ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRƢƠNG THỊ HẢI
TÌM HIỂU DÒNG CANH TÂN ĐẤT NƢỚC
NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xanh
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN Kết quả nghiên cứu của Luận văn là do tác giả thực hiện.
Khi sử dụng luận điểm khoa học, số liệu, tƣ liệu tác giả đều trích dẫn
đúng nội dung và có dẫn nguồn tài liệu.
Ngƣời thực hiện xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình!
Lời cảm ơn
Tìm hiểu dòng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX là Luận văn của
ngƣời viết sau nhiều năm theo học Cao học tại khoa Lịch sử, trƣờng Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội dƣới sự hƣớng dẫn
của PGS.TS. NGƢT Phạm Xanh.
Thông qua Luận văn, ngƣời viết xin đƣợc nói lời tri ân tới PGS.TS.
NGƢT Phạm Xanh đã tận tình hƣớng dẫn. Bên cạnh đó, ngƣời viết không
quên sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo, cán bộ khoa Lịch sử, trƣờng Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội; Ban lãnh đạo Viện
Sử học, phòng Nghiên cứu Lịch sử Việt Nam Cận đại (Viện Sử học) cùng các
đồng nghiệp, gia đình… Thiếu sự giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi đó,
ngƣời viết không thể hoàn thành công việc đúng thời hạn.
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2014
Tác giả Luận văn
Chƣơng 3: NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI VÀ MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH
VỀ DÒNG CANH TÂN ĐẤT NƢỚC NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX 74
3. 1. Thái độ của vua Tự Đức và triều đình Huế đối với các đề nghị
canh tân, đổi mới đất nƣớc. 74
3. 2. Nguyên nhân thất bại của dòng canh tân đất nƣớc nửa cuối thế
kỷ XIX 80
3. 3. Nhận định về dòng canh tân 85
Tiểu kết chƣơng 3 88
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 97
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xu hƣớng canh tân là một trong những vấn đề quan trọng trong lịch sử
bởi những tác động trực tiếp của nó tới mọi mặt đời sống xã hội. Những cải
cách, đổi mới từ xƣa tới nay đều đem lại những tiến bộ và giá trị nhất định
cho xã hội, đặc biệt trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.
Lịch sử Cổ - Trung đại Việt Nam đã chứng kiến những cải cách của họ
Khúc, của nhà Tiền Lê trong lĩnh vực hành chính hay những đổi mới về văn
hóa và kinh tế thời Lý - Trần, tiếp đó là những cải cách táo bạo của Hồ Quý
Ly, Nguyễn Huệ…
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là thời vua Tự Đức, chế độ quân chủ
Việt Nam lâm vào khủng hoảng trên nhiều lĩnh vực. Cùng với sự quan liêu,
độc đoán, tham nhũng trong chính trị; sự đình đốn, bế tắc trong kinh tế… nhà
thế kỷ XIX ở Việt Nam khá đa dạng và phong phú, tiêu biểu nhƣ:
Năm 1970, Nhà xuất bản Lá Bối - Sài Gòn công bố công trình Phong
trào Duy tân của tác giả Nguyễn Văn Xuân. Trong công trình này, tác giả đã
đề cập đến việc khôi phục đất nƣớc bằng con đƣờng nâng cao dân trí, cải tổ
xã hội về mọi mặt, trong đó có kinh tế, giáo dục và văn hóa với các hoạt động
thực tiễn nhƣ mở mang kinh tế, lập các nhà buôn lớn để tự lực, thêm khoa học
và ngoại ngữ…
Năm 1997, tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập 2) của tác giả Lê
Sỹ Thắng đã đƣợc Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành. Chuyên khảo đã
trình bày khái quát sự ra đời của tƣ tƣởng canh tân nửa cuối thế kỷ XIX và cơ
sở thế giới quan của tƣ tƣởng ấy. Bên cạnh đó, những điều trần, kiến nghị của
các nhà canh tân nhƣ Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trƣờng Tộ,
Nguyễn Lộ Trạch đƣợc tác giả phân tích khá chi tiết trên các lĩnh vực nhƣ
kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng…
Năm 1998, hai tác giả Đinh Xuân Lâm - Nguyễn Văn Hồng xuất bản
tác phẩm Xu hướng đổi mới trong lịch sử Việt Nam (Nhà xuất bản Văn hóa -
Thông tin). Trong công trình này, hai tác giả đã nghiên cứu một số nhà canh
3
tân đất nƣớc nửa cuối thế kỷ XIX nhƣ Nguyễn Trƣờng Tộ, Bùi Viện, Nguyễn
Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ… Đáng chú ý là tác giả Đinh Xuân Lâm dành 10
trang để trả lời câu hỏi: Có một xu hướng đổi mới ở Việt Nam hồi cuối thế kỷ
XIX không? (trang 12 - 22).
Cũng trong năm 1998, Trung tâm UNESCO Thông tin tƣ liệu và lịch sử
văn hóa Việt Nam cho ra mắt cuốn Xu hướng đổi mới trong lịch sử Việt Nam
- Những gương mặt tiêu biểu (nhiều tác giả, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông
tin). Trong công trình, các tác giả đã nghiên cứu một số nhà canh tân đất nƣớc
nhƣ Hồ Quý Ly, Nguyễn Trƣờng Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy
Trứ…
Năm 1999, nhà xuất bản Thuận Hóa (Huế) giới thiệu sách Tư tưởng
Duy Từ, Trịnh Cƣơng, Minh Mệnh, Nguyễn Trƣờng Tộ đến Phong trào đổi
mới đầu thế kỷ XX.
Trong số những nghiên cứu về xu hƣớng canh tân đất nƣớc nửa cuối
thế kỷ XIX, còn công trình Xu hướng canh tân, phong trào duy tân, sự nghiệp
đổi mới (từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX) của Hải Ngọc Thái Nhân Hòa
(Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005). Sách dày 411 trang, ngoài phần Mở đầu, nội
dung đƣợc chia làm 3 phần cũng là 3 đối tƣợng khảo cứu của tác giả gồm: Xu
hƣớng canh tân (cuối thế kỷ XIX), phong trào duy tân (đầu thế kỷ XX) và Sự
nghiệp đổi mới (thời hiện đại).
Trong phần viết về “xu hƣớng canh tân” (từ trang 29 đến trang 69), Hải
Ngọc Thái Nhân Hòa đã điểm những nét chính trong cuộc đời và tƣ tƣởng của
các nhân vật: Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tƣ Giản, Trần Đình Túc, Nguyễn
Thông, Nguyễn Huy Tế, Đinh Văn Điền, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Công Trứ,
Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch và Nguyễn Trƣờng Tộ. Tác giả khẳng định: các
kiến nghị, điều trần canh tân, đổi mới “đã nói lên tâm huyết của các quan viên
trong triều và ngoài nội, hợp thành dòng yêu nƣớc theo xu hƣớng canh tân ở
nƣớc ta từ nửa sau thế kỷ XIX” (trang 64); “dù nhỏ hay lớn đều chứa đựng
những tiến bộ nhất định, đem lại lợi ích thiết thân đối với xã hội đƣơng thời,
đáp ứng yêu cầu phát triển đất nƣớc đang ở trong tình thế khó khăn, đầy thử
5
thách” (trang 65). Có thể khẳng định: Xu hướng canh tân, phong trào duy tân,
sự nghiệp đổi mới” (từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX) đã có cái nhìn
tổng quát về xu hƣớng canh tân, “đánh dấu một thời kỳ phát triển tƣ duy đất
nƣớc, phản ánh tinh thần yêu nƣớc, thƣơng dân của một số quan viên trong
triều và giáo dân ngoài xã hội” (trang 66).
Qua các công trình nghiên cứu về xu hƣớng canh tân đất nƣớc nửa cuối
thế kỷ XIX, chúng ta có thể thấy đƣợc những vấn đề cơ bản của tƣ tƣởng canh
tân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội .
2.2. Những chuyên khảo về các nhà cải cách cuối thế kỷ XIX
Trường Tộ - Thời thế & tư duy canh tân của tác giả Hoàng Thanh Đạm (Nhà
xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001); Nguyễn Trường Tộ & vấn
đề canh tân của tác giả Bùi Kha (Nhà xuất bản Văn học, 2011); Nguyễn
Trường Tộ với triều Tự Đức (Nhà xuất bản Trẻ, 2013) của tác giả Nguyễn
Đình Đầu… Qua các công trình này, tƣ tƣởng cải cách Nguyễn Trƣờng Tộ
đƣợc phân tích và nhận định cụ thể trên từng lĩnh vực mà ông đề cập đến.
Nhƣ vậy, có thể nói Nguyễn Trƣờng Tộ là một trong những nhà canh
tân tiêu biểu vào cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về
ông khá phong phú và đa dạng với không ít cách luận giải và tiếp cận vấn đề
của nhiều tác giả. Những tác phẩm đó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong
việc tìm hiểu về tƣ tƣởng canh tân của Nguyễn Trƣờng Tộ trong giai đoạn
lịch sử này.
* Chuyên khảo về Đặng Huy Trứ
Năm 1990, nhóm Trà Lĩnh đã công bố công trình Con người và tác
phẩm Đặng Huy Trứ. Đây là công trình nghiên cứu tƣơng đối toàn diện, đầy
đủ về cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Huy Trứ. Đánh giá về Đặng Huy Trứ,
Nhóm Trà Lĩnh dẫn lời Giáo sƣ Vũ Khiêu khẳng định: “Đặng Huy Trứ đã
sống vì chữ Nhân, chết cũng vì chữ Nhân… Suốt đời không lúc nào ngơi.
Ông đã cống hiến toàn bộ tâm lực của mình cho Tổ quốc và nhân dân, làm
ngƣời con trung hiếu của thứ dân…” (trang 45 - 52).
7
Nhóm Trà Lĩnh đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng về Đặng Huy
Trứ. Trong nhãn quan thời cuộc của ông thì “điều hệ trọng nhất quốc gia chỉ
có việc chống ngƣời Tây Dƣơng. Vấn đề lớn nhất bàn bạc ở triều đình cũng
chỉ là vấn đề ngƣời Tây Dƣơng. Sự việc to lớn sứ quán ghi chép cũng chỉ là
việc ngƣời Tây Dƣơng” (trang 35). Để chống Pháp, Đặng Huy Trứ không chỉ
rất quan tâm đến binh thƣ, cải tiến vũ khí, quân đội mà còn đề xuất nhiều cải
cách về kinh tế. Nhóm Trà Lĩnh đánh giá Đặng Huy Trứ là nhà kinh tế vĩ đại
của đất nƣớc khi ông dũng cảm tổ chức và trực tiếp thực hiện chủ trƣơng canh
qua tấn kịch binh hỏa, nhân dân lưu tán, đồn điền rậm hoang… nay phái một
viên thượng tướng đem vài vạn quân chọn những đất phì nhiêu khai khẩn, cày
gieo tất có thành hiệu… về thông thƣơng: nay thứ xuất công bản mười vạn
lượng bạc, giao cho cán viên cỡi hỏa thuyền ra mậu dịch nước ngoài, không
cần hỏi số xuất nhập thế nào mà chỉ buộc thu sổ lợi thuế mỗi năm hai vạn,
còn bao nhiêu thì được hưởng.
Năm 1996, tác giả Mai Cao Chƣơng - Đoàn Lê Giang công bố chuyên
khảo Nguyễn Lộ Trạch - Điều trần và thơ văn (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
- Hà Nội) cung cấp nhiều thông tin quan trọng cuộc đời và tƣ tƣởng đổi mới
của Nguyễn Lộ Trạch thông qua các bản điều trần: Thời vụ sách I, Thời vụ
sách II, Thiên hạ đại thế luận.
Nhƣ vậy, những công trình nêu trên giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể
về bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, cũng nhƣ thân thế, sự nghiệp
và những đề xuất cải cách của một số nhà canh tân nửa cuối thế kỷ XIX ở
Việt Nam trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
* Các công trình thông sử hoặc mang tính thông sử
Ngoài những nghiên cứu về các nhà cải cách cuối thế kỷ XIX và những
xu hƣớng canh tân của họ, còn có các công trình thông sử hoặc các công trình
mang tính thông sử nhƣ: Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (bản in năm
1968 do nhà xuất bản Tân Việt - Sài Gòn phát hành), Đại cương lịch sử Việt
Nam toàn tập của các tác giả Trƣơng Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu
Hãn (Nhà xuất bản Giáo dục, 2003), Tiến trình lịch sử Việt Nam do tác giả
9
Nguyễn Quang Ngọc chủ biên (Nhà xuất bản Giáo dục, 2006), Lê Sỹ Thắng -
Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập 2, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1997)…
đều dành dung lƣợng đáng kể viết về xu hƣớng canh tân nửa cuối thế kỷ XIX
ở Việt Nam.
Đáng chú ý là công trình Lịch sử Cận - hiện đại Việt Nam, một số vấn
đề nghiên cứu (Nhà xuất bản Thế giới, 1998) của tác giả Đinh Xuân Lâm.
dậy ở ngoài Bắc đến cuối năm 1871 tạm yên, Lê Tuấn đƣợc triệu về kinh có
Bùi Viện cùng theo. Chuyến công cán này của Lê Tuấn ngoài Bắc lần này rõ
ràng có nhiều đóng góp đáng kể của Bùi Viện, nhƣng sử sách triều Nguyễn
không nhắc tới tên ông trong số những ngƣời có công”.
Năm 1992, Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình phối hợp với Ủy ban nhân
dân huyện Tiền Hải cùng nhiều cơ quan nghiên cứu, trƣờng đại học ở Hà Nội
tổ chức Hội thảo: Bùi Viện (1839 - 1878) cuộc đời kỳ lạ - chí lớn phi thường.
Tại Hội thảo, PGS. Chƣơng Thâu khẳng định: tiểu sử của vị Danh nhân Thái
Bình này qua các thƣ tịch quá ít ỏi đã đƣợc công bố, theo chúng tôi còn có
nhiều điểm “dị biệt”. Hầu hết các bài tham luận trong Hội thảo đều cho rằng
ông không chỉ là ngƣời Việt Nam đầu tiên hƣớng đến nƣớc Mỹ trong vấn đề
ngoại giao mà còn đƣợc xem là một trong những ngƣời có công đầu trong
việc mở cửa biển Ninh Hải; thành lập và chỉ huy đội Tuần dƣơng quân đầu
tiên của ngƣời Việt.
Tác giả Chƣơng Thâu trong bài viết Nguyễn Trường Tộ với vấn đề cải
cách văn hóa xã hội dưới thời cận đại đăng trên tạp chí Sông Hương số 28
năm 1987 đã tổng hợp khá đầy đủ những bản điều trần của Nguyễn Trƣờng
Tộ về văn hóa, xã hội để khái quát những nội dung cơ bản về việc lập trại tế
bần và viện dục anh; tăng cƣờng việc giáo dục bọn côn đồ, du đãng, trộm
cƣớp; cải tạo phong tục tập quán lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh, chấm
dứt tệ nạn xã hội.
Luận văn Tư tưởng canh tân giáo dục của Nguyễn Trường Tộ - giá trị
của nó với giáo dục hiện nay của Phạm Thu Thủy, bảo vệ năm 2010 đã làm
sáng tỏ điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của việc hình thành, phát
11
triển tƣ tƣởng canh tân giáo dục của Nguyễn Trƣờng Tộ; hệ thống hóa và
phân tích những nội dung tƣ tƣởng canh tân giáo dục của ông Từ đó, tác giả
đƣa ra các giải pháp cần thiết đáp ứng cho công cuộc đổi mới giáo dục nƣớc
ta hiện nay.
Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trƣờng Tộ, Bùi Viện…
- Trình bày kết quả, tác động, nguyên nhân thất bại và một số nhận
định về dòng canh tân.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Những đề nghị cải cách của các nhà canh tân
diễn ra ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX.
- Phạm vi thời gian: Tƣ tƣởng canh tân, đổi mới đất nƣớc đã xuất hiện
từ rất sớm. Năm 1863, hàng loạt các bản kiến nghị điều trần đƣợc dâng lên
triều đình khi Hiệp ƣớc Nhâm Tuất đƣợc ký kết (ngày 5 tháng 6 năm 1862);
tuy nhiên, ngay từ năm 1850, Phạm Phú Thứ đã nhận thấy sự “nhiêu khê,
rƣờm rà”, lãng phí của ngƣời đứng đầu triều đình Huế, ông đã dâng sớ phê
phán vua Tự Đức lơi lỏng việc triều chính.
Đến năm 1892, dƣới triều vua Thành Thái, đất nƣớc đã hoàn toàn mất
chủ quyền về tay thực dân Pháp song các nhà cải cách vẫn tiếp tục dâng các
bản kiến nghị lên triều đình. Đây chính là thời điểm Nguyễn Lộ Trạch viết bài
Thiên hạ đại thế luận. Chúng tôi xem đây là mốc thời gian kết thúc việc dâng
các bản điều trần.
Nhƣ vậy, phạm vi thời gian của luận văn là từ năm 1850 đến năm 1892.
- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung làm sáng tỏ những đề xuất
cải cách của các nhà canh tân trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, xã
hội, văn hóa - giáo dục, ngoại giao và những tác động của các đề xuất trên tới
triều đình cũng nhƣ những thất bại của xu hƣớng này.
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Các nguồn tài liệu chính thống, góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu
nghiên cứu tiền đề hình thành dòng canh tân cũng nhƣ nội dung của các đề
nghị canh tân đó nhƣ Đại Nam thực lục (Chính biên), bản dịch do Nhà xuất
13
bản Khoa học Xã hội (Hà Nội) ấn hành trong những năm 1960 - 1970, Đại Nam
NỘI DUNG
Chƣơng 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH
DÒNG CANH TÂN ĐẤT NƢỚC NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX
1. 1. Sự khủng hoảng của triều đình quân chủ Trung ƣơng
Mặc dù có những đóng góp nhất định trong lịch sử dân tộc nhƣ thống
nhất lãnh thổ quốc gia, cho Nguyễn Công Trứ mộ dân khai hoang, lập ra hai
huyện: Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) trong những năm 1828-
1829 hay cử Nguyễn Tri Phƣơng chiêu dân lập ấp ở Nam Kỳ (năm 1853)…
song một thực tế không thể phủ nhận là sau khi đƣợc thiết lập vào năm 1802,
triều Nguyễn ngày càng có những biểu hiện đi ngƣợc với xu thế phát triển
chung của lịch sử. Trong chính sách cai trị của các vua Nguyễn, từ Gia Long
tới Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… vấn đề “lợi ích dòng họ” luôn đƣợc đặt
cao hơn quyền lợi dân tộc.
Chính trị: Cũng nhƣ nhiều triều đại quân chủ trƣớc đó, nhà Nguyễn
duy trì và áp dụng bộ máy quân chủ chuyên chế tuyệt đối. Vua có quyền lực
tối thƣợng, là “thiên tử”, thay trời hành đạo nhƣng thực tế là “địa chủ lớn nhất
nƣớc”. Tƣ tƣởng trị quốc, từ vua đến quan lại đều sử dụng học thuyết Khổng -
Mạnh vốn đã lạc hậu với thời cuộc. Theo đánh giá của Giáo sƣ Đinh Xuân
Lâm: “tổ chức xã thôn thời này đã hoàn toàn trở thành một công cụ của bọn
cƣờng hào địa chủ nông thôn. Nó trói buộc ngƣời nông dân trong những
quaon hệ địa phƣơng hẹp hòi có lợi cho sự bóc lột của nhà nƣớc quân chủ và
cản trở sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa”.
Nông nghiệp: nền kinh tế nông nghiệp quốc gia vốn đã nghèo nàn, lạc
hậu, dƣới sự cai trị của nhà Nguyễn, tƣ liệu sản xuất của đại bộ phận quần
chúng ngày càng bị thu hẹp. Ruộng đất tốt đều tập trung trong tay quan lại,
địa chủ. Hiện tƣợng nông dân không có ruộng hoặc không thể sinh sống trên
mảnh ruộng của mình, buộc phải bỏ làng tha phƣơng cầu thực diễn ra rất phổ
biến trong những năm đầu thế kỷ XIX. Song song với việc thiếu tƣ liệu sản
xuất, nông dân Việt Nam còn phải chịu rất nhiều hình thức sƣu, thuế hà khắc
giá cho một số kim loại rồi độc quyền thu mua…
16
Trong thương nghiệp, nhà Nguyễn duy trì chính sách “trọng nông ức
thƣơng”. Các hoạt động buôn bán đƣợc mở hết sức nhỏ giọt. Song song với
việc độc quyền kinh doanh nguyên liệu công nghiệp (đồng, thiếc, chì, diêm
tiêu…), triều đình trung ƣơng còn đặt ra rất nhiều đạo luật vô lí khác nhƣ:
đánh thuế rất nặng vào mặt hàng gạo, nghiêm cấm nhân dân họp chợ khiến
việc giao thƣơng giữa các địa phƣơng gặp rất nhiều khó khăn, độc quyền mua
bán lâm thổ sản quý… Về ngoại thƣơng, nhà Nguyễn thực thi chính sách “bế
quan tỏa cảng” triệt để, chỉ nhập những nguyên liệu cần thiết cho triều đình
(sắt, gang… để đúc đạn dƣợc, khí cụ) ở một số cửa biển. Tàu buôn của nƣớc
ngoài bị khám xét kĩ và đánh thuế rất nặng. Thậm chí một số mặt hàng nhƣ tơ
lụa, thóc gạo bị cấm xuất khẩu. Theo thống kê, đến năm 1851, cả nƣớc chỉ có
21 sở thuế - giảm sút rất nhiều so với con số 60 sở thuế trƣớc kia.
Về văn hóa - tư tưởng: nhƣ đã trình bày, trong những năm đầu thế kỷ
XIX, mọi chính sách của nhà Nguyễn đều nhằm duy trì quyền lợi dòng họ và
bảo vệ ngai vàng của nhà vua nên văn hóa - tƣ tƣởng dƣới triều Nguyễn cũng
không nằm ngoài mục đích này. Các hoạt động mang tính định hƣớng về tƣ
tƣởng nhƣ 10 điều Huấn dụ của Minh Mạng, Tự Đức diễn âm thập điều diễn
ca… đều đề cao, tôn sùng Nho giáo để củng cố ý thức hệ quân chủ. Đó là
chƣa kể đến năm 1815, nhà Nguyễn ban hành Luật Gia Long để trấn áp nhân
dân và giữ vững trật tự quân chủ.
Cùng với những chính sách lạc hậu, nhà Nguyễn còn tiến hành các
cuộc chiến với Cao Miên, Lào khiến ngân khố quốc gia ngày càng kiệt quệ.
Đối với các quốc gia phƣơng Tây, do nhận thức sai về tôn giáo nên triều đình
trung ƣơng đã thực thi hàng loạt biện pháp cấm đạo, sát đạo hết sức cực đoan.
Nhìn chung, chỉ vài thập kỷ sau khi thiết lập vƣơng triều, nhà Nguyễn
với những sách lƣợc trị quốc an dân lạc hậu đã khiến tiềm lực đất nƣớc suy
yếu rất nhiều. Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã cay đắng thốt lên: “Lệ thuế hơi
giữ quyền quản lý cát cứ châu Bảo Lạc” [34]. Nối chí cha, năm 1836, Nông
Hùng Thạc xƣng chúa đồng thời tiến hành nhiều biện pháp củng cố lãnh địa,
18
chống các cuộc càn quét của quân triều đình từ Cao Bằng và Tuyên Quang
vào biên khu Bảo Lạc.
Sang thời Thiệu Trị rồi Tự Đức, Nông Hùng Thạc và nhà Nguyễn ở thế
giằng co, giữa hai bên ít xảy ra xung đột. Đến năm 1862, trƣớc sự kiện Hoà
ƣớc Nhâm Tuất (nhà Nguyễn nhƣờng ba tỉnh miền Đông cho Pháp), Nông
Hùng Thạc kéo hơn nghìn quân sang đánh thổ ty Đồng Văn là Nguyễn Doãn
Cẩn. Tháng 4/1868, thực dân Pháp nổ súng đánh Nam Kỳ, nhà Nguyễn buộc
phải chấp nhận cho chúa Nông Hùng Thạc giữ quyền Thổ ty, có quân đội
riêng (chế độ cai trị hành chính của một xứ theo lệ thuyên chuyển trong dòng
tộc). Nối tiếp gần hết thế kỷ XIX, Nông Hùng Thạc cùng các con Nông Hùng
Ân, Nông Hùng Phúc, Nông Hùng Tân đã cùng nhân dân chống lại giặc nƣớc
ngoài và nội địa [34].
Khởi nghĩa Cao Bá Quát (1854): Cao Bá Quát ngƣời làng Phú Thị,
huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Phú Thị - Gia Lâm - Hà Nội), xuất
thân là một nhà nho yêu nƣớc. Ông từng làm quan trong triều đình Huế nhƣng
tấm lòng vẫn luôn hƣớng về nhân dân.
Năm 1854, Bắc Kì phải hứng chịu thiên tai rất nặng nề, đời sống nhân
dân thiếu đói trầm trọng. Phải chứng kiến những bất công của xã hội cộng với
cảnh lầm than của nhân dân lao động, Cao Bá Quát quyết định lấy lý do nuôi
dƣỡng mẹ già để từ quan. Ông đã liên hệ với các sỹ phu Bắc Kỳ, suy tôn Lê
Duy Cự (một ngƣời chắt xa của vua Lê) làm minh chủ. Dƣới danh nghĩa “phù
Lê”, Cao Bá Quát đã tập hợp dân nghèo nổi dậy. Tuy nhiên, cuộc nổi dậy của
Cao Bá Quát khá bị động do kế hoạch khởi nghĩa bị lộ. Quân đội của ông đã
chiếm đƣợc phủ thành Ứng Hòa và huyện lị Thanh Oai nhƣng do tƣơng quan
lực lƣợng quá chênh lệch, cuộc nổi dậy nhanh chóng bị dập tắt. Cao Bá Quát
hi sinh trong một trận chiến đấu ác liệt.
đình huy động vào việc xây dựng lăng Tự Đức. Trƣớc sự ức hiếp của quan lại
triều đình, nhận thấy rõ sự oán giận của binh lính, thợ thuyền, Đoàn Hữu
Trƣng đã kích động và biến họ thành lực lƣợng khởi nghĩa.
Đoàn Hữu Trƣng ngƣời làng An Truyền, phủ Thừa Thiên. Để chuẩn bị
cho cuộc nổi dậy, ông đã có sự giúp sức hai em là Đoàn Hữu Ái và Đoàn Tƣ
1
Nay thuộc xóm Kẻn, thôn Vân Sơn, xã Phƣơng Sơn, huyện Lục Nam tỉnh
Bắc Giang
2
Bài Vè Cai vàng (không rõ tác giả) có đoạn: Cai Vàng tỉnh Bắc gan thay/
Mộ quân bảy ngày được một vạn ba
20
Trƣợc, đồng thời liên hệ với Hữu quân Tôn Thất Cúc, sƣ trụ trì chùa Long
Vân, ngấm ngầm rèn luyện vũ khí, tích trữ lƣơng thảo.
Khởi nghĩa Đoàn Hữu Trƣng nổ ra vào rạng sáng ngày 17 tháng 9 năm
1866. Ngay trong đêm, dân phu, binh lính đã mang theo giáo mác, cầm cờ
hiệu bắt trói Nguyễn Văn Xa (một trong hai viên quan đƣợc cử trông nom
việc xây lăng Tự Đức) rồi tổ chức thành ba đạo quân tiến về kinh thành. Tôn
Thất Cúc có ngầm hẹn từ trƣớc liền mở cổng thành để nghĩa quân vƣợt qua
Ngọ Môn, tiến về trại Cẩm Y và trại Kim Ngô để cƣớp vũ khí.
Cuộc nổi dậy của anh em họ Đoàn đã khiến kinh đô nhà Nguyễn chao
đảo. Hƣớng tiến công của Đoàn Hữu Trƣng đã tấn công trực tiếp vào điện
Thái Hòa, phá Tử Cấm Thành định tìm giết vua Tự Đức. Tuy nhiên, do lực
lƣợng cuộc khởi nghĩa còn mỏng, các cánh quân lại không có sự phối hợp
nhịp nhàng; quân đội triều đình lại nhìn thấy những mặt yếu kém của nghĩa
quân nên đã đóng cửa thành và tiến hành đàn áp.
Cuộc nổi dậy nhanh chóng thất bại, ba anh em họ Đoàn và Tôn Thất
Cúc đều bị xử tội chết. Sự nghiệp anh hùng của Đoàn Hữu Trƣng chỉ kéo dài