1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ THỊ HOÀI THU
TÌM HIỂU SẮC THÁI DỤC TÍNH TRONG
“TRUYỀN KỲ MẠN LỤC”
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS Trần Ngọc Vƣơng
Hà Nội - 2014 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÌM HIỂU
VẤN ĐỀ SẮC THÁI DỤC TÍNH TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 17
1.1. Khái niệm dục tính và dục tính trong văn hóa cổ trung đại 17
1.1.1. Khái niệm dục tính 17
1.1.2 Dục tính trong văn hóa cổ trung đại 20
1.2. Vấn đề dục tính trong văn học 24
1.2.1. Dục tính trong văn học thế giới 24
1.1.2. Vấn đề dục tính trong văn học trung đại Việt Nam 30
1.3. Một số nét khái quát về tác giả Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục 38
1.3.1. Tác giả Nguyễn Dữ 38
1.3.2. Vài nét về Truyền kỳ mạn lục 41
1.4. Tiểu kết 45
CHƢƠNG 2: BIỂU HIỆN CỦA SẮC THÁI DỤC TÍNH TRONG TRUYỀN
KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ 47
2.1. Dục tính biểu hiện qua đề tài 47
2.2. Dục tính biểu hiện qua các nhân vật 59
2.3. Dục tính biểu hiện qua những biểu tượng dục tính 70
2.4. Tiểu kết 74
CHƢƠNG 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN SẮC THÁI DỤC TÍNH TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ 76
3.1. Yếu tố kỳ ảo 76
3.2 Ngôn ngữ nhân vật 83
3.3. Ngôn ngữ thơ 86
chẽ của Nho giáo như tam tòng, tứ đức. Họ còn bị coi như nguồn gốc của sự cám
dỗ, đe dọa đạo đức. Những tư tưởng của nho giáo đối với người phụ nữ thực chất là
sự tước đoạt quyền lợi của nữ giới và tạo nên một xã hội vận hành theo kiểu nam
quyền. Người đàn ông thống ngự nữ giới và áp đặt các chuẩn mực của họ về cái
đẹp, về đức hạnh.Vấn đề dục tính được coi là bản năng vốn có, một phần quan trọng
trong đời sống con người lại bị xem như một trong những điều cấm kỵ. Vì vậy trong
các sáng tác thơ văn của các nhà nho rất hiếm có hình ảnh người phụ nữ và vấn đề 6
tình dục xuất hiện. Nhưng trong tác phẩm của mình, Nguyễn Dữ đã đề cập đến vấn
đề này. Là một nhà Nho, Nguyễn Dữ vẫn đứng trên lập trường đạo đức của Nho gia
để nhìn nhận, đánh giá con người, những vấn đề của con người trên quan điểm đạo
đức. Tuy nhiên, một tác giả văn học lớn luôn có tinh thần nhân đạo cao cả, Nguyễn
Dữ trong không ít trường hợp, dù là vô thức hay có ý thức đã đưa những dòng ngợi
ca vẻ đẹp, tình yêu, hạnh phúc cá nhân, đề cao những khát vọng, nhu cầu của người
phụ nữ. Những câu chuyện tình trong tác phẩm đã làm “xôn xao cả cõi trần thế, cả
chốn thủy cung, cả nơi thiên giới. Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây là một bài ca đầy huyền
ảo về tình yêu nhục cảm”[26 ]. Quan niệm chính thống xem văn chương dùng để
thể hiện “tâm, chí, đạo” dường như không còn nữa khi Nguyễn Dữ miêu tả những
cuộc tình si mê đắm đuối đậm màu sắc dục công khai quyền sống của người phụ nữ
về thân xác.
Như vậy, chúng ta thấy văn hóa nhà nho là văn hóa thanh giáo, tiết dục thế
mà Truyền kỳ mạn lục lại là tập truyện có nhiều chất dục tính. Hơn nữa Truyền kỳ
mạn lục là một trường hợp đặc biệt ở chỗ tác giả nhà Nho vừa tuân thủ những
nguyên lý đạo đức Nho gia, lại vừa có thể phá vỡ những nguyên lý ấy ở mức độ
nhất định để đến với vấn đề dục tính trong phạm vi mà thời đại cho phép. Vấn đề
này đã được người nhiều người quan tâm nhưng đánh giá vai trò, ý nghĩa giải thích
cho hệ thống, có lí luận về hiện tượng này vẫn còn là điều cần tiếp tục bàn luận.
Chính vì vậy việc nghiên cứu hệ thống đề tài này là một việc làm hết sức cần thiết.
Nguyễn Dữ.
Đến thế kỷ XVIII- XIX, nhiều học giả nổi tiếng đã từng ca ngợi Truyền kỳ
mạn lục.Vũ Khâm Lân trong Bạch Vân am cư sĩ phả kí đã đánh giá Truyền kỳ mạn
lục là một “thiên cổ kì bút”, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí thì
khen tác phẩm là “áng văn hay của bậc đại gia”[8 ], Lê Quí Đôn trong Kiến văn
tiểu lục ca ngợi văn chương Truyền kỳ mạn lục với “ lời lẽ thanh tao,tốt đẹp, người
bấy giờ lấy làm ngợi khen”[16]. Những lời nhận định đó đã khẳng định vị trí, vai
trò của Truyền kỳ mạn lục trong nền văn học Việt Nam.
Nhiều công trình nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục theo thời gian dần tăng
lên. Từ những năm sáu mươi của thế kỷ XX, Truyền kỳ mạn lục đã được dịch ra 8
tiếng Nga và các nhà nghiên cứu khoa học nước ngoài như Nhật Bản, Korea, Đài
Bắc… và các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm nghiên cứu tác phẩm này.
Có những bài viết, công trình nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục chủ yếu đi vào
tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của tác giả, về văn bản, về những bản dịch bởi đây
là tác phẩm văn học trung đại, tài liệu ghi chép lưu truyền phần nhiều bị thất lạc. Có
thể kể đến là: Bài viết “Vấn đề tên tác giả Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Quang
Hồng “Nguyễn Dữ hay Nguyễn Tự ?”[23]; “Bàn thêm tên tác giả - tác phẩm Truyền
kỳ mạn lục”[24] của Lại Văn Hùng; “Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời
điểm sáng tác Truyền kì mạn lục”[25] của Nguyễn Phạm Hùng”; “Bàn thêm cách
gọi tên tác giả và tác phẩm Truyền kì mạn lục”[41] của Phạm Luận …
Có những bài viết, công trình nghiên cứu chủ yếu đi vào tìm hiểu các nguồn
ảnh hưởng đến Truyền kỳ mạn lục. Nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về mối
quan hệ giữa Truyền kỳ mạn lục với các tác phẩm của Trung Quốc, Hàn Quốc như
Ca tỳ tử (Otogiboko)và Vũ nguyệt vật ngữ (Ugetsumonogatan) với Truyền kì mạn
lục[58] của Nguyễn Thị Oanh; “Đề tài tình yêu trong Kim ngao tân thoại của Hàn
Quốc (So sánh với Truyền kì mạn lục của Việt Nam)” [65] của Kim Seona; “Lược
đồ quan hệ tiểu thuyết Hán Nôm Việt Nam và tiểu thuyết cổ các nước trong khu
thể loại…), nhưng vẫn thể hiện sức sáng tạo khéo léo và tài năng nghệ thuật của
mình mà còn phải quan tâm đến một hiện tượng có tính quy luật của văn học trung
đại. Đó là nhiều mô típ folklore, các type truyện dân gian của Việt Nam, Trung
Quốc khá gần gũi nhau. Đó cũng là hiện tượng tồn tại trong nhiều nền văn học thế giới .
Về vấn đề dục tính trong Truyền kỳ mạn lục qua tìm hiểu tư liệu, chúng tôi
thấy đã được một số nhà nghiên cứu như Bùi Kỷ, Bùi Duy Tân, Trần Đình Sử,
Phạm Tú Châu, Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Phạm Hùng, Trần Nho Thìn, Trần
Ích Nguyên… bàn đến trong các bài viết và công trình nghiên cứu của mình. Các
nhà nghiên cứu đã cho rằng Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm có yếu tố dục tính, việc
thể hiện dục tính trong tác phẩm của Nguyễn Dữ mang tính chất lưỡng phân và bày
tỏ nhận định khác nhau về vấn đề này.
Có những nhà nghiên cứu đứng trên quan điểm đạo đức để bày tỏ thái độ
không đồng tình về vấn đề dục tính trong Truyền kỳ mạn lục. Nhà nghiên cứu Bùi
Kỷ trong Truyền kỳ mạn lục với Lời giới thiệu Truyền kỳ mạn lục (bản dịch của 10
Trúc Khê Ngô Văn Triện xuất bản năm 1940) đứng trên lập trường nhà Nho để nhìn
nhận nhân vật đã bàn về vấn đề dục tính trong truyện. Ông cho rằng: “Truyện 3
(Chuyện cây gạo), cũng như truyện 5 (Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây), truyện 11
(Chuyện yêu quái ở Xương Giang) có ý bài xích những thói đắm đuối trong vòng
tình dục của bọn thiếu niên” [82,tr.234]. “Bọn thiếu niên” mà ông muốn nói đến ở
đây là nhân vật nam và nữ. Những tác phẩm có màu sắc dục tính đó là để phê phán
chứ không đồng tình với dục tính.
Giáo sư Bùi Duy Tân trong bài nghiên cứu Truyền kỳ mạn lục, một thành tựu
của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán cũng cho rằng những hành động táo bạo
và phóng túng của kiểu người phụ nữ như Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo, Đào
Hồng Nương, Liễu Nhu Nương trong Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây là “thật xa lạ với
quan niệm lành mạnh về cuộc sống, về tình yêu nam nữ trong truyện Nôm bình dân,
trong văn nghệ dân gian. Đối với những truyện này, Nguyễn Dữ đã có lời bình để
thuỷ cung, và cả nơi thiên giới" [26,tr.117].Ông đã đưa ra một số nhận định về vấn
đề dục tính: Một quan niệm mới về việc phản ánh con người đã xuất hiện. Truyền kỳ
mạn lục là như vậy. Nó ca ngợi vẻ đẹp của con người, cả về vật chất và tinh thần.
Những hình ảnh da thịt hồng hào, tươi tốt, hở hang rất dễ gặp trong tác phẩm này.
Những dục vọng, ước muốn thoát ra ngoài sự tỏa chiết của tư tưởng Nho gia về “tu,
tề, trị, bình” với người quân tử, “công, dung, ngôn, hạnh” đối với người phụ nữ
phong kiến cũng rất dễ gặp ở đây. Con người, đó không phải là những tấm gương
chói lòa về các anh hùng, liệt nữ lưu danh sử sách mà là những con người của đời
sống thực tế sôi động, cay nghiệt”[26,tr.501]. Nhận định này của ông thiên về ca
ngợi mà không thấy hạn chế nhất định trong những hình tượng này cũng như trong
tư tưởng Nguyễn Dữ. Nhận định này có phần cực đoan, bởi lẽ, tuy Nguyễn Dữ đã
có nhiều điểm nhân văn tiến bộ hơn so với nhà Nho đương thời nhưng những nhân
vật của ông ở một chừng mực nhất định vẫn được khen, chê theo tiêu chí Nho gia,
những khát vọng mang hơi hướng vật chất trong truyện không được Nguyễn Dữ
công khai ca ngợi, thậm chí ít nhiều còn bị ông phê phán.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung
đại chỉ ra rằng: Trong thế giới truyền kỳ, người đọc được tiếp xúc với các nhân vật
chỉ xuất hiện trong tưởng tượng…Đó là thế giới vừa hư vừa thực, có cả cái thấp 12
hèn và cái cao thượng, có cả ma và thánh, quỷ và tiên… Đồng thời có cả những
sinh hoạt thường ngày có ái ân, tình dục, ghen tuông, đố kỵ, lọc lừa”[46]. Ông
khẳng định giá trị độc đáo riêng biệt của Truyền kỳ mạn lục: “Nếu Lê Thánh Tông
hướng văn học vào việc phản ánh con người, lấy con người làm đối tượng và trung
tâm phản ánh thì Nguyễn Tự đi xa hơn một bước: phản ánh số phận con người, chủ
yếu là số phận mang tính chất bi kịch của người phụ nữ. Nhờ đó mà Nguyễn Tự đã
mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam thời trung đại. Thông qua
số phận các nhân vật, Nguyễn Tự đi tìm giải pháp xã hội: Con người phải sống ra
sao để vươn tới hạnh phúc, để nắm bắt được hạnh phúc? Hạnh phúc tồn tại ở đâu:
chữ Hán của Việt Nam cũng đã chỉ ra những dấu hiệu của việc miêu tả tình dục
trong Truyền kỳ mạn lục và cho rằng với điều đó đã đánh dấu bước tiến của văn
chương nhà nho trong quan niệm mới về con người nhưng bà vẫn nhận thấy những
hạn chế của Nguyễn Dữ khi thể hiện vấn đề này: “Tuy nhiên phần miêu tả "xuân
khuê tình trạng" bằng những "diễm từ tuyệt cú, khúc tận kì diệu" ấy chỉ được ông
khuôn trong cuộc mây mưa giữa kẻ "thất phu đa dục". Trình Trung Ngộ, kẻ "đồng
tâm đa dục" Hà Nhân với những dâm quỉ, hoa yêu để rồi sau đó lời cảnh giới, qui
châm có lợi cho thế giáo mới có dịp phát biểu ở phần lời bình cuối truyện. Do vậy
nếu có tình tiết "sex" ở "Truyền kì mạn lục, thì đó cũng thuộc loại "cổ điển": chất
"sex" chưa đi vào cuộc tình ân ái gối chăn của vợ chồng có cưới hỏi hẳn hoi” [6]
Nhận định về vấn đề dục tính trong Truyền kỳ mạn lục, PGS – TS Trần Nho
Thìn cũng đã chỉ ra hai mặt của việc thể hiện vấn đề dục tính trong tư tưởng
Nguyễn Dữ : “Một mặt, tác giả say sưa tả mối tính lãng mạn, sức mạnh mê hồn
của sắc đẹp và tài thơ của Hàn Than, nhưng mặt khác lại có ý phê phán gay gắt sự
nguy hại của sắc đẹp phụ nữ đối với nam giới”.“Phải chăng lời bình là cách tác
giả che giấu ý đồ thực của mình nhằm ca ngợi tình yêu nam nữ. Phải chẳng tác giả
không lên án người phụ nữ trong những cuộc tình này? Thật khó trả lời một chiều,
đơn giản. Nhưng chỉ biết, nhân chuyện kể về sự gian dâm của những người đàn ông
mà tác giả có cố chuyển vào truyện những diễn ngôn táo bạo về tình dục nam nữ
[80, tr.398 – 399].
Bên cạnh những công trình của các nhà nghiên cứu, phê bình, còn có rất
nhiều các khóa luận tốt nghiệp, công trình luận văn, của sinh viên và học viên cao 14
học tìm hiểu về Truyền kỳ mạn lục. Tiêu biểu là một số công trình Tìm hiểu nghệ
thuật miêu tả tâm lý, khắc họa tính cách nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục của
Phạm Thị Hường( Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn, 2001); Những triết lí nổi bật trong của Nguyễn Dữ của tác giả Phạm Thị Thu
Hằng (Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, 2005);
- Chuyện người con gái Nam Xương
- Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu
Ngoài ra chúng tôi sẽ khảo sát yếu tố thể hiện sắc thái dục tính trong một số
tác phẩm khác của các nhà thơ, nhà văn khác trong nền văn học trung đại để có cái
nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp, thao tác sau:
- Phương pháp lịch sử- xã hội: Chúng tôi tìm hiểu Truyền kỳ mạn lục và tác giả
trong bối cảnh thời đại của Nguyễn Dữ để thấy ảnh hưởng của hoàn cảnh xã hội tới
tác phẩm.
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Chúng tôi vận dụng phương pháp tiếp cận văn
hoá học để nhìn nhận vấn đề dục tính thể hiện trong tác phẩm bởi những quan điểm
văn hoá của một quốc gia, một thời đại chi phối nhiều việc thể hiện sắc thái dục tính
trong tác phẩm.
- Thao tác thống kê, phân loại: thống kê, phân loại những yếu tố biểu hiện sắc thái
dục tính trong Truyền kỳ mạn lục.
- Thao tác so sánh: so sánh biểu hiện của sắc thái dục tính, nghệ thuật thể hiện sắc
thái dục tính trong Truyền kỳ mạn lục với một số tác phẩm của các tác giả cùng thời
để rút ra những điểm tương đồng và khác biệt.
- Thao tác phân tích - tổng hợp: dựa trên những cứ liệu thu thập được, tiến hành
phân tích những yếu tố, những biện pháp nghệ thuật thể hiện sắc thái dục tính trong
tác phẩm.
6. Đóng góp mới của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên đi sâu tìm hiểu sắc thái dục tính trong Truyền kỳ
mạn lục một cách hệ thống và toàn diện. Đề tài góp phần làm rõ hơn một vấn đề 16
mới của chủ nghĩa nhân đạo: vấn đề dục tính và sự thức tỉnh ý thức cá nhân của con
người trong văn học trung đại.
Dục tính theo Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm trong Từ điển tiếng Việt định
nghĩa là: “thú vui xác thịt giữa nam và nữ”[70]. Còn Nguyễn Như Ý trong Đại từ
điển tiếng Việt thì cho rằng dục tính là những “đòi hỏi về quan hệ tính giao” [89,
tr.1593]. Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê nhà xuất bản Đà Nẵng, 2011 có định
nghĩa: “Tính dục đồng nghĩa với dục tính là sự đòi hỏi sinh lý về quan hệ tính giao,
hiểu biết về tính dục, thỏa mãn tính dục” [60].
Từ những năm 1970, Ủy ban giáo dục và thông tin về tình dục ở Mỹ đã đưa
ra định nghĩa hiện đại về tính dục như sau: Tính dục là tổng thể con người, bao gồm
mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến
động suốt đời. Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất
sinh dục. Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố
sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống. Những yếu tố này ảnh
hưởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người và do đó
tác động trở lại xã hội.
Như vậy, qua những quan niệm, định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy dục
tính xét về mặt hoạt động là khái niệm chỉ hoạt động tính giao, còn gọi là giao hợp
hay giao cấu là đưa bộ phận sinh thực khí người nam vào bộ phận sinh dục người
nữ. Hoạt động này là thuộc tính của một sinh thể sống, một nhu cầu thiết yếu, là mặt
sinh vật tự nhiên thuộc bản năng của con người. 18
Nói đến dục tính chính là nói đến phần “thân” của con người trong quan hệ
với “tâm” theo quan niệm về con người thời xưa. “Thân” của con người là thân xác.
Để tồn tại trước hết cần nhu cầu ăn, mặc, ở…sau đó là vấn đề bản năng tình dục và
biểu tượng phồn thực để thờ cúng tổ tiên. Dục tính thuộc về cái tục. “Cái tục, theo
nghĩa rộng nhất chính là cái đời thường, cái hàng ngày, tồn tại trong mối quan hệ
vừa đối lập, vừa gián cách lại vừa bị thống trị bởi cái thiêng, cái linh thánh, nghĩa
là luôn luôn bị xác định là cái không mẫu mực, không chính thống, cũng có nghĩa là
ít hoặc không có giá trị”[87,tr.276].
những lễ hội sùng bái dương vật, được ngắm nhìn, vuốt ve “cây-nhân-sinh” và đề
cao xác thịt để thụ hưởng hơn là hành xác, nhận thức được xác thịt đưa tới tồn lưu
của nhân loại và nhìn nhận nơi phát sinh ra nguồn gốc tồn lại của nòi giống.
Champa và các nước cận bang vẫn còn thờ thần dương vật Linga và thờ thần âm vật
Yoni được xem như một thần linh đã in sâu vào văn hoá của dân tộc họ và là một
nghệ thuật cao qúi trong dân gian. Ấn Độ, Trung Quốc, tín ngưỡng phồn thực còn
phát triển lên thành triết học, văn hóa tính dục. Phương Đông cổ đại lấy lý thuyết
âm dương và ngũ hành làm cơ sở để giải thích mọi hiện tượng trong đời sống tính
dục. Theo đó nam là dương, nữ là âm. Nếu âm dương không cân bằng, không hoà
hợp thì con người sẽ phát sinh bệnh tật và tổn thọ. Ở Hy Lạp, La Mã trong các buổi
lễ Tửu thần, người ta cúng Phallus –sinh thực khí nam.Cổ La Hy có nhiều tượng
trần truồng của nam và nữ, phần lớn được tô điểm lên nét vẽ và được nhìn nhận là
tuyệt tác phẩm nghệ thuật.
Theo Mác bản chất con người vừa là con người với tư cách là sản phẩm của
giới tự nhiên vừa là một thực thể xã hội “con người là tổng hoà của các quan hệ xã
hội”. Con người và con vật đều có những nhu cầu như ăn uống, tình dục nhưng con
người khác con vật ở chỗ con vật hoạt động theo bản năng, con người hành động
theo ý thức. Chính mặt xã hội của con người đã làm cho sinh vật trong con người
phát triển ở trình độ cao hơn những động vật khác. Hoạt động dục tính của con
người không chỉ để thỏa mãn nhu cầu dục tính ở con người mà còn gắn liền với đạo
đức, văn hóa, xã hội, đặc biệt là gắn liền với tình yêu. Tình yêu làm cho khát vọng
dục tính thăng hoa và khát vọng thỏa mãn nhu cầu dục tính làm cho tình yêu sâu sắc
hơn. Dục tính không chỉ đem đến cho hai cá thể sự thỏa mãn về thể xác mà còn là 20
thỏa mãn về tinh thần. Sự bồi đắp cho nhau trong những giây vẫy gọi mang đến bản
tình ca và vẻ đẹp viên mãn. Dục tính chính là sự thăng hoa của những xúc cảm
thẩm mỹ, đầy nhân tính: tình yêu, khát vọng, cội nguồn của sự sống, một hành vi
bản năng, được nhìn nhận như là sự khơi nguồn, khởi đầu cho tình yêu và những
Theo Foucault, tính dục (sexuality) là một hiện tượng văn hóa: “Không nên
nghĩ về tính dục như một cái gì đó tồn tại khách quan mà quyền lực cố gắng kiềm
chế hoặc như một lĩnh vực mờ tối mà tri thức cố gắng từng bước khám phá ra. Tính
dục là một tạo tác mang tính lịch sử (historical construct) ”. Tính dục, trong những
phân tích của Foucault không phải là cái được phát hiện ra (discovered) mà là cái
được tạo ra (produced) bởi những diễn ngôn (discourse) nhằm hợp thức hóa những
quan hệ quyền lực, nhằm thực hiện một dự đồ nào đó.
Trong nhân học văn hóa, quan niệm về sex (giới) và gender (giống) có sự
khác biệt : sex chủ yếu đề cập đến khía cạnh sinh vật học, khía cạnh của giải phẫu;
gender lại là một hiện tượng thuộc về văn hóa. Sex bị chi phối bởi gender. Dục tính
chịu ảnh hưởng của lịch sử, văn hóa, xã hội. Hay chính sự khác biệt trong vai trò xã
hội giữa giống đực và giống cái là có nguyên nhân từ tập quán, từ hoàn cảnh xã hội
hơn là có nguyên nhân từ tự nhiên. Vì thế ở mỗi thời, mỗi nơi lại có quan niệm khác
nhau về dục tính.
Nói đến phương Đông là nói đến một vùng không gian chịu ảnh hưởng của
những nền triết học lớn thời cổ ở Châu Á : Nho, Lão và Phật. Các triết học và tôn
giáo đó đã góp phần rất sâu sắc vào quan niệm về con người, về dục tính ở phương
Đông. Trong triết học Lão- Trang, Trang Tử cho rằng “tề vạn vật”, “vật ngã đồng
nhất”. Đạo Lão đề cao tính chất tự do, tự tại của con người, con người hòa đồng với
vũ trụ, con người tự nhiên, tự do, thoát khỏi luân lý, chính trị. Vì thế Lão giáo đề
cao người phụ nữ, cho rằng người phụ nữ tạo ra sự sống mới và gần gũi với thiên
nhiên. Quan hệ tính dục rất được coi trọng như sự hòa hợp giữa âm và dương.
Với Nho giáo, quan niệm về dục tính của con người khác Lão- Trang. Nho
giáo đặt con người trong các mối quan hệ luân thường, đạo lý. Nho giáo đề cao vấn
đề đạo đức, văn hóa, lý tưởng hơn vấn đề vật chất, thân xác. Con người bị ràng
buộc bởi nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, khinh miệt bản năng. Hành vi tính dục của con
người được Nho giáo khoác cho một ý nghĩa thiêng liêng như sự bắt chước trời và 22
23
duy trì trật tự đạo lý, biểu dương những mẫu người trinh tiết, ban thưởng bằng tiết
hạnh khả phong, làm thơ ca ngợi …
Còn đạo Phật quan niệm cái dục (ham muốn) là nguồn gốc của đau khổ,
trong đó có ham muốn về thân xác, nên Phật giáo chủ trương diệt dục, trừ khử mọi
ham muốn cũng là để kết liễu đau khổ. Phật giáo quan niệm “cảm quan nhục thể là
căn nguyên nhất thiết của tội ác và đau khổ”. Vì thế Phật giáo đề xuất “Cửu tưởng”
để phá “lục dục”, lục dục đó là :
1. Sắc dục tức sự quyến rũ của dung nhan.
2. Hình mạo dục, chỉ vóc dáng.
3. Uy nghi tư thái dục, chỉ sự quyến rũ của âm điệu lời nói
4. Ngôn ngữ âm thanh dục, chỉ sự quyến rũ của âm điệu lời nói.
5. Tế hoạt dục chỉ sắc đẹp và sự quyến rũ của da thịt.
6. Nhân tướng dục chỉ toàn thể vẻ đẹp nhân thể.
(…) Phép “cửu tưởng” mượn sự tưởng tượng chủ quan để phủ định sự tồn tại của
cái đẹp nhân thể, chứng tỏ sức quyến rũ của cái đẹp rất mãnh liệt với con người”
[62, Tr. 18-19]. Như vậy đạo Phật quan niệm cái dục (ham muốn) là nguồn gốc của
đau khổ, trong đó có ham muốn về thân xác. Toàn bộ cái đẹp cơ thể nữ tính đều có
sức quyến rũ gợi lòng ham muốn nên Phật giáo chủ trương diệt dục, trừ khử mọi
ham muốn về thể xác cũng là một trong những cách để kết liễu đau khổ của con người.
Như vậy có thể nói, về vấn đề dục tính thì mỗi tôn giáo có quan niệm, thái
độ, cách ứng xử riêng, trong đó đa phần là chưa coi trọng vấn đề này. Cho nên trong
xã hội phương Đông xưa, chúng ta thấy vẫn còn những quan niệm khắt khe về dục
tính, đề cao cái tâm và hạ thấp thân xác. Ở đó có tồn tại sự bất công của địa vị, vật
chất, giới tính đối với dục tính.
Đời sống dục tính có sự phân biệt về địa vị, giai cấp rất rõ nét. Những vua
quan quý tộc là người ở tầng lớp trên, đưa ra những luật lệ về bản năng dục tính vô
cùng khắt khe theo quan điểm của Nho giáo để người dân thi hành. Nhưng chính
bản thân họ lại đi ngược với những quy định mà mình đặt ra. Các vua chúa có hàng
Đại văn hào của nước Nga Xô Viết Mac-xim Gooc-ki đã từng nhận định
“Văn học là nhân học”.Văn học luôn hướng về con người và vì con người. Với chức
năng cao quý đó, văn học viết về con người ở mọi phương diện “thân” và “tâm”, 25
diễn biến nội tâm, cảm xúc, khát vọng, trong đời sống của con người, trong đó có
vấn đề dục tính.
Vấn đề dục tính gắn liền với văn hóa ở mỗi quốc gia, mỗi thời đại vì thế sắc
thái dục tính trong văn chương ở mỗi quốc gia, mỗi thời đại hiện lên với nhiều màu
vẻ. Nhìn lại toàn bộ toàn bộ nền văn học thế giới, những tác phẩm đề cập đến vấn
đề dục tính thật phong phú, đa dạng. Ở đây, chúng tôi chỉ xin điểm qua một số tác
phẩm thể hiện vấn đề này.
Thần thoại Hy Lạp là tác phẩm văn học xuất hiện sớm nhất trong văn học
thời cổ đại và có nhiều truyện, nhiều chi tiết đề cập đến vấn đề dục tính. Trong tác
phẩm này có một bộ phận truyện kể về sự gặp gỡ của các vị thần với nhau và với
người trần để tạo ra những người con anh hùng, nữ thần Aphorodite kết hợp với
Ankhises và sinh ra Aeneas, hay cuộc giao hoan giữa Peleus và nữ thần Thetis sinh
ra Achilles… Đặc biệt thần Zeus đấng tối cao, chúa tể của các vị thần hay đi quyến
rũ, cưỡng bức những người phụ nữ khiến vợ thần là nữ thần Hêra xinh đẹp lộng lẫy
đã bao lần phải đau khổ, tức giận vì những cuộc tình duyên ngoài hôn nhân đó.
Thần Zeus và Hera cũng từng chất vấn Tiresias (một kẻ lưỡng tính - androgyme)
rằng, nam hay nữ khoái cảm hơn trong tính dục. Tiresias trả lời rằng, nếu khoái cảm
chia làm mười phần, thì người phụ nữ có đến chín, nam giới chỉ có một. Sở dĩ có
những câu chuyện, chi tiết như thế là bởi trong quan niệm của người phương Tây cổ
đại, dục tính không chỉ là chuyện hết sức tự nhiên mà còn mang màu sắc thiêng
liêng. Dục tính vừa có chức năng sáng tạo ra con người, sự sống vừa là cội nguồn
sáng tạo anh hùng, văn hoá, thi ca, triết học, tôn giáo.
Ở phương Đông thời cổ đại có khá nhiều tác phẩm nghiên cứu về vấn đề dục
tính hoặc có đề cập đến vấn đề này. Trước hết phải kể đến hai bộ sách dục tính