BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG LÊ ĐẠI THẮNG KHẢO SÁT SỰ Ô NHIỄM VI KHUẨN CHỈ ĐIỂM TRÊN
THÂN THỊT LỢN VÀ ĐIỀU KIỆN VỆ SINH Ở LÒ MỔ MINH
HIỀN - TẠI HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS,TS. NGUYỄN BÁ HIÊN HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ĐOAN
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt hai năm học vừa qua.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo đã giảng dạy tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã
động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường./.
Hà nội, ngày 28 tháng 10 năm 2014
Người viết
Hoàng Lê Đại Thắng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục phụ lục ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Nội dung 31
2.1.1 Khảo sát thực trạng điều kiện vệ sinh tại cơ sở nghiên cứu 31
2.1.2 Kiểm tra chỉ tiêu vi sinh vật đối với: 31
2.1.3 Đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế sự ô
nhiễm vi sinh vật đối với thịt trong các khâu của quá trình giết mổ lợn
tại Cơ sở giết mổ lợn Minh Hiền. 31
2.2 Nguyên liệu 31
2.2.1 Mẫu xét nghiệm 31
2.2.2 Môi trường 32
2.2.3 Thiết bị dụng cụ 32
2.2.4 Địa điểm nghiên cứu 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1 Phương pháp điều tra 32
2.3.2 Phương pháp kiểm tra phân tích trong phòng thí nghiệm 32
2.3.3 Một số phương pháp xét nghiệm vi sinh vật cụ thể được sử dụng trong
nghiên cứu
33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Thực trạng điều kiện vệ sinh ở cơ sở giết mổ lợn Minh Hiền 42
3.1.1 Thực trạng giết mổ lợn tại cơ sở Minh Hiền 42
3.1.2 Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị 43
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.1.3 Dụng cụ phục vụ quá trình giết mổ 43
3.1.4 Vệ sinh khử trùng 45
3.1.5 Xử lý chất thải 45
3.1.6 Phương tiện vận chuyển 45
ASP : (Amnesic Shellfish Poisoning
DSP : (Diarrhetic Shellfish Poisoning
NSP : (Neurotoxic Shellfish Poisoning
PSP : Paralytic Shellfish Poisoning
CSGM :Cơ sở giết mổ
KSVSTY : Kiểm soát vệ sinh thú y
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
BPW : (Buffered Pepton Water
RV : (Rappaport Vassiliadi),
DHL : (Deoxycholate Hydrogen sulfide Lactose agar).
TSI : (Triple Sugar Iron),
LIM : (Lysine Indole Motility),
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1 Tình hình ngộ độc thực phẩm trong cả nước từ năm 2009 - 2014 11
1.2 Tiêu chuẩn vi sinh vật nước uống của WHO 17
1.3 Một số chỉ tiêu vi sinh vật của thân thịt 28
1.4 Một số chỉ tiêu vi sinh vật của thịt tươi 28
1.5 Một số chỉ tiêu vi sinh vật trên dụng cụ giết mổ 28
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
3.10 Kết quả kiểm tra độ ô nhiễm một số vi khuẩn chỉ điểm trên dụng cụ
giết mổ (Tại thời điểm tháng 4/2014) 53
3.11 Kết quả kiểm tra độ ô nhiễm một số vi khuẩn chỉ điểm ở phương tiện
vận chuyển (Tại thời điểm tháng 8/2013) 54
3.12 Kết quả kiểm tra độ ô nhiễm một số vi khuẩn chỉ điểm ở phương tiện
vận chuyển (Tại thời điểm tháng 12/2013) 55
3.13 Kết quả kiểm tra độ ô nhiễm một số vi khuẩn chỉ điểm ở phương tiện
vận chuyển (Tại thời điểm tháng 4/2014) 55Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
DANH MỤC PHỤ LỤC
STT Tên hình Trang
Hình 1 Cán bộ Thú y kiểm tra khi nhập lợn vào cơ sở 62
Hình 16 Bể xử lý nước thải của cơ sở 69
Hình 17 Bể xử lý nước thải của cơ sở 70
Ảnh 18 Cán bộ Thú y mặc trang phục khi làm nhiệm vụ 70
Hình 19 Cán bộ Thú y mặc trang phục khi làm nhiệm vụ 71
Hình 20 Công nhân được trang bị bảo hộ song không duy trì đầy đủ
trong suốt quá trình làm việc 71
Hình 21 Để phủ tạng trên thân thịt lợn và chở lợn không đúng quy định 72
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page x
Hình 22: Phương tiện vận chuyển thịt lợn theo quy định 72
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề nóng
bỏng được toàn xã hội quan tâm. Khi nói đến thực phẩm phục vụ cho nhu cầu hàng
ngày của con người thì thịt là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu trong mỗi bữa ăn
Nhận thức được việc quan trọng của vấn đề An toàn thực phẩm, thành phố
Hà Nội đã xây dựng Đề án An toàn thực phẩm theo Chương trình mục tiêu Quốc
gia đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản xuất nông, lâm, thủy hải sản từ
năm 2011 đến 2015. Một trong những nội dung chủ yếu của Đề án là Quy hoạch
giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn Thành phố thành các khu, lò giết mổ tập trung
đảm bảo an toàn thực phẩm trong quá trình giết mổ một trong những khâu dễ bị ô
nhiễm nhất trong chuỗi sản xuất thực phẩm an toàn có nguồn gốc động vật.
Để góp phần giúp ngành Thú y Hà Nội đánh giá và đưa ra các đề xuất với Sở
Nông nghiệp&PTNT, UBND Thành phố trong việc Quy hoạch và Quản lý công tác
giết mổ hiệu quả, tạo nguồn thực phẩm có nguồn gốc động vật an toàn cho người
dân, ngăn ngừa dịch bệnh lây lan, góp phần bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài:
Khảo sát sự ô nhiễm vi khuẩn chỉ điểm trên thân thịt lợn và điều kiện vệ
sinh ở lò mổ Minh Hiền - tại huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội./.
Hy vọng, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp ích phần nào cho những
người làm công tác quản lý đề xuất các biện pháp thích hợp trong quản lý giết mổ
gia súc gia cầm nói chung và giết mổ lợn nói riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội
góp phần giảm thiểu nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm cho nhân dân Thủ đô.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Điều tra, khảo sát để thấy rõ được thực trạng giết mổ lợn tại Cơ sở Minh
Hiền tại huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội;
- Đánh giá mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm(Thông qua chỉ tiêu kiểm tra vi
sinh vật);
- Đề xuất giải pháp hữu hiệu nhằm hạn chế sự ô nhiễm một số vi sinh vật chỉ
điểm đối với thịt lợn trong các khâu của quá trình giết mổ lợn tại Cơ sở Minh Hiền.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Page 4
Trong nông nghiệp, các thuốc bảo vệ thực vật như Carbaryl, Coumaphos,
DDT, Lindan, Trichlorphon, Dichlorvos, Diazinon, Chlopyrifos… không chỉ tồn dư
trong thực vật mà còn tồn dư trong sản phẩm có nguồn gốc động vật.
Một số thuốc kháng sinh như: Chloramphenicol, Nitrofuran, Tetracycline;
các hoóc môn tăng trưởng Thyroxin, DES-Dietyl Stillbeotrol dùng trong chăn nuôi,
điều trị bệnh cũng có khả năng tích luỹ trong mô thịt, tồn dư trong trứng hoặc thải
trừ qua sữa. Theo chu trình sinh học, con người cũng bị tồn dư các chất này do sử
dụng các sản phẩm ô nhiễm.
Kháng sinh vừa có tác dụng kìm khuẩn, diệt khuẩn vừa có tác dụng kích
thích tăng trọng. Việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn đã cải thiện tăng trọng
16,4% đối với lợn sau cai sữa; 10,6% đối với lợn choai; 4,2% đối với lợn vỗ béo.
Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh ở các trại chăn nuôi lợn rất phổ biến và tràn lan,
không tuân thủ các nguyên tắc sử dụng kháng sinh, dẫn đến tình trạng vi khuẩn
kháng thuốc và hiện tượng tồn dư kháng sinh trong sản phẩm rất cao.
Các hoá chất dùng trong quá trình bảo quản, chế biến vượt quá giới hạn cho
phép hoặc không được phép sử dụng như hàn the, muối diêm, urê, chất ngọt tổng
hợp, chất chống mốc… có tác dụng giữ cho thịt được tươi lâu, sản phẩm chế biến
được dai, giòn, tăng tính hấp dẫn (chả, giò, patê…). Ở Việt Nam hiện nay tình trạng
dùng hoá chất độc ngoài danh mục, dùng quá liều, dùng không đúng kỹ thuật còn
khá phổ biến.
Theo số liệu của Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm, tồn dư thuốc thú y trong
thịt chiếm 45,7%; thuốc bảo vệ thực vật 7,6%; kim loại năng là 21%.
Ngoài ra, ngộ độc thực phẩm còn do bản thân thực phẩm có độc, các chất
độc có trong thực phẩm như chất solamin trong khoai tây mọc mầm; axit
cyanhydric trong măng, sắn; các độc tố nấm; chất bufogin trong cóc; chất
tetrodotoxin trong cá nóc; các chất gây đãng trí (Amnesic Shellfish Poisoning:
ASP); gây tiêu chảy (Diarrhetic Shellfish Poisoning: DSP); gây liệt thần kinh
(Neurotoxic Shellfish Poisoning: NSP); gây liệt cơ Paralytic Shellfish Poisoning:
không sốt hoặc nôn mửa. Bệnh tự hết sau 24 giờ.
- Vi khuẩn Escherichia coli:
E. coli là một trong nhiều vi khuẩn sống đông đúc ở ruột và được loại ra khỏi
cơ thể qua phân, một ít trong nước tiểu. Do đó, vi khuẩn lan vào thực phẩm là do
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
ruồi truyền từ phân hoặc không rửa tay sau khi đi vệ sinh của người sửa soạn thức
ăn. Nước uống cũng có thể bị nhiễm E. coli. Bệnh xảy ra khắp mọi nơi trên thế giới,
đôi khi được gọi là tiêu chảy du lịch (Traveler’s diarrhea). Dấu hiệu gồm đau bụng,
sốt nhẹ, tiêu chảy ra máu trầm trọng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
- Ngộ độc do Ký sinh trùng:
Trichinosis là bệnh gây ra do ấu trùng của ký sinh trùng Giun xoăn
Trichinella spiralis, đa số có trong thịt lợn. Bệnh còn khá phổ biến tại nhiều quốc
gia trên thế giới. Ấu trùng tá túc trong ruột lợn rồi chuyển vào các cơ bắp của con
vật và sống ở đó cả chục năm người khi ăn phải thịt này sẽ bị trúng độc. Bệnh có
các dấu hiệu như đau bụng, buồn nôn, nôn. Vài tuần sau là sốt, đau bắp thịt khi bào
tử di chuyển trong cơ thể. Ký sinh trùng bị tiêu hủy khi nấu chín hoặc đông lạnh ở
nhiệt độ -18ºC trong một ngày.
- Vi khuẩn Clostridium botulinum
Đây là các vi khuẩn yếm khí có nha bào, tiết ra độc tố thần kinh rất mạnh
(botulin) và gây ra bệnh ngộ độc thịt (botulism). Độc tố chỉ sản sinh trong điều kiện
không có không khí, như thực phẩm đóng hộp hoặc trong túi nhựa gắn kín.
vi sinh vật ít hơn so với ngộ độc do nhiễm vi sinh vật nhưng nguy hiểm hơn vì tỷ lệ
tử vong cao. Có 2 loại độc tố: nội độc tố và ngoại độc tố. Ngoại độc tố do vi khuẩn
còn sống tiết ra, rất độc nhưng dễ bị nhiệt phân huỷ. Nội độc tố ở trong màng tế bào
vi khuẩn, ít độc. Khi vi khuẩn chết, độc tố sẽ được giải phóng và gây bệnh. Nội độc
tố khó bị phân huỷ bởi nhiệt độ cao nên rất nguy hiểm nếu hiện diện trong thực
phẩm. Độc tố ruột chịu nhiệt, đun sôi 30 phút không bị phá huỷ, chịu được pH=5 và
trong cồn. Trong ngộ độc thực phẩm do độc tố vi khuẩn, có hai loại được lưu ý nhất
là Clostridium botulinum và Staphylococcus aureus.
Thực phẩm là một chuỗi dây chuyền liên quan từ người cung ứng nguyên
liệu, người sản xuất, người lưu thông đến người sử dụng….Khả năng nhiễm khuẩn
hay nguy cơ gây ngộ độc ở mỗi công đoạn đều rất cao, nhất là từ khâu chế biến và
lưu thông. Một chuyên gia về thực phẩm cho biết, các độc tố trong thực phẩm nằm
dưới hai dạng, một là độc tố tự nhiên (như nấm mốc, cá nóc….), hai là do xâm nhập
hoặc tự sản sinh trong quá trình sản xuất, chế biến và sử dụng. Loại thứ nhất thường
dẫn đến tử vong, còn loại thứ hai thì rất phổ biến.
Theo nhiều nghiên cứu cho thấy các vi khuẩn có thể tồn tại trong thực phẩm
một thời gian tương đối lâu, tùy từng loại vi khuẩn: vi khuẩn thương hàn có thể tồn
tại trong mỡ động vật tới 90 ngày, trong thực phẩm lạnh tới vài tháng. Vi khuẩn lao
tồn tại trong sữa chua tới 20 ngày, trong pho mát tới 90 ngày. Vi khuẩn nhiệt thán
có thể tồn tại trong thịt muối tới 45 ngày (Trần Đáng, 2001) [25].Với khả năng tồn
tại của vi sinh vật lâu như vậy trong thực phẩm, cộng thêm vào đó là quá trình chế
biến và sử dụng thực phẩm của người tiêu dùng không đảm bảo đã tạo cơ hội cho
hàng loạt các vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra, gây tổn thất nghiêm trọng đến sức khỏe
con người và thiệt hại nặng nề về kinh tế.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Khi kiểm tra thực phẩm về mặt vệ sinh an toàn thực phẩm, người ta đặc biệt
Page 10
Thực phẩm - Bộ Y tế, 2002).
Nước Mỹ hiện nay mỗi năm vẫn có 76 triệu ca ngộ độc thực phẩm với
325.000 người phải vào viện và 5.000 người chết. Trung bình cứ 1.000 dân có 175
người bị ngộ độc thực phẩm mỗi năm và chi phí cho 1 ca ngộ độc thực phẩm mất
1.531 đô la Mỹ (FDA, 2006 - Trích dẫn bởi Phạm Hồng Ngân, 2011).
Nước Úc có Luật thực phẩm từ năm 1908 nhưng hiện nay mỗi năm vẫn có
khoảng 4,2 triệu ca bị ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm. Trung
bình mỗi ngày có 11.500 ca mắc bệnh cấp tính do ăn uống gây ra và chi phí cho 1
ca ngộ độc thực phẩm mất 1.679 đô la Úc (Bộ Y tế, 2008).
Tại Nhật Bản, vụ ngộ độc thực phẩm do sữa tươi giảm béo bị ô nhiễm tụ cầu
vàng tháng 7 năm 2000 đã làm cho 14.000 người ở 6 tỉnh bị ngộ độc thực phẩm.
Công ty sữa Snow Brand phải bồi thường cho 4.000 nạn nhân mỗi người 20.000
yên và Tổng giám độc bị cách chức. Bệnh bò điên (BSE) ở Châu Âu (năm 2001)
nước Đức phải chi 1 triệu USD, Pháp chi 6 tỷ France. Toàn EU chi 1 tỷ USD cho
biện pháp phòng chống bệnh lở mồm long móng (2001), các nước EU chi cho 2
biện pháp “giết bỏ” và “cấm nhập” hết 500 triệu USD.
1.1.2.2. Tại Việt Nam
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) cho biết: hàng năm Việt Nam có khoảng hơn
3 triệu trường hợp nhiễm độc từ thực phẩm, gây thiệt hại hơn 200 triệu USD. Tổ chức
này cũng chỉ ra rằng lương thực, thực phẩm chính là nguyên nhân gây ra khoảng 50%
số trường hợp tử vong trên thế giới hiện nay. Ngay cả với các nước phát triển, việc ngộ
độc do lương thực, thực phẩm luôn là vấn đề bức xúc và hết sức cấp bách.
Tình trạng thực phẩm chưa được kiểm soát, kiểm dịch, kiểm tra vệ sinh
thú y, không rõ nguồn gốc, nhập khẩu tràn lan; thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn
đường phố không đảm bảo vệ sinh là nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm
cấp và mãn tính. Nhiều trường hợp ngộ độc biểu hiện ngay sau ăn uống, cũng
có trường hợp ngộ độc từ từ, triệu chứng không rõ ràng, gây ảnh hưởng lâu dài
đến sức khoẻ người tiêu dùng.
6 tháng đầu
năm 2014
Số vụ ngộ độc 2105 221 215 176 163 67
Số người mắc 3876 297 4538 4973 5000 2084
Số người tử vong 37 48 53 39 28 24
(Theo nguồn Cục An toàn vệ sinh thực phẩm - Bộ Y tế)
Ngày 1/7/2014 một vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng xảy ra tại Công ty
trách nhiệm hữu hạn dệt SHIN DONG có địa chỉ tại khu phố 5, phường Hiệp
Thành, quận 12, TP Hồ Chí Minh đã khiến gần 200 công nhân phải nhập viện sau
bữa ăn tối với các món ăn: trứng chiên thịt, rau cải xào và canh rau dền.
1.1.2.3. Tình hình hoạt động giết mổ trong cả nước
Cả nước còn 28 tỉnh, thành phố chưa có quy hoạch điểm giết mổ gia súc,
gia cầm tập trung. Việc giết mổ tràn lan đang cản trở nỗ lực trong công tác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
phòng dịch cho gia súc, gia cầm và ngăn chặn dịch bệnh lây nhiễm từ gia súc,
gia cầm sang người.
Qua số liệu báo cáo tình hình quản lý giết mổ, kiểm soát giết mổ của 52 Chi
cục Thú y các tỉnh, thành phố, Cục Thú y - Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông
thôn cho biết, tính đến 15/6/2014, tổng số cơ sở, điểm giết mổ gia súc, gia cầm tại
các địa phương nói trên là 21.254, trong đó số cơ sở giết mổ (CSGM) tập trung chỉ
là 1.018, chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (4,78%).
Theo Cục Thú y, 2014, trong số 1.018 CSGM tập trung này, các tỉnh phía Bắc
chỉ có 256 cở sở so với con số 762 cơ sở của các tỉnh phía Nam. Ngược lại, trong
tổng số điểm giết mổ nhỏ lẻ là 20.236 điểm, thì các tỉnh phía Bắc lại có 14.324 điểm,
chiếm đến 70,78% và cao gấp 2,5 lần so với phía Nam. Trong tổng số hơn 21.245 cơ
sở này, số cơ sở và điểm giết mổ được cơ quan thú y kiểm soát chỉ là 12.152.
cứu độc tố Enterotoxin gây ỉa chảy do vi khuẩn Clostridium perfringens. David,
Cook (1998) đã phân lập Salmonella typhimurium gây ngộ độc thực phẩm từ thịt
bò. Beutin và Karch (1997) nghiên cứu plasmid mang yếu tố gây dung huyết của E.
coli 0157:H7 type EDL 993. Akiko Nakama và Michinori Terao (1997) nghiên cứu
các phương pháp phát hiện Listeria monocytogene trong thực phẩm.
G.M.Jones, D.B.Grinffin, B.Jayarao đều cho rằng việc phát triển ngành chăn
nuôi công nghiệp hoá với những công nghệ mới về nuôi dưỡng, vỗ béo (các khẩu
phần cân đối, chất kích thích sinh trưởng ) đã kéo theo nhiều biến đổi về thành
phần chất dinh dưỡng ở thịt, trứng, sữa vật nuôi, biến đổi các chỉ số cảm quan, sự
tích tụ các chất tồn dư không có lợi cho sức khoẻ con người trong những sản phẩm
chăn nuôi.
Các tác giả Mahendra Maharjan et. Al (2005), Olutolani Oni et. al. (2005)
cho thấy tầm quan trọng của những khảo sát về tạp nhiễm vi khuẩn trên thịt thương
phẩm ở các chợ, các cửa hàng thực phẩm đối với sự an toàn vệ sinh cho con người.
Ngộ độc thực phẩm xảy ra do vi sinh vật diễn ra thường xuyên, ảnh hưởng không
nhỏ đến sức khoẻ người tiêu dùng, gây thiệt hại kinh tế đáng kể. Theo tài liệu của
I.Mann (1984). Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho rằng phần lớn các bệnh sinh ra từ
thực phẩm có nguồn gốc bệnh nguyên là vi khuẩn.
1.1.2.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
Theo nhận định của Cục Thú y: Thực trạng giết mổ động vật, kinh doanh thịt
và sản phẩm động vật hiện nay phần lớn phát triển một cách tự phát không có quy
hoạch, thiếu sự đầu tư đúng mức, còn mang tính chất manh mún, nhỏ lẻ và phân
tán; đặc biệt là các tỉnh miền Bắc và miền Trung gây khó khăn rất lớn cho công tác
quản lý, kiểm soát vệ sinh thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm.
Theo Trần Thị Hạnh, Tô Liên Thu - Viện Thú y, Nguyễn Thị Hoa Lý - Cục