Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (full) - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
HOÀNG THỊ THẮM
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY
NGÀNH KHOÁNG SẢN NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Đà Nẵng – Năm 2015 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG




Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
HOÀNG THỊ THẮM

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Câu hỏi nghiên cứu 3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
7. Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 6
1.1. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP 6
1.1.1. Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp 6
1.1.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp 7
1.2. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG DOANH NGHIỆP 9
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới 10
1.2.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam 13
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG .15
1.3.1. Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp 16

3.2. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH
KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 43
3.2.1. Thực trạng chung về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp 43

3.2.2. Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và một số nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động 46
3.3. KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG TỪ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 54
3.3.1. Kết quả nghiên cứu 54
3.3.2. Phân tích kết quả nghiên cứu của mô hình lựa chọn 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 70
CHƯƠNG 4. CÁC KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH RÚT
RA TỪ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 71
4.1. KẾT LUẬN 71
4.2. HÀM Ý CHÍNH SÁCH VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG 73
4.2.1. Đối với các doanh nghiệp ngành khoáng sản 73
4.2.2. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 78
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG


quả hoạt động của doanh nghiệp ngành khoáng sản
53
3.9 Mã hóa biến quan sát 54
3.10 Bảng chuyển đổi các biến 55
3.11 Ma trận hệ số tương quan 56

Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang

3.12 Hồi quy theo mô hình ảnh hưởng cố định 58
3.13 Hồi quy theo mô hình với ảnh hưởng ngẫu nhiên 60
3.14 Kết quả kiểm định Hausman 62
3.15 Kết quả hồi quy

63 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ Trang

3.1 Giá trị xuất nhập khẩu ngành khoáng sản qua các năm 42
3.2 Tỷ suất sinh lời tài sản bình quân của các doanh nghiệp
ngành khoáng sản giai đoạn 2009 – 2013

nước. Trong những năm qua, ngành công nghiệp khoáng sản đã đóng vai trò
quan trọng trong phát triển công nghiệp Việt Nam, chiếm từ 10% -12% GDP,
đáp ứng đủ và kịp thời nguyên liệu như than đá, thiếc, chì, kẽm sắt, đồng,
appatit cho một số ngành kinh tế sử dụng nguyên liệu khoáng sản là nhiệt
2
điện, ximăng, hóa chất, luyện kim Với những thành tích đã đạt được, ngành
khoáng sản xứng đáng là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước trong tương lai. Cụ
thể, theo chiến lược của nhà nước ta thì giai đoạn từ 2010- 2020 ngành khai
khoáng được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước được chú trọng
phát triển chuyên sâu nhằm phục vụ cho ngành công nghiệp nặng của quốc
gia. Tuy nhiên, ngành khoáng sản Việt Nam hiện nay vẫn chưa theo kịp tiến
trình phát triển chung của thế giới, chưa thực sự tương xứng với tiềm năng mà
ngành hiện có. Chính vì vậy mà vấn đề hiệu quả hoạt động của các doanh
nghiệp trong ngành khoáng sản thu hút được nhiều sự quan tâm. Song các
nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành khoáng sản từ
trước tới nay chỉ dừng lại ở mức độ phản ánh hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp trong ngành qua các năm, chưa thực sự có các nghiên cứu sâu
về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động để tìm ra nhân tố nào thực
sự có ảnh hưởng để đưa ra các hàm ý chính sách liên quan nhằm phát triển
doanh nghiệp trong ngành.
Xuất phát từ tầm quan trọng như vậy mà tôi lựa chọn đề tài “Nghiên
cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty
ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu. Đề tài hướng đến việc xây dựng mô hình để đo lường các
nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành
khoáng sản Việt Nam để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động của các doanh nghiệp. Từ đó, đưa ra các hàm ý chính sách đến các chủ
thể liên quan nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong thực tiễn cho các
doanh nghiệp trong ngành.

4
quả hoạt động của các công ty cổ phần khoáng sản niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam.
+ Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu với 16 công ty thuộc ngành
khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời
gian 5 năm từ 2009-2013 được giới hạn ở các doanh nghiệp ngành khoáng
sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tác giả đã kết hợp phương pháp định tính và định
lượng.
- Phương pháp định tính: Qua việc thu thập thông tin, dùng phương pháp
thông kê mô tả, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động
của các công ty cổ phần ngành khoáng sản niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam
- Phương pháp định lượng: Sử dụng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động là mô hình ảnh hưởng cố định, mô hình ảnh
hưởng ngẫu nhiên. Từ đó, kiểm định sự tác động của các nhân tố đến hiệu quả
hoạt động và tiến hành phân tích kết quả.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các kết quả nghiên cứu
trên thế giới cũng như trong nước về hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp
để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài. Đồng thời xây dựng được mô hình nghiên
cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố và nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
hoạt động của các công ty cổ phần thuộc ngành khoáng sản niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam. Đồng thời kết quả nghiên cứu là bằng chứng
5
thực nghiệm cho các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp,

quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ
chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ
này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp
ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường.
Theo giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh phần II – trường đại học
Kinh tế Đà Nẵng – của PGS.TS Trương Bá Thanh và TS Trần Đình Khôi
Nguyên thì hiệu quả được xem xét giữa mối quan hệ đầu ra là kết quả của
doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm…) với
đầu vào là các nguồn lực sử dụng (tài sản, vốn chủ sở hữu, nguồn nhân
lực…). Như vậy, chỉ tiêu phân tích chung về hiệu quả cơ bản được tính như
sau:
7 Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thường được xem xét trên hai góc độ
là hiệu quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động tài chính.
1.1.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Có nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tác giả
lựa chọn hai chỉ tiêu cơ bản là: Tỷ suất sinh lời tài sản (ROA) và tỷ suất sinh
lời vốn chủ sở hữu (ROE) để nghiên cứu về hiệu quả hoạt động trong doanh
nghiệp. Sở dĩ tác giả lựa chọn hai chỉ tiêu này là bởi vì: sự quan tâm của nhà
quản lý, chủ đầu tư, khách hàng, đối tác tới doanh nghiệp xét cho cùng đó là
chỉ tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng phản ánh kết quả hoạt động
kinh doanh trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu lợi nhuận là chỉ tiêu số tuyệt đối
không có ý nghĩa nhiều trong công tác phân tích, so sánh, thống kê. Do vậy,
lựa chọn các chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến lợi nhuận như: ROA, ROE, ROS sẽ
có ý nghĩa so sánh hiệu quả hoạt động giữa các chủ thể khác nhau về thời
gian, không gian Điều này hoàn toàn đúng với các nghiên cứu trước đây,
Theo thống kê của P.G. Liargovas và K.S. Skandalis (2010) về các nghiên
cứu trước đây trong việc sử dụng các chỉ tiêu để đo lường hiệu quả hoạt động

tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần và hiệu suất sử dụng tài sản; phát hiện
sự khác biệt giữa các doanh nghiệp về định giá bán và quản trị tài sản. Tuy
nhiên chỉ tiêu ROA chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh doanh vì lợi nhuận
còn chịu tác động bởi chính sách tài trợ.
- Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE)
Hiệu quả tài chính là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời đồng vốn chủ
sở hữu doanh nghiệp. Đó là mối quan tâm của chủ sở hữu của bất kỳ doanh
nghiệp nào và sự tăng trưởng của nó qua thời gian là tiêu chí được hưởng đến
cuối cùng của nhà đầu tư.

Tổng tài sản bình quân

ROE =Lợi nhuận trước thuế (sau thuế)
x 100%
ROA =
Lợi nhuận trước
thuế (sau thuế)
Doanh thu thuần
x

Doanh thu thuần
Tổng TS
bình quân
x 100%
ROA =

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x Hiệu suất sử dụng tài sản

Lợi nhuận
trước thuế
Doanh thu
thuần
x

Doanh thu
thuần
Tổng TS
bình quân
x
1
T
ỷ suất tự
tài trợ
x
100%

Vốn chủ sở hữu bình quân

ROE =Lợi nhuận sau thuế
x 100%
ROE =
Lợi nhuận
trước thuế
Doanh thu
thuần

Nghiên cứu của Daniel Cîrciumaru, Marian Siminică, Nicu Marcu
(2008) thuộc khoa kinh tế và quản trị kinh doanh của đại học Craiova –
Romania về hiệu quả tài chính của 73 doanh nghiệp trong ngành công nghiệp
của Romania. Tiếp cận các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu theo quan điểm của Bied – Charreton về khai triển ROE theo
phương trình Du-Pont, các tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của ba nhân tố là:
tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (lợi nhuận/doanh thu), hiệu suất sử dụng tài
sản (doanh thu/tổng tài sản) và nhân tố đòn bẩy tài chính đến tỷ suất sinh lời
vốn chủ sở hữu ROE. Kết quả nghiên cứu trên 73 doanh nghiệp trong năm
2008 đã chỉ ra rằng: cả ba nhân tố này đều có ảnh hưởng thuận chiều đến tỷ
suất sinh lời vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, trong ba nhân tố ảnh hưởng này thì
11
đòn bẩy tài chính là nhân tố có ảnh hưởng nhưng không đáng kể đến biến độc
lập (tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu).
Một nghiên cứu khác của Camelia Burja (2011) về các nhân tố ảnh
hưởng đến tỷ suất sinh lời của một doanh nghiệp trong ngành hóa chất
Rumani sử dụng mô hình phân tích hồi quy bội với biến độc lập của nghiên
cứu là tỷ suất sinh lời tài sản (ROA). Dữ liệu được thu nhập từ báo cáo tài
chính hằng năm của công ty này với khoảng thời gian 1999-2009. Kết quả
nghiên cứu của Camelia Burja chỉ ra sự ảnh hưởng của cấu trúc tài chính (tỷ
suất nợ và đòn bẩy tài chính), số vòng quay hàng tồn kho, số vòng quay nợ
phải thu, tỷ lệ tài sản cố định và tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý doanh
nghiệp tới ROA của doanh nghiệp này. Mà từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị
doanh nghiệp nên chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng và kỹ thuật (tài sản cố
định), cố gắng tiết kiệm nhằm cắt giảm tối thiểu các khoản chi phí bán hàng
và quản lý doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ cùng chiều
giữa cấu trúc tài chính, tỷ trọng TSCĐ, số vòng quay hàng tồn kho và nợ phải
thu với tỷ suất sinh lời tài sản cố định (ROA).
Tiêu biểu nhất trong các nghiên cứu phải kể đến là nghiên cứu thực
nghiệm của Amdemikael Abera (2012) về các nhân tố ảnh hưởng đến khả

Nghiên cứu của Bashir và cộng sự (2013) về hiệu quả hoạt động về các
doanh nghiệp ngành dệt tại một số nước đang phát triển ở Châu Á về hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh (ROA) giai đoạn từ 2010-2012. Trong nghiên
cứu nhóm tác giả đưa ra 5 nhân tố cơ bản: quy mô doanh nghiệp (tổng tài
sản), số lượng lao động, cơ cấu tài sản (tỷ trọng tài sản cố định), tuổi doanh
nghiệp và số vòng quay vốn lưu động. Bằng phương pháp xây dựng mô hình
hồi quy bội, kết quả nghiên cứu cho thấy: Số lượng lao động, cơ cấu tài sản và
13
số vòng quay vốn lưu động là ba nhân tố có mối quan hệ ảnh hưởng đến
ROA. Trong đó số vòng quay vốn lưu động có mối quan hệ thuận chiều tới
ROA, hai nhân tố cơ cấu tài sản và số lượng lao động có mối quan hệ ngược
chiều tới hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ngược lại nhân tố số lượng lao động
và tuổi doanh nghiệp là các nhân tố không có ý nghĩa thống kê tới hiệu quả
hoạt động doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Wei Xu (2005) về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
được đo lường bằng tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) với cơ cấu tài
chính của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu quả tài chính
(ROE) và tỷ lệ nợ có mối quan hệ cùng chiều và khi tỷ lệ nợ nằm trong
khoảng 24,52% tới 51,13 % thì ROE có mối quan hệ theo phương trình bậc
hai và bậc ba với tỷ lệ nợ. Ngược lại, trong nghiên cứu Dilip Ratha (2003)
trên 52 doanh nghiệp được lựa chọn từ các quốc gia đang phát triển, lại cho
thấy đòn bẩy tài chính tác động âm đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
ở các nước này.
Nghiên cứu của Almajal (2012) cũng chỉ ra rằng khả năng thanh toán
hiện hành thực sự có ý nghĩa thống kê dương đối với hiệu quả tài chính của
25 công ty bảo hiểm niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Amman giai
đoạn 2002- 2007. Ngược lại với các ý kiến trên, Hvide và cộng sự (2007) dựa
trên một mô hình lý thuyết của Evans và Jovanovic (1989),cho rằng một sự
phong phú trong thanh khoản có thể gây hại nhiều hơn là lợi đối với hiệu suất
kinh doanh, kết quả này cũng phù hợp với kết quả thực nghiệm của Majumdar

việc chỉ ra sự ảnh hưởng của khả năng sinh lời nhờ quy mô cũng như việc áp
dụng các máy móc thiết bị nhằm gia tăng về mặt số lượng cũng như chất
15
lượng sản phẩm sản xuất được mà các hộ gia đình sản xuất cần nên quan tâm
và chú trọng tới.
Phát triển các nghiên cứu trước mới đây một nghiên cứu thực nghiệm
của Võ Đức Nghiêm (2013) về hiệu quả hoạt động của các công ty ngành
dược niêm yết trên thị trường chứng khoán đã chỉ ra rằng: tỷ suất nợ, số vòng
quay hàng tồn kho, số vòng quay nợ phải thu, tỷ trọng tài sản cố định, tỷ lệ
chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp trên doanh thu thuần và tỷ suất lợi
nhuận trên doanh thu là sáu nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh của ngành này. Bằng cách xây dựng mô hình tuyến tính hồi quy bội
nghiên cứu và ước lượng theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS),
nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong sáu nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động kinh doanh nêu trên thì có ba nhân tố là: tỷ suất lợi nhuận trên doanh
thu, tỷ trọng tài sản và số vòng quay nợ phải thu là ba nhân tố có tác động
thuận chiều. Đặc biệt, nhân tố tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu có ảnh hưởng
quan trọng nhất. Ba nhân tố còn lại là: tỷ suất nợ, tỷ lệ chi phí bán hàng và
quản lý doanh nghiệp và số vòng quay hàng tồn kho có mối quan hệ nghịch
chiều với ROA. Số liệu được thu thập của các công ty thuộc ngành dược trong
vòng bốn năm từ đầu năm 2008 đến hết năm 2011.
Tóm lại, Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các nhân tố có
thể ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp là: quy mô doanh
nghiệp, cấu trúc tài sản trong doanh nghiệp, cấu trúc tài chính, khả năng thanh
toán, tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp, tỷ suất chi phí bán hàng và quản lý
doanh nghiệp, số vòng quay hàng tồn kho, số vòng quay vốn lưu động, lãi
suất, lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu thực nghiệm này
là cơ sở để tác giả tiếp tục phát triển nghiên cứu.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
Trên cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động và các nghiên cứu thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status