Cảm hứng chính sự trong truyền kỳ mạn lục luận văn thạc sĩ ngữ văn - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHAN THỊ TÌNH

CẢM HỨNG CHÍNH SỰ TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM TUẤN VŨ

NGHỆ AN - 2012


2
MỤC LỤC


1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Truyền kỳ mạn lục là tập truyện chữ Hán gồm 20 truyện của
Nguyễn Dữ, nhà văn Việt Nam thế kỷ XVI. Tác phẩm có nhiều truyện đề

Truyền kỳ mạn lục có thể được ông viết trong thời kỳ này, “để ngụ ý”, như
nhận xét của Hà Thiện Hán? Vì thế giọng văn hết sức đau xót và phẫn uất.
Và cũng từ đó, “trải mấy mươi sương, chân không bước đến chốn thị
thành”. Mấy năm không đến chốn thị thành, nhưng những chuyển biến
chính trị tích cực đương thời của mấy năm đầu triều Mạc ông không thể
không biết. Nhưng đó cũng chỉ là mấy năm đầu, rồi thì không thể khác
được, bánh xe phong kiến lại lăn theo con đường cũ. Trong nhãn quan cuả
ông, tất cả các triều đại phong kiến lúc này đều không tốt đẹp, đều xấu xa
[17, 131-132].
Trong So sánh văn học và văn hóa – Nguyễn Dữ và tiên thoại Trung
Quốc qua truyện Từ Thức lấy vợ tiên. Trần Đình Sử chỉ nghiên cứu một
truyện nhưng đã đưa ra những nhận xét xác đáng về cảm hứng chính sự của
toàn tác phẩm: “…Từ Thức làm tri huyện Tiên Du là do tập ấm, nhưng Từ
Thức xử thế như một danh sĩ, tức là người không chịu gập lưng hầu hạ kẻ
quyền quý, không hám công danh, thích tự do tự tại, ngao du sơn thủy. Bị
quan trên quở trách là chàng treo ấn từ quan liền. Khẩu khí, hành tích giống
hệt Đào Tiềm, đi đâu cũng mang theo quyển thơ Đào Tiềm để ngâm vịnh.
Có thể nói là Đào Tiềm tái thế. Việc ghi niên hiệu năm Quang Thái đời
Trần, tức đời vua Trần Nhuận Tông, vị vua cuối cùng trước khi bị Hồ Quý
Ly thoán đoạt là một tín hiệu có ý nghĩa phê phán chính sự thối nát, lòng
người ly tán. Từ Thức là hình bóng điển hình của kẻ sĩ bỏ quan quy ẩn,
không màng công danh, thích phóng khoáng, ghét chính sự ràng buộc…”
[49, 25].
Hoàng Hữu Yên đánh giá về Chuyện chức phán sự đền Tản Viên:
“Về mặt nội dung, câu chuyện đã thể hiện được cả hai chủ đề chính


3
của tác phẩm là phê phán hiện thực xã hội và đề cao phẩm chất kẻ sĩ,
đồng thời phản ánh khá rõ tinh thần dân tộc của tác giả” [74, 114].

chuyện ở đền Hạng Vương, Truyện đối đáp của người tiều phu núi Na,
Truyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang, Truyện Phạm Tử Hư lên chơi thiên tào,
v.v. Nội dung của các truyện này là sự tranh biện về các vấn đề chính trị, xã
hội, đạo đức” [59, 387].
Trong công trình Trên hành trình văn học trung đại, Nguyễn Phạm
Hùng đánh giá về Truyền kỳ mạn lục: “giá trị lớn nhất của tác phẩm là ở
chỗ nó mang nội dung phê phán, tố cáo xã hội mạnh mẽ” [16, 491]. “Chưa
bao giờ trong văn học viết, cho tới lúc đó, vua chúa, quan lại, lại được thể
hiện một cách hèn kém, bất tài đến thế. Hồ Hán Thương chịu bất lực trước
ý chí và lý lẽ của một người ẩn sĩ (Chuyện người tiều phu núi Na); Hồ Quý
Ly là người “từng tranh luận với người Trung Hoa, người Chiêm, chưa hề
chịu khuất lý bao giờ”, lại đuối lý trước ẩn sĩ họ Hồ và tú tài họ Viên (Chuyện
bữa tiệc đêm ở Đà Giang)… Quan lại thì độc ác, dâm bạo, bất nhân, hoặc cụ
thể như trụ quốc họ Thân, tướng quân họ Lý hoặc cách điệu như thần Thuồng
luồng” [16, 492]. “Bên cạnh việc phê phán gay gắt những lực lượng thống trị
tàn bạo, Nguyễn Dữ nói lên niềm khao khát một xã hội phong kiến tốt đẹp,
trong đó quyền sống của con người được đảm bảo” [16, 493].
Như vậy, một số công trình nghiên cứu ít hay nhiều, trực tiếp hay
gián tiếp đã bàn đến cảm hứng chính sự trong Truyền kỳ mạn lục. Tuy
nhiên, những nhận định đó mới chỉ đề cập một cách chung chung,
chiếm một phần dung lượng rất nhỏ trong toàn bộ công trình nghiên
cứu, chưa có công trình nào đi sâu vào tập trung tìm hiểu cảm hứng
chính sự trong tác phẩm này.
Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của những người đi trước, trong luận văn
này, chúng tôi sẽ nghiên cứu cảm hứng chính sự trong Truyền kỳ mạn lục
một cách hệ thống, toàn diện hơn. Bên cạnh đó, chúng tôi sẽ có sự đối sánh
với các truyện trong Tiễn đăng tân thoại mang cảm hứng chính sự để qua
đó thấy được sự cách tân của Nguyễn Dữ.



6
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có 3
chương:
Chương 1. Một số giới thuyết tạo cơ sở nghiên cứu đề tài
Chương 2. Cảm hứng chính sự với việc xây dựng cốt truyện của
Truyền kỳ mạn lục
Chương 3. Cảm hứng chính sự với việc xây dựng nhân vật của
Truyền kỳ mạn lục


7
Chương 1
MỘT SỐ GIỚI THUYẾT TẠO CƠ SỞ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Để việc nghiên cứu có kết quả tốt, cần phải làm rõ một số nội dung
làm cơ sở.
1.1. Truyện truyền kỳ
Văn học Việt Nam trung đại được cho là nền văn học trẻ tuổi so với
văn học Trung Hoa cổ trung đại. Xét về mặt không gian, hai nền văn học
gần nhau, lại có quá trình giao lưu nên ảnh hưởng của văn học Trung Quốc
với văn học Việt Nam rất lớn. Ảnh hưởng có thể bằng con đường cưỡng ép,
văn học theo chân của những kẻ xâm lược, bên cạnh đó còn do có cả sự
tiếp thu có ý thức của người Việt chủ động tiếp thụ những giá trị văn hóa
của Trung Hoa để từ đó làm giàu cho văn hóa Việt.
Truyện truyền kỳ cũng không nằm ngoài quĩ đạo đó. Truyện truyền
kỳ là thể loại du nhập từ Trung Quốc. Tên gọi thể loại truyền kỳ mãi đến
giai đoạn Vãn Đường mới chính thức khai sinh từ tên một tập truyện của
Bùi Hình, tuy nhiên, thể loại truyền kỳ đã được xác lập từ thời Sơ Đường
và phát triển phồn thịnh chưa từng có ở giai đoạn Trung Đường. Hai chữ
“truyền kỳ” bao hàm một số ý nghĩa: Một là, có ý chuộng lạ (hiếu kỳ), kể

tính chất hư cấu. Thoạt đầu truyện truyền kỳ mô phỏng truyện chí quái thời
Lục triều, sau phát triển độc lập” [12, 286].
Theo Trần Đình Sử hai chữ “truyền kỳ” có nghĩa là chuộng lạ, trong
đó chứa đựng nhiều thể, có thể nhận thấy có tài viết sử, tài làm thơ, tài nghị
luận [48, 349].
Về mặt dung lượng, truyện truyền kỳ có dung lượng nhỏ, nhân vật ít,
sự kiện tập trung, mỗi truyện thường xoay quanh một vài sự kiện chính.
Truyện truyền kỳ chú trọng vào việc, lấy việc mà biểu hiện người, khuyên
răn con người.
Truyện truyền kỳ có sự hỗn dung thể loại, xen vào văn xuôi là những
bài thơ, từ, phú, văn tế, làm cho độc giả không bị căng thẳng, làm cho câu


9
chuyện lôi cuốn người đọc hơn, qua đó tính cách, nội tâm của nhân vật
cũng được bộc lộ tự nhiên, góp phần thể hiện rõ phong cách và tư tưởng
của nhà văn.
Cuối một số truyện truyền kỳcó lời bình của tác giả, điều đó cho thấy
ảnh hưởng của bút pháp viết sử và sử bình vào văn học. Những lời bình này
cũng đã cho thấy quan điểm của người kể chuyện đối với những diễn biến
xảy ra trong truyện, đồng thời khuyên răn người đọc.
Hầu hết cốt truyện truyền kỳ sẵn có nhưng phần lớn các truyện truyền
kỳ đặc biệt là Truyền kỳ mạn lục không đơn thuần là sưu tầm mà nó là tập
truyện phóng tác nên phần hư cấu, sáng tạo trong đó rất đáng kể. Truyện
truyền kỳ không yêu cầu phải kể hết cuộc đời nhân vật. Nhiều truyện chỉ là
một giấc mơ, một cuộc kỳ ngộ, một cuộc trò chuyện. Môtip đối thoại, biện
bác được sử dụng khá nhiều. Về mặt này, truyện truyền kỳ gần với truyện
ngắn hiện đại.
Yếu tố kỳ ảo đóng vai trò quan trọng trong truyện truyền kỳ. Các tác
giả đã đưa vào trong truyện truyền kỳ nhiều yếu tố hoang đường, kỳ ảo.

Năm sinh và năm mất của ông đến nay vẫn chưa rõ.
Nguyễn Dữ là con trưởng vị Tiến sĩ triều trước – Nguyễn Tường
Phiếu. Cha ông là Tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Hồng Đức, làm quan
đến Thượng thư Bộ Hộ. Từ nhỏ Nguyễn Dữ vốn ham học hỏi, học rộng
nhớ nhiều, học vấn hơn người. Nguyễn Dữ đỗ Hương tiến, thi Hội trúng
Tam trường, từng được bổ làm Tri huyện Thanh Tuyền, nay là huyện Bình
Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc. Ông làm quan mới được một năm thì từ chức, lấy
cớ xa xôi, xin được về phụng dưỡng mẹ già; sau vì ngụy Mạc thoán đoạt
ông thề không ra làm quan nữa, từ đó “trải mấy mươi sương, chân không
bước đến thị thành”. Còn theo Vũ Khâm Lân người biên soạn Bạch Vân
am cư sĩ phả ký và Ân Quang hầu, người biên tập thơ văn chữ Hán của
Nguyễn Bỉnh Khiêm thì Nguyễn Dữ không ra làm quan, ẩn cư ở núi rừng
Thanh Hóa.
Theo Phan Huy Chú, Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
“Bấy giờ học trò ông (Nguyễn Bỉnh Khiêm) thành đạt rất nhiều, chỉ có


11
Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ, Trương Thì Cừ là có
tiếng nhất…” [14, 124].
Bùi Văn Nguyên có viết: “Nguyễn Dữ là một trong những người học
trò giỏi của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông sống vào khoảng các triều vua Uy
Mục, Tương Dực, Chiêu Tông, Cung Hoàng, tức là thời kỳ suy đồi của nhà
Lê. Chịu ảnh hưởng của thầy học, ông chán ghét đời sống quan trường điên
đảo, bỏ đi ở ẩn và ca tụng cảnh nhàn tản…” [37, 247].
Các tác giả Hà Thiện Hán, Lê Quý Đôn không đề cập đến việc
Nguyễn Dữ có quan hệ mật thiết hay là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Học giả Đài Loan Trần Ích Nguyên trích lại ý kiến của Trần Khánh
Hạo trong lời thuyết minh về việc xuất bản tập Truyền kỳ mạn lục trong
Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san ở Đài Loan, cho rằng “Nguyễn Dữ

kỳ mạn lục” [59, 365]. “Nguyễn Dữ lui về ẩn dật, viết Truyền kỳ mạn lục để
ký thác tâm sự, thể hiện hoài bão của mình” [59, 366].
Trong công trình Đoán định lại thân thế Nguyễn Dữ và thời điểm sáng
tác Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Phạm Hùng cho rằng: “Lê Quý Đôn trong
Kiến văn tiểu lục cũng có một thiên tiểu truyện về ông (…). Sau vì ngụy
Mạc thoán đoạt, thề không đi làm quan nữa, ở làng dạy học, không đặt
chân đến chốn thị thành, viết Truyền kỳ mạn lục 4 quyển, văn từ thanh lệ,
người đương thời rất khen (…). Trần văn Giáp viết (…) làm tri huyện
Thanh Toàn rồi xin nghỉ về nhà nuôi mẹ. Trong khi nghỉ, ông soạn ra bộ
Truyền kỳ mạn lục” [17, 124 - 125].
Truyền kỳ mạn lục được viết ra dưới nhiều sự tác động của xã hội
nhiễu loạn, cuộc sống nhân dân luôn đắm chìm trong cảnh lầm than, cực
khổ chịu sự thống trị của những nhà vua mất nhân tính – “vua quỷ, vua
lợn”. Vì thế, qua những câu chuyện được kể trong tác phẩm mình, ông đã
bộc lộ tâm trạng không bằng lòng với cuộc sống đương thời đồng thời phản
ánh được cái thối nát, đen tối của xã hội thế kỷ XVI. Toàn bộ tác phẩm như
một bức tranh thu nhỏ về xã hội thời bấy giờ.


13
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Dữ sáng tác Truyền kỳ mạn
lục sau khi đã cáo quan. Khi xã hội suy tàn không gì có thể cứu vãn, đa số
nhà Nho, trong đó có Nguyễn Dữ đã rời xa chính trường nơi mà mọi giá trị
đã lộn sòng để giữ mình trong sạch. Ông đã gửi gắm trong tác phẩm những
tinh túy ấp ủ để tạo nên áng “thiên cổ kỳ bút” cho muôn đời.
Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm gồm 20 truyện, trong đó một số
truyện xen lẫn một ít văn biền ngẫu và thơ ca. Ở cuối mỗi truyện đều có
lời bình của tác giả (trừ truyện thứ 19 – Cuộc nói chuyện thơ ở Kim
Hoa). Lời bình chủ yếu bàn về nội dung ý nghĩa của truyện chứ không
bàn đến nghệ thuật văn chương.

chắc, tâm lý hoang mang bắt đầu xuất hiện trong bộ phận các nhà nho.Thời
kỳ này, kỷ cương đất nước bị đảo tung, đại diện là tầng lớp thống trị nhà Lê
ngày càng xa hoa đồi trụy, chỉ biết hưởng thụ cuộc sống, xâu xé lẫn nhau,
luôn xuất hiện sự tranh giành, thoán đoạt trong nội bộ hoàng tộc, giữa
hoàng tộc với ngoại thích và triều thần, giữa triều thần với nhau…Những
tên “vua quỷ” – Lê Uy Mục là một tên vua chỉ ngày đêm rượu chè, cờ bạc,
đàn hát, thích chém giết, cuối cùng bị bắt uống thuốc độc tự tử. “Vua lợn”
– Lê Tương Dực kế tiếp Uy Mục, lại còn xa xỉ và dâm dục gấp bội, sau
cũng bị giết. Chỉ trong 23 năm (1504 – 1527) có tới sáu đời vua, có người
được lập làm vua khi tám tuổi và ở ngôi vua được ba ngày. Mạc Đăng
Dung thâu tóm được quyền lực về tay mình một cách dễ dàng. Mạc Đăng
Dung là người đã thiết lập lại trật tự xã hội bởi ông đã trấn áp các cuộc bạo
loạn, dẹp yên các thế lực cát cứ, nắm lấy toàn quyền, thu đất nước về một
mối. Nhưng dần về sau, ngay trong bản thân của chế độ quân chủ quan liêu
đã bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt. Chính trường đã cho thấy sự bất ổn lên
đến cực đỉnh. Các tập đoàn phong kiến mâu thuẫn gay gắt rồi phát triển đến
quy mô lớn những cuộc nội chiến Lê – Mạc, nhất là cuộc phân tranh Trịnh
– Nguyễn kéo dài hàng trăm năm. Tình trạng cát cứ, nội chiến liên miên,
đất nước lâm vào cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt. Giai cấp phong
kiến lúc này đã đi ngược với quyền lợi của nhân dân, không còn đại diện
cho dân tộc. Cay đắng hơn, người dân phải sống trong cảnh đất nước bị


15
chia cắt, rơi vào những cuộc chém giết đau thương và thảm khốc, lầm than
cực khổ, nền kinh tế kiệt quệ, đạo đức băng hoại không cách nào cứu vãn
nổi, cộng thêm thiên tai: hạn hán, lụt lội liên tiếp xẩy ra, dịch bệnh cũng
làm cho đời sống hết sức điêu đứng. Các cuộc nội chiến làm hao tiền tốn
của khiến giai cấp thống trị ra sức bóc lột nhân dân bằng sưu cao, thuế
nặng. Dưới ách áp bức của chế độ phong kiến, sống trong cảnh chiến

tiêu biểu như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hàng, Đào Duy
Từ và Phùng Khắc Khoan.
Nguyễn Hàng đỗ Hương Cống khoảng niên hiệu Hồng Thuận đời vua
Lê Tương Dực. Lúc họ Mạc chiếm ngôi vua Lê, ông bỏ thi Hội, sống trọn
đời trong cảnh rừng sâu núi thẳm với tư tưởng thoát ly đậm màu sắc Đạo
giáo. Khác với những kẻ sĩ xuất rồi lại xử hoặc xử rồi lại xuất, Nguyễn
Hàng sống trọn đời trung thành với tư tưởng làm một nhà nho ẩn dật, chưa
có lấy một ngày ra làm quan cho triều đại hoặc một tập đoàn phong kiến
nào. Là người học hành đỗ đạt, Nguyễn Hàng cũng ấp ủ hoài bão lớn lao,
ra hành đạo giúp đời, phụng sự triều đại chính thống. Sinh ra không gặp
thời nên ông phải chọn con đường ẩn dật để giữ tròn khí tiết của nhà nho
chân chính trong thời loạn. Nguyễn Hàng sáng tác văn chương để “thể hiện
niềm tự hào của kẻ sĩ ẩn dật trong cảnh an bần lạc đạo, là niềm mến yêu tha
thiết thiên nhiên, đất nước hùng vĩ, tươi đẹp, là nghệ thuật sử dụng khả
năng to lớn của ngôn ngữ dân tộc để miêu tả đất nước Việt, con người
Việt” [21, 528].
Ngoài Nguyễn Hàng còn phải kể đến Ngô Thì Ức, Phùng Khắc
Khoan, Đào Duy Từ. Ngô Thì Ức đỗ Hương Cống. Ông không chỉ để chí
hướng vào con đường khoa hoạn mà còn thích sống nhàn tản với tư tưởng
phóng khoáng. Ngô Thì Ức để lại trong gia tài của mình phần nhiều là thơ
tả cảnh, qua đó thấy được phong thái ung dung của người yêu mến, gắn bó
với thiên nhiên, luôn muốn tránh xa chính trường bon chen danh lợi.Phùng
Khắc Khoan và Đào Duy Từ là những nho sĩ hành đạo tích cực nhập thế
nhưng rồi trước sau đều đã có lúc trở thành một ẩn sĩ. Trong những tháng
ngày ẩn chí đợi thời cũng như những ngày bị đi đày ở Thành Nam, đã có


17
lúc Phùng Khắc Khoan say sưa với cỏ cây, muông thú, có tâm trạng như
người ẩn sĩ trong Lâm tuyền vãn. Đào Duy Từ cũng đã có lúc phải nương

Nhiều truyện trong Truyền kỳ mạn lục phản ánh số phận, cảnh ngộ của
nhân dân ở buổi loạn lạc. Trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, chỉ
với vài nét phác họa, thảm cảnh chiến tranh đã hiện lên rõ mồn một: “Bấy giờ
binh lửa rối ren, đường sá hiểm trở, phải lận đận hàng tuần mới vào đến Nghệ
An”. Tương tự Nguyễn Dữ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đứng về phía nhân dân
lao động để bộc lộ thái độ phản đối nội chiến:
Lạc lạc can qua mãn mục tiền,
Nhân dân bôn thoán dục cầu tuyền.
Điên liên huề bão ta vô địa,
Ái hộ căng linh bản hữu thiên.
(Giáo và mộc tua tủa bày ra trước mắt,
Nhân dân trốn chạy muốn tìm nơi an toàn.
Khốn đốn dắt dìu nhau, thở than không có đất
Thương xót che chở cho, may thay còn có trời).
(Thơ chữ Hán: Cảm hứng, bài 4)
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vạch ra thủ phạm của thảm cảnh “chỗ nào
cũng máu chảy thành sông, xương chất như núi” (Ngụ ý) là kết quả của
việc tranh giành quyền lợi giữa các tập đoàn phong kiến.Trong thơ Nguyễn
Bỉnh Khiêm ta thấy thực tế được chứng kiến cũng như trải nghiệm làm tâm
hồn nhà thơ xao động nhiều nhất chính là cảnh loạn lạc, chia ly, chiến tranh
tàn phá khiến đâu đâu cũng thấy hoang tàn đổ nát:
Cư ốc chiết vi tân,
Canh ngưu đồ nhi thực.
Nhương đoạt phi kỷ hóa,
Hiếp dụ phi kỷ sắc.
Kiến hãm trọng đồ thán,
Sở quá sinh kinh cức.
Tiều tụy tư vi thậm
(Nhà ở đem bẻ làm củi,


ngắn ngủi như Nguyễn Dữ. Các nhà nho ẩn dật đã tự xác định cho mình


20
chỗ đứng bên lề cuộc đời không bị công danh lợi lộc luôn bủa vây lôi
kéo để có con mắt sáng suốt và tấm lòng thanh thản mà nhìn nhận và
phán xét cuộc đời.
Sáng tác văn chương của họ đều phản ánh tư tưởng, tình cảm của tầng
lớp trí thức tiến bộ phải sống trong cảnh nhiễu nhương của chế độ phong
kiến. Họ phê phán những tệ lậu của xã hội phong kiến, phản đối chiến tranh
phi nghĩa đồng thời tố cáo sự tham tàn, bạo ngược, đồi trụy của vua quan,
nho sĩ. Họ dùng văn chương để truyền thụ đạo lý, giáo huấn người đời, cải
thiện nhân tâm thế đạo trước sự suy vi của đạo đức, bởi theo nhà Nho, sự
thối nát của xã hội bắt nguồn từ sự suy đồi của đạo lý, của nhân phẩm. Mặc
dù, lên án gay gắt nhưng trước sau họ vẫn là những người theo ý thức hệ
Nho giáo. Sự phê phán không nhằm để phủ định chế độ phong kiến.
Thời kỳ chế độ phong kiến bước vào con đường suy thoái thì văn
chương của các nhà nho cũng có sự phân hóa mạnh mẽ, phức tạp như tình
hình chính trị xã hội đương thời. Bộ phận được chú ý nhất là những sáng
tác của các nhà nho đã phản ánh trung thực tình hình của chế độ phong
kiến.
Tùy theo tình hình lịch sử xã hội mà xuất hiện những loại hình nhà
nho khác nhau. Giai đoạn thịnh trị nhà nho hành đạo chiếm ưu thế, sang
giai đoạn phong kiến suy thoái nhà nho ẩn dật nhiều đóng góp hơn do bất
mãn với thời cuộc. Giai đoạn phong kiến mạt vận ngoài cả hai loại hình
nhà nho trên có thêm loại hình nhà nho tài tử. Thời kỳ này những mâu
thuẫn tiềm tàng trước đây giờ có dịp bùng lên dữ dội với những căng thẳng
được đẩy lên đến gay gắt; chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng, bế tắc
trầm trọng, rơi vào vòng luẩn quẩn không tìm thấy lối thoát. Đến lúc này,
đất nước cũng chỉ như cái thùng rỗng không còn gì để hưởng đặc quyền

mục nát của triều đình. Nhiều khi họ vừa chống quân xâm lược lại vừa phải
chống lại cả triều đình thối nát.
Cảm hứng chính sự trong các tác phẩm đã đem đến cho người đọc
một cái nhìn trung thực hơn về thực trạng của đất nước bằng những hình


22
tượng nghệ thuật sinh động chứ không phải dưới con mắt của một người
làm sử.
Cảm hứng chính sự là một bộ phận của cảm hứng thế sự, một nội
dung quan trọng trong sáng tác của nhiều nhà nho thời trung đại. Đặc biệt
trong giai đoạn từ thế kỷ XVI – XVIII, xã hội có nhiều biến động, đó là khi
các tác giả thể hiện tâm sự và nhận thức của mình về cuộc sống của con
người. Với Truyền kỳ mạn lục và tác phẩm tự sự nói chung, cảm hứng
chính sự được thể hiện qua việc tác giả tái hiện bức tranh đời sống.


23
Chương 2
CẢM HỨNG CHÍNH SỰ VỚI VIỆC XÂY DỰNG CỐT TRUYỆN
CỦA TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
2.1. Khái niệm cốt truyện
Cốt truyện như cái khung của một tác phẩm, không có nó tác phẩm
không thể đến tay người đọc một cách hệ thống. Trong 150 thuật ngữ văn
học, Lại Nguyên Ân cho rằng thuật ngữ cốt truyện được áp dụng lần đầu
tiên vào thế kỷ XVII với các nhà văn cổ điển chủ nghĩa P. Corneille và N.
Boileau.
“Cốt truyện là một hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của
cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các
tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status