ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=====================
PHÙNG THỊ NGÂN
MỐI QUAN HỆ GIỮA QUAN NIỆM VĂN HỌC
VÀ SÁNG TÁC CỦA CAO BÁ QUÁT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
VÀ SÁNG TÁC CỦA CAO BÁ QUÁT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Nho Thìn Hà Nội – 2014
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
4. Phương pháp nghiên cứu 12
5. Cấu trúc của đề tài 12
CHƢƠNG 1 BỐI CẢNH VĂN HÓA VĂN HỌC 13
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX có
bước phát triển vượt trội cả về số lượng và chất lượng. Đây là thời kỳ xuất hiện
hàng loạt những tác giả lớn cùng những tác phẩm tiêu biểu cho một thời đại và cho
cả nền văn học. Trong đó có những tác giả trở thành “hiện tượng” văn học và gây
được sự chú ý. Văn học thời kỳ này có sự phát triển vượt trội như vậy chủ yếu là do
những tác động, ảnh hưởng của bối cảnh xã hội. Xã hội phong kiến Việt Nam cuối
thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX là xã hội phong kiến khủng hoảng, nội bộ tranh chấp,
khởi nghĩa nông dân diễn ra nhiều nơi. Xã hội ấy không còn đủ sức kiềm tỏa con
người trong những khuôn khổ nhỏ hẹp của đạo đức nho gia. Mặt khác, sự tiếp xúc
bước đầu của văn hóa phương tây với những điều xa lạ với văn hóa phương đông
truyền thống tạo cơ hội cho con người thời kỳ này có điều kiện tiếp thu với nhiều
điều mới mẻ. Tuy vậy không thể không nhắc tới sự ảnh hưởng của những yếu tố
trong nền văn hóa Trung hoa, nhất là trong văn học. Tất cả tạo nên xu hướng coi
trọng tình cảm, coi trọng sự chân thực, tự nhiên của cảm xúc là nét chủ đạo trong
văn học Việt Nam thời kỳ này. Văn học bộc lộ cái tôi cá nhân cùng những cảm xúc
chân thật ở đầy đủ các trạng thái khác nhau thật mạnh mẽ và mãnh liệt mà những
giai đoạn trước không có được.
Lê Quý Đôn có thể coi là người đầu tiên đề cập đến vấn đề tình trong lý luận
thơ ca có hệ thống nhất và đặt mối quan hệ giữa ba yếu tố tình – cảnh – sự, trong đó
tình là quan trọng nhất. Các tác giả giai đoạn này cũng đề cập nhiều đến yếu tố tình
cảm trong thơ, thể hiện sự trân trọng tình cảm và cảm xúc chân thật. Trong thơ họ
xuất hiện nhiều cung bậc trạng thái khác nhau của cảm xúc, cái tôi cá nhân được
khẳng định mạnh mẽ và quyết liệt hơn. Như thế, sự chuyển biến trong lòng xã hội
kết hợp với những nhân tố bên ngoài đã thúc đẩy sự chuyển biến trong văn học, tạo
nền tảng cho sự biến đổi từ quan niệm con người thánh nhân quân tử trở về với con
người tự nhiên, trần thế trong văn chương. Các tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng
4
5
được những tư tưởng này chúng ta sẽ nắm được chìa khóa để tìm hiểu tác phẩm của
ông, sự thể hiện của nó trong nội dung và nghệ thuật để thấy được mối liên hệ trong
toàn bộ sự nghiệp văn chương của tác giả này, cũng như theo tiến trình lịch sử văn
học dân tộc.
Đề tài tập trung tìm hiểu hoàn cảnh văn hóa, quan niệm văn học (tập trung vào
thơ, bộ phận thể hiện hầu hết giá trị văn học) của Cao Bá Quát cùng ảnh hưởng của
quan niệm ấy đến đề tài, thể thơ và ngôn ngữ; nhất là thông qua việc nghiên cứu tìm
hiểu về lịch sử hình thành, phát triển của thuyết tính linh trong tư tưởng thi học
Trung Quốc để có thể đối sánh quan niệm văn học đề cao sự chân thật tự nhiên của
tình cảm, cảm xúc thơ Cao Bá Quát. Xét theo dòng chảy văn học dân tộc thì quan
niệm văn học này cùng những đóng góp trong sáng tác của ông được nhìn nhận sâu
sắc hơn, đồng thời với đó, xét theo mặt đồng đại cho thấy sự tiếp thu có chọn lọc
mang màu sắc văn hóa Việt trên cơ sở văn hóa - văn học Trung hoa.
Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Mối quan hệ giữa quan niệm văn học
và sáng tác của Cao Bá Quát” nhằm góp thêm một chút sức lực vào khối lượng những
công trình nghiên cứu về Cao Bá Quát, góp phần tìm hiểu thấu đáo và sâu sắc về sự
nghiệp thơ ca của nhà thơ nổi tiếng này. Do thời gian hạn chế nên luận văn mới chỉ quan
tâm đến bối cảnh văn hóa văn học, quan niệm văn chương (hạt nhân là thuyết tính linh)
và sự thể hiện quan niệm trong sáng tác của Cao Bá Quát.
2. Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu, tiếp nhận văn chương Cao Bá Quát chia làm hai giai đoạn:
trước và sau cách mạng tháng Tám - 1945. Trước cách mạng, tình hình nghiên cứu
về tác giả Cao Bá Quát nói chung, sự nghiệp văn học của ông nói riêng cũng được
chú ý. Nhìn chung các bài viết thường giới thiệu về tiểu sử, những nét khái quát về
cuộc đời và thơ văn của ông chứ chưa đi sâu nghiên cứu về tác phẩm. Một số bài
viết: Dật sử ông Cao Bá Quát (Đông Thanh tạp chí -1932), Thân thế và văn chương
hai ông họ Cao (tạp chí Văn học -1932), Một nhân vật tỉnh Bắc Ninh: ông Cao Bá
Quát (Nam Phong tạp chí -1934), Cao Bá Quát (tạp chí Tri Tân -1943)…
Cao Bá Quát đã xuất hiện. Luận văn của chúng tôi cũng theo tinh thần trên, đồng
thời cố gắng khắc phục theo khả năng có thể những điều đã nói ở trên.
7
Trên phương diện văn bản, năm 1970 đánh dấu một bước tiến mới trong việc
nghiên cứu, xử lý và công bố các tư liệu thơ văn Cao Bá Quát với công trình Thơ
chữ hán Cao Bá Quát, gồm 156 bài thơ cả chữ Hán và chữ Nôm. Tác giả Nguyễn
Lộc đã đánh giá công trình này như sau: “chính nhờ giới thiệu rộng rãi thơ chữ hán
của Cao Bá Quát như thế nên việc đánh giá nhà thơ trong giới nghiên cứu cũng như
đông đảo công chúng mới ngày càng được chính xác ”. Từ năm 2000 trở lại đây
xuất hiện những công trình lớn thực hiện việc biên soạn, dịch thuật, giới thiệu tác
giả và tác phẩm Cao Bá Quát khá đầy đủ. Đáng chú ý là cuốn sách Cao Bá Quát
toàn tập (tập 1, tập 2) do tác giả Mai Quốc Liên chủ biên cung cấp nguyên văn chữ
Hán, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ của 1.353 bài thơ chữ Hán (một số bài thơ
không có phần dịch thơ) và một số tác phẩm văn xuôi, truyện ngắn, thuyết, tự, văn
tế, câu đối; Cuốn sách Thơ văn Cao Bá Quát (2010) do tác giả Vũ Khiêu chủ biên
và viết lời giới thiệu trên cơ cở phát triển cuốn sách Thơ chữ hán Cao Bá Quát, có
bổ sung thêm một số bài thơ, văn xuôi, thơ phú nôm, giai thoại, đặc biệt nêu rõ thời
gian sáng tác thơ qua đó giúp người đọc nhìn nhận dễ dàng hơn đặc điểm thơ của
Cao Bá Quát trong từng thời kỳ. Cũng trong cuốn sách này trích dẫn một số bài
nghiên cứu tiêu biểu ở các thời kỳ, trên các khía cạnh khác nhau về quan niệm văn
chương, giá trị nội dung và nghệ thuật đưa đến cái nhìn toàn cảnh về sáng tác văn
chương của ông. Đây là những công trình có ý nghĩa quan trọng giúp người đọc tiếp
xúc đầy đủ và chính xác hơn với các sáng tác của Cao Bá Quát, tạo tiền đề thuận lợi
cho việc nghiên cứu toàn diện và sâu sắc sự nghiệp văn học của ông sau này .
Khi nhắc tới các công trình nghiên cứu về Cao Bá Quát phải nhắc tới công
trình Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam (1995) của tác giả Trần Ngọc Vương. Tuy
đây không phải là công trình chuyên biệt về Cao Bá Quát nhưng nó có ý nghĩa quan
trọng trong việc đánh giá về loại hình nhà nho mới bên cạnh những loại hình truyền
thống mà Cao Bá Quát là tiêu biểu. Qua công trình này, hình ảnh Cao Bá Quát –
quan niệm với nội dung mà Cao Bá Quát thể hiện trong thơ. Hơn nữa tác giả cho
rằng quan niệm văn chương Cao Bá Quát có được chủ yếu là do tư tưởng tự tin,
sáng tạo của chính tác giả mà bỏ qua vai trò của yếu tố quan trọng là sự tiếp thu lý
luận văn học Trung hoa.
Tác giả Nguyễn Thanh Tùng có bài nghiên cứu Vài nét về thuyết tính linh
trong tư tưởng thi học Việt Nam thời trung đại trình bày khá hệ thống quan niệm về
9
tính linh ở Trung hoa, Việt Nam và có đề cập vai trò của Cao Bá Quát là người đưa
tính linh thành lý thuyết thực thụ. Trong khuôn khổ bài nghiên cứu tác giả mới chỉ
nêu lên, chưa chỉ ra luận điểm rõ ràng. Năm 2010, Nguyễn Thanh Tùng trong luận
án tiến sĩ của mình là Sự phát triển tư tưởng thi học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế
kỉ XIX có phát triển những luận điểm trong bài viết trên khá sâu sắc từ sự nảy sinh,
phát triển của lý thuyết này ở Trung hoa và những đặc điểm, nội dung của nó thể
hiện cụ thể trong các tác giả trung đại Việt Nam. Thuyết tính linh ở đây được nhắc
đến với vai trò là một trong số những lý thuyết được hình thành và phát triển trong
văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX và trong tổng thể các tư tưởng thi
học của cả thời kỳ văn học trung đại Việt Nam. Nói riêng về quan niệm tính linh
của Cao Bá Quát, Nguyễn Thanh Tùng chỉ ra luận điểm đề cao chữ tình trong thơ,
phê phán lối thơ bắt chước, mô phỏng phổ biến trong văn chương đương thời và chỉ
ra được sự ảnh hưởng từ quan niệm tính linh của Viên Hoằng Đạo, Viên Mai
(Trung Quốc) đến quan niệm tính linh của Cao Bá Quát. Dẫu vậy, trong khuôn khổ
luận án về tư tưởng thi học của mười thế kỷ văn học trung đại, quan niệm tính linh
của Cao Bá Quát được đề cập trong hai trang văn bản thì chưa thể hiện đầy đủ quan
niệm và ý nghĩa tích cực về tính linh của tác giả Cao Bá Quát.
Tác giả Nguyễn Thanh Tùng là một trong số những tác giả theo hướng nghiên
cứu khái quát toàn bộ hệ thống quan niệm văn học Việt Nam thời trung đại. Tác giả
Phương Lựu cùng công trình Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung
đại có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu tư tưởng thi học trung đại Việt Nam.
Tác giả đã xây dựng hệ thống quan niệm văn học theo tiến trình lịch sử, có đề cập
đóng góp văn chương của Cao Bá Quát trong lịch sử văn học dân tộc. Việc nghiên
cứu một cách thống nhất biện chứng ba vấn đề (quan niệm văn học thể hiện thống
nhất ở nội dung và hình thức) giúp hình thành nên đặc điểm phong cách nghệ thuật
trong sáng tác của ông. Đặt trong tiến trình văn học dân tộc nói chung, bối cảnh văn
hóa văn học của thời đại đó nói riêng càng khẳng định đây việc làm cần thiết, có ý
nghĩa khoa học. Trong luận văn này, chúng tôi không tham vọng làm được tất cả
mọi vấn đề nhưng việc nghiên cứu “mối quan hệ giữa quan niệm văn học và sáng
tác của Cao Bá Quát”, trong đó chúng tôi đi sâu nghiên cứu bối cảnh thời đại, nguồn
gốc những quan niệm, sự ảnh hưởng và phản ánh của quan niệm văn học đó đến
11
việc lựa chọn đề tài, thể thơ và ngôn ngữ, đích cuối cùng là hình thành nên cái nhìn
toàn diện về phong cách của nhà thơ tài tử này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là “Mối quan hệ giữa quan
niệm văn học và sáng tác của Cao Bá Quát”. Để làm rõ đối tượng và phạm vi
nghiên cứu này, đề tài của chúng tôi tập trung nghiên cứu ba vấn đề lớn sau:
Thứ nhất là bối cảnh văn hóa văn học, bao gồm những nét lớn về văn hóa xã
hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, nhất là khi
triều đình nhà Nguyễn thống nhất đất nước, ổn định chính trị, xã hội và thi hành
nhiều biện pháp có liên quan chặt chẽ đến xã hội nói chung, văn học giai đoạn này
nói riêng. Trong bối cảnh đó, Cao Bá Quát đưa ra quan niệm về tính linh, đề cao
chữ tình, sự chân thật của cảm xúc đối lập với văn học hoàng phái nhà Nguyễn, phê
phán lối thơ bắt chước, thiếu tính chân thực và cá tính. Từ đó giúp người đọc hình
dung sự tiếp nối, khu biệt trong tư tưởng văn học của Cao Bá Quát với đương thời.
Thứ hai là thuyết tính linh trong lý luận văn học Trung quốc, văn học Việt
Nam, đặc biệt là thuyết tính linh trong quan niệm sáng tác của Cao Bá Quát. Để giải
quyết được vấn đề này, chúng tôi sẽ tìm hiểu những tư liệu, nhất là qua các tác giả
và các tác phẩm tiêu biểu trực tiếp đề cập đến sự hình thành, phát triển của quan
niệm này trong lý luận văn học Trung hoa và văn học trung đại Việt Nam. Ở Việt
cùng sự thể hiện của nó trong sáng tác của Cao Bá Quát.
- Phương pháp so sánh chúng tôi đặc biệt sử dụng để nhấn mạnh điểm khác
biệt và cũng là điểm nổi bật trong sáng tác của Cao Bá Quát so với một số các tác
giả nổi tiếng khác trong nền văn học trung đại về nội dung và hình thức.
5. Cấu trúc của đề tài
Tương ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận văn chia thành 3 chương:
Chương 1. Bối cảnh văn hóa văn học
Chương 2. Quan niệm văn học của Cao Bá Quát
Chương 3. Sáng tác của Cao Bá Quát 13
CHƢƠNG 1 BỐI CẢNH VĂN HÓA VĂN HỌC
1.1 . Bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – đầu
thế kỷ XIX
Việt Nam cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX là thời kỳ diễn ra những chuyển
biến to lớn. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn phá vỡ tình trạng cát cứ hai miền kéo dài gần
hai trăm năm. Sau đó là cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh chấm dứt
với sự sụp đổ của nhà Tây Sơn. Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802 đưa nước ta vào
thời kỳ thống nhất dưới sự trị vì của triều Nguyễn. Thời gian lịch sử nửa cuối thế kỷ
XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX có một số điểm khác biệt. Tuy nhiên giữa hai mốc
thời gian này có nhiều điểm tương đồng về mặt văn hóa xã hội, đặc biệt là văn học.
Trong luận văn này, chúng tôi tập trung phân tích những vấn đề có liên quan trực
tiếp nội dung luận văn chúng tôi triển khai.
Lịch sử triều Nguyễn về cơ bản chia thành hai giai đoạn trước và sau khi Pháp
xâm lược. Niên biểu tác giả Cao Bá Quát (1808 – 1855) nằm trọn trong giai đoạn
đầu khi triều Nguyễn độc lập cũng là thời kỳ nhà Nguyễn được đánh giá có nhiều
thường trong xã hội. Các ông vua nhà Nguyễn cũng chú trọng việc lập các trường
học ở phủ huyện để xây dựng nền giáo dục, mở mang kiến thức và học vấn trong xã
hội, thông qua đó đào tạo người tài, quan lại trên nền tảng đề cao tinh thần đạo đức
nhà nho duy trì từ những thế hệ trước.
Nội dung giáo dục cũng chưa thay đổi so với các thời đại trước. Minh Mạng
khẳng định “trước hết phải giảng ngũ kinh và tứ truyện để hiểu rõ nghĩa lý rồi giảng
đến sách chư, tử và chư sử để thông hiểu lý sự, cứ mỗi tháng bốn lần khảo hạch
hoặc học thêm văn thù phụng mà làm ra bài hỏi về những việc đời nay” [25, tr.83].
Không khí học tập thực hành các luân lý, đạo đức Nho giáo dấy lên mạnh mẽ.
Trong thời đại Nho giáo giữ vị trí chính thống và chi phối hệ tư tưởng thì chắc chắn
nội dung việc học không thể khác biệt với tư tưởng Nho giáo, coi trọng lễ nghĩa, coi
trọng văn. Văn có vai trò xứ mệnh cao cả, ở vị trí giúp vua dẫn đến quan niệm sùng
bái văn chương, sùng bái nội dung về văn trong nền giáo dục.
Cùng với việc quan tâm giáo dục thì thiết chế có ý nghĩa quan trọng để tăng
cường củng cố cho Nho giáo chính là việc nhà Nguyễn tổ chức các kỳ thi tuyển
chọn quan lại bằng con đường văn chương. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự
15
phát triển của văn học. Xuất phát từ quan niệm Nho giáo, văn chương là linh thiêng,
có vị trí - chức năng xã hội tạo thành không khí sùng bái văn chương. Nhìn tổng thể
văn học nước ta theo chiều dài lịch sử, đặc biệt ở triều Nguyễn khi Nho giáo được
độc tôn trở lại thì những yếu tố của cá nhân ít nhiều bị hạn chế, và mở ra sự phát
triển mạnh của văn học chính thống hướng về triều đình, phục vụ những giáo lý cơ
bản của chế độ quân chủ đề cao vua và đạo đức nhà nho. Lý do chọn văn chương là
nội dung khoa cử có quan hệ thống nhất với quan niệm về văn chương. Xuất phát từ
cách thức cai trị bằng giáo hóa của nhà nước phong kiến chuyên chế (văn là công cụ
thực thi giáo hóa), từ lề lối cai trị, cung cách cai trị của ông quan (sản phẩm của
khoa cử), người ta đã chọn văn làm nội dung để chọn người tài, lấy văn làm thước
đo năng lực trình độ học vấn cũng như khả năng quản lý xã hội của nho sĩ- vị quan.
Văn chương được đồng nhất với tri thức. Đối tượng được lựa chọn phải là những
mình đề ra các đề thi Đình, tạo ra các đề tài cho đình thần ứng đối. Trong bối cảnh
đó hàng loạt các bài thơ ngự chế của vua quan ra đời. Bản thân các vua Nguyễn, các
hoàng thân nhà Nguyễn cũng ham thích thơ văn và cũng có tài văn chương. Những
tác giả tiêu biểu cho dòng văn học nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,
Miên Thẩm, Miên Trinh, Miên Bửu… Xuất phát từ nguyên nhân chủ quan (yêu
chuộng văn thơ) của hoàng phái nhà Nguyễn kéo theo đội ngũ quan lại văn thần
đông đảo hưởng ứng tạo nên không khí sáng tác, bình phẩm văn chương sôi nổi.
Trong xã hội trọng văn, người làm văn đồng thời là nhà nho trong ngàn năm lịch sử
quen nghiên cứu nghiền ngẫm sách vở kinh viện nho giáo, ít chú trọng đến những
vấn đề tìm kiếm cái mới cả về nội dung lẫn hình thức. Dù nội dung có chứa những
nhận thức hay tình cảm, cảm xúc thì nó vẫn giữ gìn cho có trừng mực đúng chính
đạo. Về nghệ thuật quan tâm sự tìm tòi trong thế gọt giũa tìm câu tìm chữ cho phù
hợp, nhắc lại mà không sáng tạo. Không thể phủ nhận hoàn toàn loại văn chương
này nhưng giá trị của nó không lớn đối với sự phát triển của nền văn học nói chung.
Tuy nhiên sự ảnh hưởng của bộ phận hay một dòng văn học không bao trùm toàn bộ
giá trị của cả nền văn học. Đặc biệt trong giai đoạn thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX với
sự phát triển nhiều dòng văn học khác nhau, chưa từng xuất hiện trong các giai đoạn
văn học trước đó, không chỉ có xu hướng đối lập với dòng văn học cung đình mà
cho thấy sự phát triển của cả nền văn học Việt Nam giai đoạn này với những thay
đổi, phát triển phù hợp với tiến trình lịch sử.
17
Nói đến xã hội triều Nguyễn không thể không nhắc tới quan hệ giữa triều
Nguyễn với phương tây. Việc triều Nguyễn “đóng cửa” trong quan hệ với phương
tây và tiếp thu những ảnh hưởng của văn hóa Trung hoa đã được thừa nhận. Hiện
nay đã có nhiều thay đổi trong cách đánh giá về triều Nguyễn trên các phương diện.
Nguyễn Ánh, vị vua sáng lập triều Nguyễn cũng là người chủ động hợp tác với
Pháp xuất phát từ mục đích muốn khôi phục lại giang sơn nhà Nguyễn, lợi dụng ưu
thế kinh tế, kỹ thuật chiến thắng nhà Tây Sơn. Trong lịch sử Việt Nam thì Nguyễn
Ánh là người có quan hệ hợp tác với phương tây khá toàn diện trên các phương diện
nhân đã tạo hương sắc mới cho thời kỳ này và thể hiện rõ trong những sáng tác văn
học của họ. Cao Bá Quát là trường hợp tiêu biểu. Hơn nữa việc Cao Bá đi dương
trình hiệu lực được tận mắt chứng kiến những điều xa lạ, thể hiện trong văn chương
của mình với những tư tưởng, nhận thức mới so với thời đại của ông chính là sản
phẩm của sự tiếp thu văn hóa của con người cởi mở, đầy cá tính.
Triều Nguyễn độc tôn Nho giáo nhưng thời kỳ này vẫn có sự tồn tại và phát
triển của Phật giáo, Đạo giáo tạo nên đời sống tinh thần đa dạng. Nho giáo quay trở
lại vị trí độc tôn nhưng tư tưởng của lớp nho sĩ đã có sự chuyển biến, họ không
tuyệt đối tin theo những giáo lý Nho giáo như trước đây. Tác giả Nguyễn Thanh
Tùng cho rằng tư tưởng của giai đoạn này là “tam giáo đồng nguyên”, “cư nho mộ
thích” mà bản chất của hai tư tưởng này khác biệt không lớn bởi “tam giáo nhưng
thực chất là tam giáo dưới cái nhìn của Nho giáo. Phật, Đạo chỉ có thể gây ra ảnh
hưởng qua con đường ảnh hưởng của Nho giáo” [39, tr.104]. Thực tế Phật, Đạo chỉ
có thể gây ảnh hưởng qua Nho là điều đó chưa chẳn. Nho giáo là học thuyết chính
trị, đạo đức, là đạo lý nhập thế vốn không phải là tôn giáo. Vì vậy họ tìm đến Phật,
Đạo để “bù đắp” những thiết hụt trong đời sống mà Nho giáo không đưa lại. Tác giả
Nguyễn Huệ Chi khi nghiên cứu về đặc trưng của văn học trung đại Việt Nam nhấn
mạnh “văn học cổ Việt Nam chịu sự chi phối của ba hệ thống tư tưởng tôn giáo Phật
giáo, Đạo giáo và Nho giáo… Ở những chặng đường sau tuy có lúc Nho giáo giữ vị
trí độc tôn nhưng chưa bao giờ Đạo giáo và Phật giáo mất hẳn địa vị trong việc
nâng đỡ tinh thần và cảm hứng cho mọi thế hệ người cầm bút viết văn” [4, tr.1000].
Cũng có nghĩa ảnh hưởng của Phật, Đạo trong tư tưởng tầng lớp trí thức không thể
mạnh như Nho nhưng sự tồn tại của chúng tách biệt trong khoảng cách nhất định và
sự ảnh hưởng là khác nhau chứ không phải chỉ dựa vào Nho, thông qua Nho. Trong
19
đó Nho giáo với lịch sử tư tưởng tồn tại lâu bền trong nhà nho thì luôn chiếm vị trí
hàng đầu.
Sự phức tạp không chỉ diễn ra trong đời sống tư tưởng xã hội mà bản thân tầng
lớp nho sĩ thất vọng, đổ vỡ đối với lý thuyết của Nho giáo. Sự tồn tại của tam giáo
định chính xác nhất về ý nghĩa quan niệm văn chương của ông.
Đánh giá về triều Nguyễn cần nhìn nhận vào sự thật lịch sử để đưa ra cái nhìn
toàn cảnh, khách quan hơn. Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng kéo dài
gần 150 năm đã đóng góp nhiều giá trị, nhất là với những vị vua đầu triều Nguyễn
trước khi thực dân Pháp xâm lược. Việc nhà Nguyễn khôi phục Nho giáo bị coi là
cổ hủ, thậm chí là phản động trên quan điểm phản phong bởi mục đích của nó là
bảo vệ giai cấp, bảo vệ triều đại phong kiến. Nhưng ngay tại thời điểm đó chưa xuất
hiện học thuyết hay tôn giáo, đường lối cai trị nào tỏ ra ưu thế vượt trội hơn so với
Nho giáo. Gia Long cố gắng xây dựng chính quyền quân chủ mạnh và thiết lập triều
đại để củng cố sự thống trị về cương vực lãnh thổ từ bắc tới nam như hiện nay là
đóng góp đáng ghi nhận. Những di sản văn hóa tinh thần mà triều Nguyễn để lại rất
giá trị. Sự khủng hoảng kinh tế xã hội, sự thất bại trước thực dân Pháp xâm lược cho
thấy hạn chế của triều Nguyễn nhưng không thể phủ định sạch trơn những đóng góp
của triều đại này.
1.2. Đời sống văn học
Trong nhiều thế kỷ Thăng Long là kinh đô nhà nước, nơi tập trung hoạt động
chính trị, văn hóa cũng là trung tâm văn học của nước ta. Văn học được phát triển
dưới sự bảo trợ của triều đình phong kiến, phục vụ cho những mục đích của triều
đại. Bản thân các tác giả văn học thi cử quan lại bằng văn là một trong nhân tố quan
trọng tạo nên sự phát triển văn học và những thể loại văn học – chính trị nhà nước.
Suốt thời kỳ dài của lịch sử chứng kiến sự tồn tại của trung tâm chính trị - văn học
Thăng Long nhưng tình hình thay đổi cùng với những biến động của tình hình đất
nước khi Nguyễn Ánh lên ngôi lấy Phú Xuân - Huế làm kinh đô.
Văn học không phải là sự minh chứng của lịch sử nhưng nó chịu ảnh hưởng
của lịch sử, chính trị, kinh tế của đất nước. Thế kỷ XVII – VXIII đánh dấu sự phân
chia quyền lực, lãnh thổ giữa vua Lê chúa Trịnh đàng ngoài và chúa Nguyễn đàng
trong dẫn tới sự thay đổi của không gian văn học. Ở đàng ngoài Thăng Long vẫn là
trung tâm văn học xứ bắc nhưng xứ đàng trong hình thành nên trung tâm văn học
21
gian văn học diễn ra ở thế kỷ XVII với sự kiện Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa trong
22
xu hướng muốn tạo độc lập với chính quyền đàng ngoài và một phần trong sự độc
lập đó là sự chuyển dịch của văn học mang những đặc điểm riêng bởi nó chịu sự chi
phối của tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hóa đàng trong. Tuy nhiên việc định danh
bằng một tên gọi chính thức cho không gian văn học này vẫn chưa có sự thống nhất.
Tác giả Cao Tự Thanh định danh văn học đàng trong gắn với không gian địa –
chính trị của khu vực rộng lớn. Nếu chỉ nhìn nhận văn học theo góc nhìn địa lý thì
chưa thể chính xác bởi vùng đất Nam Bộ gồm Gia Định, Hà Tiên hình thành muộn
hơn so với Thuận Hóa và có những nét riêng trong đời sống văn hóa tinh thần của
vùng đất mới được khai phá. Tác giả Trần Nho Thìn nhận xét chính xác rằng “khả
năng ảnh hưởng hạn chế của triều đình trung ương trong ý đồ nhất thể hóa mọi mặt
đời sống, kể cả đời sống văn hóa tư tưởng ở các vùng miền do không gian đất nước
quá rộng so với trình độ kỹ thuật rất hạn chế, do truyền thống văn hóa, đặc trưng
riêng của các vùng miền mà lịch sử để lại…”[33, tr.632]. Nếu gọi là văn học Thừa
Thiên-Huế hình thành từ đời sống văn hóa tinh thần của đất Thuận Quảng trong vai
trò trung tâm văn học giống như Thăng Long thì chưa bao quát hết phạm vi không
gian. Nói cách khác sự xuất hiện của vùng văn học Thuận Quảng với trung tâm là
Phú Xuân - Huế, chủ lưu văn học của hoàng phái nhà Nguyễn có ảnh hưởng nhất
định đến nền văn học thời kỳ này. Sự chuyển dịch không gian văn học này xuất hiện
từ thế kỷ XVII –XVIII nhưng đến thời điểm đầu thế kỷ XIX khi Gia Long lên ngôi,
tổ chức triều đại độc lập thống nhất toàn cõi Việt Nam thì không gian văn học này
chính thức được xác lập. Dòng văn học cung đình Huế đầu thế kỷ XIX khi triều
đình nhà Nguyễn cố gắng khẳng định địa vị của mình, xây dựng chính quyền đất
nước, độc tôn Nho giáo đã quy tụ một số tác giả lớn phía bắc thi cử và làm quan ở
đây (Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Văn Siêu…) tạo nên
không khí văn học sôi nổi. Việc nghiên cứu vùng văn học này trong tương quan với
nền văn học dân tộc cũng như đối chiếu với tác giả Cao Bá Quát sẽ cho chúng ta
thấy được những khác biệt cũng như tại sao hình thành những đặc điểm văn chương
em Miên Thẩm gồm Trọng Khanh, Thúc Khanh, Quý Khanh) được Miên Thẩm
“giáo dục tận tâm” trở thành ba nữ thi sĩ (dẫn theo tác giả Lê Quang Thái trong
cuốn Nghiên cứu Huế). Điều đó cho thấy bản thân người đứng đầu Mặc Vân thi xã
có vai trò nhất định (thường gọi là mạnh thường quân) có ảnh hưởng không chỉ
trong tầng lớp hoàng tộc mà còn đối với một số quan lại, bậc đại khoa, hoàng thân