tiểu luận môn địa chất môi trường: Chất thải sinh hoạt và ảnh hưởng của nó đến môi trường - Pdf 28

BẢNG PHÂN CÔNG
STT Họ và tên Công việc Ghi chú
1 Tôn Thị Thảo
Khái niệm, phân loại, thành phần, nguồn gốc
của CTSH
2 Hoàng Thị Tâm Hiện trạng CTSH
3 Nguyễn Thị Thương Ảnh hưởng của CTSH gây ra
4 Nguyễn Thị Phương Thúy Ảnh hưởng của CTSH gây ra
5 Phạm Quốc Thái Biện pháp xử lý CTSH
6 Nguyễn Thị Tương Đặt vấn đề + Kết luận + Tổng hợp
Nhóm
trưởng
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
B. NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM CHẤT THẢI SINH HOẠT
II. PHÂN LOẠI, THÀNH PHẦN VÀ NGUỒN GỐC PHÁT SINH
+ Chất thải rắn sinh hoạt
+ Nước thải sinh hoạt
+ Khí thải sinh hoạt
III. HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI SINH HOẠT
3.1 Hiện trạng trên thế giới
3.2 Hiện trạng ở Việt Nam
Tình hình quản lý rác thải tại một số tỉnh
IV. ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI SINH HOẠT
4.1 ĐẾN MÔI TRƯỜNG
4.1.1 Ảnh hưởng đến môi trường không khí
4.1.2 Ảnh hưởng đến môi trường nước
4.1.3 Ảnh hưởng đến môi trường đất
4.2 ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI
V. CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI SINH HOẠT

của khu vực, quốc gia mà là vấn đề chung của toàn thế giới.
Trong đó nguồn ô nhiễm ảnh hưởng lớn đến môi trường là chất thải sinh hoạt Lượng chất
thải này càng nhiều gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước và sức khỏe con người
ngày càng trầm trọng, trong khi đó các công tác quản lý thu gom, xử lý vẫn chưa chặt chẽ
và đạt hiệu quả cao. Lượng chất thải thực phẩm chiếm tỉ lệ cao so với các chất thải khác,
làm tăng chi phí xử lý xây dựng bãi chôn lấp, xử lý nước rò rỉ, trong khi thành phần này
là nguồn nguyên liệu dồi dào cho các nhà máy sản xuất phân. Trong chất thải sinh hoạt có
nhiều loại có thể dùng để tái chế được như chai lọ nhựa, giấy báo, nilon nếu phân loại và
tái chế được thì không chỉ làm giảm chi phí quản lý chất thải mà còn giúp tiết kiệm nhiều
tài nguyên và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Khi đời sống con người được cải thiện thì nhu cầu tiêu thụ càng nhiều, điều này cũng
đồng nghĩa với lượng chất thải trong cộng đồng dân cư ngày càng gia tăng Để hiểu rõ
chất thải sinh hoạt như thế nào và những tác động của nó đến môi trường ra sao,và những
biện pháp gì để xử lý chúng, nhóm chúng em xin trình bày đề tài:“ Chất thải sinh hoạt và
ảnh hưởng của nó đến môi trường”.
B. NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM CHẤT THẢI SINH HOẠT.
Khái niệm:
+ Chất thải : được hiểu như quy định tại Điều 2 luật Bảo vệ Môi Trường năm 2005 là:
“chất thải là vật chất ở trạng thái rắn, lỏng, khí hoặc mùi được thải ra từ sinh hoạt, sản
xuất, dịch vụ hoặc hoạt động khác của con người”.
+ Chất thải sinh hoạt : là chất thải ở các dạng vật chất, thải ra từ quá trình sinh hoạt của
con người
II. PHÂN LOẠI, THÀNH PHẦN VÀ NGUỒN GỐC PHÁT SINH
Chất thải sinh hoạt cũng tồn tại ở 3 trạng thái : rắn, lỏng,khí.
+ Nước thải sinh hoạt : là nước được thải bỏ sau khi sử dụng cho mục đích sinh hoạt như
tắm giặt,vệ sinh cá nhân …phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện,cơ quan, trường
học,chợ và các công trình công cộng khác.
Thành phần của nước thải sinh hoạt gồm 2 loại:
Nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh

phẩm trong tủ lạnh
CFC
Hô hấp CO
2
Nguồn thực phẩm bỏ đi. CH
4
, mùi,
+ Chất thải rắn sinh hoạt ( Rác thải sinh hoạt ): là những chất thải liên quan đến hoạt
động của con người, chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, trung tâm
thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh,
gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương
động vật, xác động vật, rau quả,…
Trong đó chủ yếu gồm: rác thực phẩm (nguồn gốc từ động, thực vât, ), giấy, nilon, nhựa,
kim loại, thủy tinh, các chất thải có nguồn gốc xenlulozo,và một số chất khác.
Bảng 3: Một số loại chất thải rắn sinh hoạt
Thành phần Định nghĩa Ví dụ
1.Các chất cháy được
a.Giấy Các vật liệu làm từ giấy bột và
giấy
Các túi giấy, mảnh bìa, giấy vệ
sinh
b.Hàng dệt Các nguồn gốc từ các sợi Vải, len, nilon
c.Thực phẩm Các chất thải từ đồ ăn thực phẩm Cọng rau, vỏ quả, thân cây, lõi
ngô
d.Cỏ, gỗ, củi, rơm rạ Các sản phẩm và vật liệu được
chế tạo từ tre, gỗ, rơm
Đồ dùng bằng gỗ như bàn, ghế,
đồ chơi, vỏ dừa
e.Chất dẻo Các vật liệu và sản phẩm được Phim cuộn, túi chất dẻo, chai,
chế tạo từ chất dẻo lọ. Chất dẻo, đầu vòi, dây

Nạn ô nhiễm môi trường có thể thấy ở mọi nơi trên thế giới, từ Mexico, Nga, Mỹ cho tới
Trung Quốc, Ấn Độ Tình trạng ô nhiễm ở một vài thành phố tại những quốc gia này
xuất phát từ nhiều lý do khác nhau. Trong đó ý thức con người giữ một vai trò khá quan
trọng, Mumbai một trong những thành phố đông đúc nhất và bẩn thỉu nhất trên trái đất.
Mỗi ngày, người dân ở nơi đây quẳng ra hàng tấn rác. Bắc Kinh có dân số 17,6 triệu
người, thải ra khoảng 18.400 tấn rác mỗi ngày, khoảng 90% rác thải được đổ tại 13 bãi
rác đặt rải rác quanh thành phố. Còn người dân Hoa Kỳ đã loại bỏ mỗi năm
16.000.000.000 tã, 1.600.000.000 bút, 2.000.000.000 lưỡi dao cạo, 220.000.000 lốp xe.
Với một lượng chất thải như thế thì không lâu trái đất của chúng ta sẽ chìm trong biển
rác.
3.2 Hiện trạng chất thải sinh hoạt ở Việt Nam
Lượng chất thải sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng
tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%. Kết quả điều tra tổng thể năm 2006-
2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà
Nội và TP.HCM. Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/
ngày (2.920.000 tấn/ năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô
thị.
Bảng 4: Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007
STT Loại đô thị
Lượng CTRSH bình
quân/người
(kg/người/ngày)
Lượng CTRSH phát sinh
Tấn/ngày Tấn/năm
1 Đặc biệt 0,84 8.000 2.920.000
2 Loại 1 0,96 1.885 688.025
3 Loại 2 0,72 3.433 1.253.045
4 Loại 3 0,73 3.738 1.364.370
5 Loại 4 0,65 626 228.490
Tổng 6.453.930

lớn tại VN như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng bị ô nhiễm nước rất nặng
nề. Đô thị ngày càng phình ra tại VN, nhưng cơ sở hạ tầng lại phát triển không cân xứng,
đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại VN vô cùng thô sơ. Có thể nói rằng,
người Việt Nam đang làm ô nhiễm nguồn nước uống chính bằng nước sinh hoạt thải ra
hàng ngày”, ông Matsuzawa nhận định.
Theo Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (VACNE), nước thải sinh hoạt
chiếm khoảng 80% tổng số nước thải ở các thành phố, là một nguyên nhân chính gây nên
tình trạng ô nhiễm nước và vấn đề này có xu hướng càng ngày càng xấu đi. Ước tính,
hiện chỉ có khoảng 6% lượng nước thải đô thị được xử lý.
Chuyên gia Matsuzawa cho rằng, quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá khiến luồng
di cư đổ về đô thị. Song việc thu gom, xử lý rác thải và nước thải sinh hoạt lại không
được để ý. “Tôi chắc chắn rằng, VN trong vòng ít nhất là 10-15 năm nữa sẽ còn phải
hứng chịu các tác động nặng nề do nước thải sinh hoạt không được xử lý. Đây là lý do vì
sao tôi nói rằng, ô nhiễm nước thải sinh hoạt đang là vấn đề nghiêm trọng nhất mà VN
đang đối mặt”, ông khẳng định.
Một báo cáo toàn cầu mới được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố hồi đầu năm 2010
cho thấy, mỗi năm Việt Nam có hơn 20.000 người tử vong do điều kiện nước sạch và vệ
sinh nghèo nàn và thấp kém. Còn theo thống kê của Bộ Y tế, hơn 80% các bệnh truyền
nhiễm ở nước ta liên quan đến nguồn nước. Người dân ở cả nông thôn và thành thị đang
phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh do môi trường nước đang ngày một ô nhiễm trầm
trọng.
Hình 2: Nước thải sinh hoạt chưa xử lý đổ ra sông Tô Lịch (hocdan.com)
Tình hình quản lý rác thải tại một số tỉnh như sau:
Tại Hà Nội: Theo tính toán của Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Môi trường Đô
thị (URENCO), mỗi ngày Hà Nội thải ra khoảng 3.000 tấn rác thải sinh hoạt, tức một
năm có trên dưới một triệu tấn. Hiện nay, ngoài URENCO còn có nhiều đơn vị khác cùng
tham gia thu gom rác như Công ty cổ phần Thăng Long, Công ty cổ phần Tây Đô, Công
ty cổ phần Xanh, Hợp tác xã Thành Công nhưng tất cả vẫn không thể thu gom nổi vì
lượng rác thải sinh hoạt đang ngày một tăng nhanh. Chính vì vậy mà tỉ lệ thu gom rác
thải sinh hoạt ở các quận nội thành hiện đạt khoảng 95%, còn các tuyến ngoại thành mới

nhiễm đến môi trường đất, nước mặt, nước ngầm, từ đó dễ dẫn đến khả năng gây ô nhiễm
cây trồng và nước uống của chúng ta. Hơn nữa, việc đốt rác không được kiểm soát ở
những bãi chứa rác có thể gây ra ô nhiễm không khí nghiêm trọng và cũng sẽ gây ảnh
hưởng đến những sinh vật sống.
4.1.1 Ô nhiễm môi trường không khí
Hình 6 : Bãi rác được đốt cháy ngày đêm ngay dưới đường dây 500KV đi ngang quaở huyện Trảng Bom - Đồng Nai
(Nguồn xzone.vn)
+ CTR, đặc biệt là CTR sinh hoạt, có thành phần hữu cơ chiếm chủ yếu. Dưới tác
động của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, CTRSH hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra
các chất khí (CH4 - 63.8%, CO2 - 33.6%, và một số khí khác). Trong đó, CH4 và CO2
chủ yếu phát sinh từ các bãi rác tập trung (chiếm 3 - 19%), đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên
và các khu chôn lấp. Khối lượng khí phát sinh từ các bãi rác chịu ảnh hưởng đáng kể của
nhiệt độ không khí và thay đổi theo mùa. Lượng khí phát thải tăng khi nhiệt độ tăng,
lượng khí phát thải trong mùa hè cao hơn mùa đông. Đối với các bãi chôn lấp, ước tính
30% các chất khí phát sinh trong quá trình phân hủy rác có thể thoát lên trên mặt đất mà
không cần một sự tác động nào. Khi vận chuyển và lưu giữ CTRSH sẽ phát sinh mùi do
quá trình phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí.
+ Các khí phát sinh từ quá trình phân hủy chất hữu cơ trong CTRSH là: NH
3
có mùi
khai, phân có hôi, H
2
S mùi trứng thối. Bên cạnh hoạt động chôn lấp, việc xử lý CTSH
bằng biện pháp tiêu hủy cũng góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường không khí. Việc
đốt rác sẽ làm phát sinh khói, tro bụi và các mùi khó chịu. Một số kim loại nặng và hợp
chất chứa kim loại (như thủy ngân, chì) cũng có thể bay hơi, theo tro bụi phát tán vào môi
trường. Mặc dù, ô nhiễm tro bụi thường là lý do khiếu nại của cộng đồng vì dễ nhận biết
bằng mắt thường, nhưng tác nhân gây ô nhiễm nguy hiểm hơn nhiều chính là các hợp
chất (như kim loại nặng, dioxin và furan) bám trên bề mặt hạt bụi phát tán vào không khí.
+ Ngoài ra còn một số tác động tiềm tàng của các chất khí phát sinh từ bãi rác như:

Nước mặt: Do nhiều nguyên nhân khác nhau, gây ra sự mất cân bằng giữa lượng chất thải
ra môi trường nước (rác thải sinh hoạt, các chất hữu cơ,…) và các sinh vật tiêu thụ lượng
chất thải này (vi sinh vật, tảo,…) làm cho các chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng,… không
được phân huỷ, vẫn còn lưu lại trong nước với khối lượng lớn, dẫn đến việc nước dần
mất đi sự tinh khiết ban đầu, làm chất lượng nguồn nước bị suy giảm nghiêm trọng.
COD, BOD: sự khoáng hoá, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lượng lớn và gây thiếu
hụt oxy của nguồn tiếp nhận dẫn đến ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi trường nước. Nếu ô
nhiễm quá mức, điều kiện yếm khí có thể hình thành. Trong quá trình phân huỷ yếm khí
sinh ra các sản phẩm như

H
2
S, NH
3
, CH
4
, làm cho nước có mùi hôi thối và làm
giảm pH của môi trường.
CTRSH không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễm môi
trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nước với
không khí dẫn tới giảm DO trong nước. Chất thải rắn hữu cơ phân hủy trong nước gây
mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị
suy thoái. CTR phân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu
đen, có mùi khó chịu. Thông thường các bãi chôn lấp chất thải đúng kỹ thuật có hệ thống
đường ống, kênh rạch thu gom nước thải và các bể chứa nước rác để xử lý trước khi thải
ra môi trường. Tuy nhiên, phần lớn các bãi chôn lấp hiện nay đều không được xây dựng
đúng kỹ thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quá tải, nước rò rỉ từ bãi rác được thải trực
tiếp ra ao, hồ gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng. Sự xuất hiện của các bãi rác lộ
thiên tự phát cũng là một nguồn gây ô nhiễm nguồn nước đáng kể. Tại các bãi chôn lấp
chất thải rắn, nước rỉ rác có chứa hàm lượng chất ô nhiễm cao (chất hữu cơ: do trong rác

khí thì sản phẩm cuối cùng chủ yếu là CH
4 ,
H
2
S, NH
3
gây ngộ độc cho môi trường.
Khi thải ra môi trường một lượng rác thải sinh hoạt quá nhiều làm cho môi trường đất
quá tải, không kịp làm sạch và tiêu hủy hết các chất thải sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm, sự
ô nhiễm này cùng với ô nhiễm kim loại nặng, chất độc hại theo nước chảy xuống mạch
nước ngầm, làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt trong đất.
+ Với 1 lượng nước thải vừa phải thì môi trường đất có khả năng tự làm sạch. Ngược lại
với lượng nước thải không lồ sẽ làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm nặng.
Nước thải ngấm vào đất làm:
- Liên kết giữa các hạt keo đất bị bẻ gãy, cấu trúc đất bị phá vỡ.
- Vai trò đệm, tính oxy hóa, tính dẫn điện, dẫn nhiệt của môi trường đất thay đổi mạnh.
- Thành phần chất hữu cơ giảm nhanh làm khả năng giữ nước và thoát nước của đất bị
thay đổi.
+ Một số chất hay ion có trong nước thải ảnh hưởng đến đất:
Quá trình oxy hóa các ion Fe
2+
và Mn
2+
có nồng độ cao tạo thành các axit không tan
Fe
2
O
3
và MnO
2

thành nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.
Nước thải đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng; nghiêm trọng nhất là đối với
dân cư khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp,…….
Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy, dịch tả, thương
hàn,…
Mất kế sinh nhai vì nước rỉ rác
Nước rỉ rác từ bãi rác Đa Phước - xã Đa Phước huyện Bình Chánh, thành phố Hồ
Chí Minh thải tràn ra đường vào lúc mưa lớn và triều cường lên cao gây ô nhiễm nghiêm
trọng. Tình trạng mùi hôi thối phát sinh từ bãi rác trong phạm vi rộng lớn. Ngoài những
ảnh hưởng xấu về môi trường như mùi hôi, nạn ruồi, người dân địa phương còn bị thiệt
hại về kinh tế vì các con kênh, rạch ở khu vực bị ô nhiễm, không thể nuôi thủy sản. Chính
vì tình trạng ô nhiễm này, nhiều người dân địa phương trước đây nuôi thủy sản như tôm,
cá, cua thì nay phải bỏ nghề.
Chất thải sinh hoạt ngày nay là một vấn đề cấp bách chúng gây ảnh hưởng và để lại hậu
quả rất lớn đến môi trường và con người.
V. BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI SINH HOẠT
Trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, các địa phương đang cố
gắng, nỗ lực từng bước hoàn thành các tiêu chí trong đó có tiêu chí về môi trường, cụ thể,
chất thải, rác thải được thu gom và xử lí theo đúng quy định, không gây ảnh hưởng đến
môi trường nhưng để giải quyết vấn đề này cần có sự quan tâm, đầu tư của chính quyền
các cấp, tìm ra hình thức xử lí chất thải một cách phù hợp, hiệu quả. Cần nhận thức được
tầm quan trọng của việc giữ gìn vệ sinh môi trường nói chung và môi trường nông thôn
nói riêng, UBND các cấp nên đưa ra các giải pháp như:
Tuyên truyền giáo dục bằng các biện pháp là các khẩu hiệu hoặc các tờ rơi, bố trí các
thùng rác nơi công cộng …để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mọi người dân
trong cộng đồng, giữ gìn vệ sinh môi trường nông thôn, đô thị của mình nói chung. Các
khu, xóm làng nên chọn một ngày nhất định trong tuần, trong tháng làm ngày tổng vệ
sinh chung trong đường làng ngõ xóm, khu dân cư. Cán bộ chính quyền địa phương cần
quy hoạch, xây dựng hệ thống hạ tầng để giải quyết vấn đề vệ sinh môi trường nông thôn
như làm rãnh thoát nước trong khu dân cư; trồng nhiều cây xanh,xây dựng nơi xử lý và

và đổ vào các chai lọ có sẵn, so với việc thu gom, tái sử dụng chai lọ thì việc sử dụng bao
bì giấy thuận tiện hơn. Sản xuất các loại túi nilon tự phân hủy, Nhà nước có chính sách
giảm thuế cho các doanh nghiệp thực hiện tốt vấn đề sản phẩm thân thiện với môi trường.
Một số phương pháp xử lý – tái chế chất thải sinh hoạt:
5.1 Phương pháp truyền thống: (Phương pháp này được phổ biến ở Việt Nam)
5.1.1 Tập trung thành bãi rác: Ngoài các bãi rác lớn ở xa khu dân cư, có quá nhiều bãi
rác đã, đang tồn tại ở : xung quanh nhà dân, trên khu vực chợ, trong công viên, trên sông
ngòi, các kênh mương…
5.1.2 Phương pháp Đốt: Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng cho một số loại rác
không thể xử lý bằng các phương pháp khác. Đây là một giai đoạn oxy hóa nhiệt độ cao
với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó các rác độc hại được chuyển hóa thành
khí và các chất thải rắn khác không cháy. Việc xử lý rác bằng phương pháp đốt có ý nghĩa
quan trọng là làm giảm tới mức nhỏ nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, nếu sử dụng
công nghệ tiến tiến còn có ý nghĩa cao bảo vệ môi trường. Đây là phương pháp xử lý rác
tốn kém nhất so với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh thì chi phí để đốt một tấn rác cao
hơn khoảng 10 lần. Công nghệ đốt rác thường áp dụng ở các quốc gia phát triển vì phải
có một nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho việc thu đốt rác sinh hoạt như là một dịch vụ
phúc lợi xã hội của toàn dân. Tuy nhiên đốt rác sinh hoạt bao gồm nhiều chất khác nhau
sinh khói độc và dễ sinh đioxin nếu việc xử lý khói không tốt (phần xử lý khói là phần
đắt nhất trong công nghệ đốt rác).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status