt động của từ loại cơ bản bậc nhất trong mọi ngôn ngữ này.
0.3. NHIỆM VỤ LUẬN ÁN
Trên tinh thần kế thừa thành tựu nghiên cứu tiếng Việt cũng như cố gắng á
p dụng lí thuyết ngôn
ngữ học hiện đại, luận án này nhằm:
(i) Tìm những dấu hiệu hình thức cũng như cơ sở ngữ nghĩa để xác định, đối lập NĐ/ NgĐ;
(ii) Xác định rõ ranh giới NĐ, NgĐ với tư cách là phạm trù cú pháp với những phạm trù khác có
liên quan;
(iii) Xác định phạm vi ứng dụng của phạm trù NĐ/ NgĐ (cho VT nói chung hay chỉ cho một số
tiểu loại nào đó);
(iv) Phân loại và khảo sát các tiểu nhóm
trong từng loại VT NĐ, VT NgĐ và khảo sát các hiện
tượng trung gian;
(vi) Đối chiếu phạm trù NĐ/ NgĐ và những vấn đề có liên quan của tiếng Việt với tiếng Anh để
cách cú pháp của chúng, luận án thường đặt từ trong mối quan hệ với các ngữ đoạn chức năng (các
ngữ danh từ, ngữ VT, ngữ giới từ đảm nhiệm các chức năng cú pháp như chủ ngữ, BN, trạng ngữ),
trong câu. Ngữ đoạn được hiểu là một đơn vị ngôn ngữ thực hiện một chức năng cú pháp nào đó
trong câu; xét về cấu tạo nó có thể là một từ hoặc một nhóm từ có qu
an hệ chính phụ với nhau. Câu
được hiểu như là đơn vị lời nói nhỏ nhất có chức năng thông báo. Về từ, quan niệm của chúng tôi
như sau. Xét từ phương diện cấu tạo, từ có thể là từ đơn, như: ăn, ngủ, chạy, nhảy, cười, nói, nghe,
đánh, giúp,...; chúng cũng có thể là từ ghép, như: bất biến, ngưỡng mộ, nhẫn tâm, chập chờn, động 3
Việc xác định một từ cụ thể là thuần Việt hay Hán Việt là việc làm không hề đơn giản (khi mà từ Hán Việt chiếm đến 70% vốn từ
và chúng được du nhập từ rất sớm, qua nhiều giai đoạn với nhiều hình thức khác nhau). Tuy nhiên, đúng như học giả Lê Văn Lý từ rất
lâu [56, tr.123] đã nhận xét, việc khảo sát trên các từ thuần Việt là đủ để xác định tư cách cú pháp của từ tiếng
Việt nói chung vì
những từ Hán Việt (và những từ ngoại lai khác) khi tham gia vào vốn từ tiếng Việt thì cũng hoạt động như những từ thuần Việt chứ
không ảnh hưởng, xáo trộn đáng kể gì đến kết cấu tiếng Việt.
đậy, kín mít, kiêng cữ, động lòng, thù ghét, miễn giảm, náo nhiệt,... Những từ ghép như trên, thuộc
vào một trong những kiểu kết hợp: (i) cả hai thành tố vốn là những từ Hán Việt không có khả năng
hoạt động độc lập; (ii) một hoặc tất cả các thành tố không có nghĩa xác định; (iii) mối quan hệ giữa
các thành tố có tính chất cố định, thành ngữ (các quan niệm về từ trong giới Việt ngữ học, x. [
6,
tr.38-42]; [27, tr. 69-72]; [33, tr. 212-224]; [51, tr.7-19]).
Một số từ vay mượn quá mới, hoặc chỉ được sử dụng trong phạm vi giới hạn sẽ không được đưa
vào phạm vi khảo sát như: chát (chat), i-meo (e-mail), phắc (fax), phôn (phone), pê-na-ty (penalty),
v.v.
Một nội dung quan trọng của luận án là so sánh phạm trù NĐ/ NgĐ tiếng Việt với tiếng Anh, do
đó, đơn vị cơ bản (từ) cũng cần được xác định rõ ràng. Trong tiếng A
Phần Dẫn nhập (20 trang) trình bày đối tượng nghiên cứu, lí do chọn đề tài (mục 0.1), lịch sử vấn
đề (mục 0.2), nhiệm vụ của luận án (mục 0.3), phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu (mục 0.4),
những đóng góp của luận án (mục 0.5), và bố cục luận án (mục 0.6).
Chương 1 (49 trang) nêu những vấn đề lí luận chung làm
nền tảng cho việc tìm hiểu phạm trù
NĐ/ NgĐ. Cụ thể, chương này đề cập tới khái niệm VT và việc phân loại VT (mục 1.1); tham tố và
phân loại tham tố (mục 1.2); BN với trạng ngữ (mục 1.3); loại hình học và phạm trù NĐ/ NgĐ (mục
1.4); tiêu chí xác định phạm trù NĐ/ NgĐ trong tiếng Việt (mục 1.5); mối quan hệ giữa ngữ pháp và
ngữ nghĩa (mục 1.6) và cuối cùng là phần tiểu kết của chương (1.7).
Chương 2 là phần trọng tâm của luận án do đó nó cũng chiếm
dung lượng lớn nhất: 74 trang. Bên
cạnh nội dung chính là khảo sát những đối lập giữa VT NĐ và VT NgĐ trong tiếng Việt (mục 2.1),
chúng tôi đưa thêm hai mục: Chuyển đổi diễn trị và hiện tượng VT có hai cách dùng (mục 2.2) để làm
rõ tính phức tạp, giao thoa giữa hai vế đối lập trong phạm trù này và mục Phạm trù NĐ/ NgĐ trong hệ
thống c
ác vấn đề ngữ pháp tiếng Việt (mục 2.3) bàn về mối quan hệ giữa phạm trù này với những vấn
đề có liên quan.
Chương 3 (36 trang) tập trung vào việc đối chiếu phạm trù NĐ/ NgĐ của tiếng Việt với tiếng Anh
và những vấn đề có liên quan với mục đích làm nổi bật những tương đồng cũng như những khác biệt
giữa hai ngôn ngữ, qua đó tìm thêm luận cứ cho việc biện giải phạm trù
NĐ/ NgĐ trong tiếng Việt.
Phần Kết luận (4 trang) tổng kết nội dung cơ bản của luận án, nêu những khó khăn trong quá
trình thực hiện luận án cũng như những vấn đề luận án đề cập chưa đầy đủ hoặc cần tiếp tục nghiên
cứu trong tương lai.
Tài liệu tham khảo bao gồm 107 tài liệu tiếng Việt và 109 tài liệu tiếng Anh.
Danh mục công trình khoa học của tác giả có liên quan đến đề tài (10 bài viết).
Phần chỉ mục, trình bà
y những thuật ngữ cơ bản được sử dụng trong luận án.
Phần Phụ lục gồm ba phụ lục: (i) Danh sách những VT NgĐ được dùng với tư cách VT NĐ; (ii)
Danh sách những VT NĐ được dùng với tư cách VT NgĐ; (iii) Danh sách các VT [±giới từ].
Tư biện (Speculative) ở châu Âu khoảng nửa sau thế kỉ XIII đã phân loại các từ loại cơ bản dựa trên
mức độ ổn định về thời gian (time-stability scale), nghĩa là dựa vào đặc tính của đối tượng (động hay
tĩnh, biến đổi nha
nh hay chậm, v.v) mà các từ loại phản ánh. Th. Erfurt cho rằng VT dùng để thể hiện
các trạng thái mau lẹ, những đối tượng thiếu ổn định, và gián đoạn (x. [203, tr.16]).
Gần đây một số nhà ngôn ngữ học cũng đã dựa vào lối định nghĩa trên để xác định từ loại. Chẳng
hạn, T. Givón đã cho rằng sự phân biệt các từ loại chỉ có tính chất tương đối, các từ loại đư
ợc đặt trên 4
Kể từ đây chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ vị từ (VT) để chỉ động từ và tính từ theo cách gọi của một số tác giả. Chúng tôi cũng dùng
nó để dịch thuật ngữ “verb” theo cách hiểu của giới ngôn ngữ học phương Tây.
một thang độ (gradience) – nghĩa là đứng ở một chỗ nào đó giữa hai thái cực – trong đó, VT nằm về
thái cực ‘động, nhất thời, biến đổi nhanh chóng’ còn danh từ nằm về thái cực ‘ổn định’, ‘bền vững’.
Hai từ loại này (danh từ và VT) cũng được ông xem là có tính phổ quát (có trong tất cả các ngôn ngữ),
các từ loại còn lại tùy thuộc vào từng ngôn ngữ [152, tr.51-52]. Cách định nghĩa và phân loại này dù
sao cũng vẫn không bao chứa được hết các từ loại (nó chỉ dùng để xác định các từ loại ‘từ vựng’
như
danh từ, VT, trạng từ), hơn nữa lối phân loại này buộc phải chấp nhận sự tồn tại những vùng giao thoa
lớn giữa các từ loại (hiện tượng trung gian).
Lối phân loại gắn với ngữ nghĩa như trên được xem là lối phân loại gắn với những yếu tố ngoài
ngôn ngữ (language external). Nó khác với lối phân loại chú ý đến các tiêu chí thuộc về cấu trúc
(structural) hay đặc điểm nội tại (internal) của ngôn ngữ như sẽ trình bày dưới đây.
Một số nhà ngôn ngữ học khi định nghĩa VT thường chỉ nêu ra tiêu chí hình thái hoặc xem đó là
tiêu chí quan trọng. Với cách hiểu này, các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã thấy trong ngôn ngữ biến
hình của họ có những cơ sở ‘khách quan’, ‘khoa học’ cho sự phân biệt các từ loại. Sự khác
biệt đó ở cả
hình thức biến đổi phù hợp với các phạm trù ngữ pháp do quan hệ ngữ pháp trong câu quy định và cả ở
nhận thấy rất nhiều điểm tương đồng (9 đặc điểm) giữa ‘động từ’ và ‘tính từ’ vì thế ông đã xếp chung
hai ‘từ loại’ này vào một nhóm (nhóm B) (tr.142-149). Cũng với cách làm như trên, P. Honey [162,
tr.13-22] đã chia từ tiếng Việt thành 12 loại, trong đó mỗi từ loại cũng được xác định dựa trên khả
năng kết hợp với các từ chứng. Chẳng hạn, để xác định từ loại 2 (tương đư
ơng với VT), tác giả đã lập
thức như sau: “Tất cả những từ tiếng Việt đứng ngay trước chứ không phải đứng sau một trong hai từ
nhiều hoặc lắm và không bao giờ đứng ngay sau một trong hai từ hơi hoặc rất thì được xếp và
o nhóm
các từ loại 2” (tr.14-15). Với các từ loại còn lại tác giả cũng sử dụng phương pháp tương tự.
Chưa nói đến khó khăn trong việc tìm một số khuôn mẫu, từ chứng tiêu biểu để tránh sự tròng
tréo, để hạn chế ngoại lệ, những mô hình này chỉ có tác dụng miêu tả từ loại cho từng ngôn ngữ cụ thể
vì mỗi ngôn ngữ đều có những quy định về trật tự sắp xếp, kết hợp từ ngữ cũng như danh sách các từ
chứng.
Theo một g
iải pháp khác, từ loại được xác định dựa vào chức năng cú pháp cơ bản của chúng.
Cách định nghĩa này vừa phân biệt được động từ (verb) và tính từ (adjective) trong đa số ngôn ngữ Ấn-
Âu
5
lại vừa cho thấy nét chung rất cơ bản không thể bỏ qua giữa động từ và tính từ trong những ngôn
ngữ như tiếng Việt. Một số nhà Hán học như A. Dragunov, A. Reformatskij đã phân loại tiếng Hán –
một ngôn ngữ có nhiều nét tương đồng với tiếng Việt – dựa trên chức năng cú pháp, từ đó đã xếp chung
tính từ và động từ vào một nhóm gọi là VT. Cũng dựa trên chức năng cú pháp, L. Thompson đã thấy
‘verbs’ trong tiếng Việt phải bao gồm cả một số lớn “các hình thức hầu như là th
ích hợp gán cho các tính
từ tiếng Anh theo sau hình thức nào đó của động từ to be” [211, tr.217]. Tác giả Cao Xuân Hạo khi định
nghĩa VT cũng chú trọng tiêu chí cú pháp khi cho rằng VT là một từ “có thể tự mình làm thành một vị
ngữ (hay một ngữ đoạn biểu thị nội dung của cái sự tình được trần thuật trong câu) hoặc làm trung tâm
cho ngữ đoạn ấy” [33, tr.355]
. Có thể nói, chức năng cú pháp đã được nhiều nhà ngôn ngữ học coi là
tiêu chí duy nhất hoặc cơ bản để định nghĩa VT trong những ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt.
số nhưng không thể mang phạm trù thì, trong khi đó like có thể m
ang cả hai phạm trù. Như vậy, boys
và like cần phải xếp vào hai phạm trù khác nhau (tr.4).
Một giải pháp trung dung hơn là sử dụng nhiều tiêu chí bao gồm cả những tiêu chí thuộc về ngữ
nghĩa/ chức năng và cả những tiêu chí thuộc về cấu trúc nội tại của ngôn ngữ để phân chia từ loại
([120, tr.23-24]; [145, tr.129]; [149, tr.177]; [159, tr.8]; [191, tr.396]; [192, tr
.112-113]). Chẳng hạn,
E. Gorden và I. Krylova sau khi nêu ra ba tiêu chí chung cho việc phân chia từ loại trong các ngôn ngữ
[159, tr.6], đã định nghĩa VT dựa trên ba tiêu chí: (i) nội dung (nghĩa từ vựng): dùng để chỉ các hành
động, quá trình, quan hệ, v.v.; (ii) hình thức: thể hiện các phạm trù ngữ pháp như thì, thể, dạng, v.v.;
(iii) chức năng: làm vị ngữ của câu (tr.8).
Trong giới Việt ngữ học một số tác giả cũng sử dụng nhiều tiêu chí để xác định từ loại, chẳng
hạn, Lê Cận – P
han Thiều [14, tr.105] căn cứ vào chức năng cú pháp, ý nghĩa phạm trù và khả năng kết
hợp, Đinh Văn Đức [25, tr.16-29] sử dụng ý nghĩa phạm trù, chức năng cú pháp và cả ý nghĩa từ vựng
– ngữ pháp, Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung [4, tr.74-77] dựa vào các tiêu chí như ý nghĩa khái
quát, khả năng kết hợp, chức năng cú pháp, v.v.
Chúng tôi cho rằng để có một định nghĩa về từ loại nói chung và VT nói riêng có thể áp dụng
cho nhiều ngôn ngữ cần phải kết hợp nhiều
tiêu chí. Việc sử dụng một tiêu chí duy nhất sẽ không
phản ánh được đầy đủ bản chất cũng như hoạt động phức tạp của VT trong các ngôn ngữ thuộc
những loại hình ngôn ngữ khác nhau. Về cơ bản, chúng tôi tán thành cách phân định từ loại của
Nguyễn Tài Cẩn, theo đó VT là một từ loại có thể làm trung tâm của đoản ngữ, có khả năng kết hợp
với một số thành tố phụ [12, tr.311-334]; tuy nhiên, chúng tôi không phân biệt ‘động từ’ với ‘tính từ’
mà cơ sở là sự tương đồng rất lớn giữa chúng ở chính hai tiêu chí m
à tác giả đã nêu.
1.1.2. Phân loại VT
VT có thể được phân loại dựa vào nghĩa biểu hiện, vào số lượng diễn tố mà nó chi phối, sự kết
hợp cả tiêu chí ý nghĩa và chức năng hay sự có mặt hoặc vắng mặt của BN trực tiếp.
1.1.2.1. Phân loại VT theo nghĩa biểu hiện
NĐ là phạm trù thuộc về bình diện nghĩa.
Xét từ góc độ từ nguyên, ‘transitve’ (NgĐ) bắt nguồn từ tiếng La Tinh: ‘transire’ nghĩa là ‘chuyển ngang qua’ (to go across)
[192, tr.117] – một thuật ngữ gợi nhiều liên
tưởng về phương diện nghĩa.
181-183].
Bằng việc mô tả câu ở bình diện nghĩa thể hiện, M. Halliday phân loại quá trình (quá trình
được thể hiện là VT ở bình diện hình thức cú pháp) thành 3 kiểu cơ bản (quá trình vật chất, quá trình
tinh thần, quá trình quan hệ) và 3 kiểu trung gian (quá trình hành vi, quá trình phát ngôn, quá trình
hiện hữu) [29, tr.205-207].
T. Givón (1984) không chỉ vận dụng tiêu chí mức độ ổn định về mặt thời gian (degree of time
stability) để định nghĩa các từ loại (x. mục 1.1.1), mà còn dùng tiêu chí này để phân chia các tiểu loại
trong nội bộ từ loại VT. Căn cứ và
o tiêu chí này, VT có thể chia thành ba loại: (i) VT cấp thời
(instantaneous verbs) – dùng để diễn tả những thay đổi rất nhanh (kiểu: hit ‘đánh’, shoot ‘bắn’, kick
‘đá’); (ii) VT hành động/ quá trình (activity/ process verbs) – dùng để diễn tả những thay đổi chậm
hơn (kiểu: sing ‘hát’, work ‘làm việc’, eat ‘ăn’ hoặc read ‘đọc’); và (iii) VT trạng thái (stative verbs)
– dùng để diễn tả những hiện tượng thay đổi rất chậm hoặc không thay đổi (kiểu: know ‘b
iết’,
understand ‘hiểu’, hoặc like ‘thích’) [152, tr.52]. Khái quát và rút gọn hơn, một số tác giả chỉ lưỡng
phân VT thành VT động (active verbs) và VT trạng thái (stative verbs) ([166, tr.62]; [189, tr.22];
[193, tr.11]). Mặc dù lối phân loại này dựa trên tiêu chí nghĩa nhưng nó ít nhiều có tính chất ngữ
pháp bởi tiêu chí nhận diện các VT động là khả năng tham gia vào cấu trúc tiếp diễn còn VT trạng
thái thì không có khả năng này.
Cũng dựa vào nghĩa biểu hiện, VT có thể chia t
hành hai loại: VT biểu thị nội dung sự tình và VT
tình thái.
(1) VT biểu thị nội dung sự tình
Đây là những VT biểu thị những đặc tính, những biểu hiện và những mối liên hệ của các thực
thể ở thế giới bên ngoài. Nhóm VT này có thể tiếp tục được phân loại chi tiết hơn dựa vào một số
tiêu chí ngữ nghĩa cụ thể. S. Dik đã kết hợp hai tiêu chí Động (dynamism) và Chủ ý (control) để xá
‘Anh ta muốn đi’
Xuất hiện trong chuỗi VT, VT tình thái bao giờ cũng đứng ở vị trí đầu tiên và giữ vai trò trung
tâm về ngữ pháp. Theo T. Givón, VT tình thái và VT đứng sau nó bao giờ cũng phải cùng một chủ ngữ
(equi-subject). Sở dĩ chủ ngữ của VT đứng sau VT tình thái không xuất hiện, theo quan niệm của ngữ
pháp tạo sinh, là do nó bị lược bỏ. Chẳng hạn, (a) là một hình thức lược của “Nam muốn rằng Nam/
cậu ta đến trường”; (c) là hình thức lược của “He managed that he would escape” (Anh ta đã xoay sở/
tìm cách để anh ta trốn thoát). Việc đưa ra tiêu chí cùng một chủ ngữ sẽ phân biệt được VT tình thái
với VT thuộc một số nhóm
, chẳng hạn VT phát ngôn-tri nhận (cognition-utterance). Dù sao, trong một
số trường hợp, chẳng hạn như trong câu (a) và (d) vừa đề cập, VT có nghĩa tình thái trong hình thức
tỉnh lược có thể coi là mơ hồ hoặc giao thoa (overlap) với nhóm VT phát ngôn-tri nhận ((a) có thể
được hiểu là: Nam muốn cô ta (hoặc ai đó) đến trường; tương tự (d) có thể đư
ợc hiểu là: He wanted
that she would leave) [153, tr.533-534].
Trong những ngôn ngữ thiên chủ đề như tiếng Việt, nơi mà sự qui định đặc tính vai nghĩa không
chặt chẽ như trong các ngôn ngữ thiên chủ ngữ (như tiếng Anh), có thể xuất hiện nhiều trường hợp VT
tình thái không nhất thiết phải cùng với VT ngôn liệu bị chi phối bởi Đề
7
mà có thể gắn với người nói
(kiểu: Căn nhà này có lẽ sẽ bị sập).
Dựa vào tính chất hàm
ý (implicativity) – tích cực (positive) hay tiêu cực (negative) cũng như
dựa vào một số tiêu chí khác, VT tình thái có thể được chia thành nhiều tiểu loại ([32, tr.50-54]; [99];
[152, tr.117-119], [153, tr.532-537]).
Nhìn chung, lối phân loại VT dựa vào nghĩa biểu hiện có thể áp dụng cho mọi ngôn ngữ.
1.1.2.2. Phân loại VT theo số lượng diễn tố