ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐA
̣
I HO
̣
C KHOA HO
̣
C XA
̃
HÔ
̣
I VA
̀
NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ THƠI
CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH KON TUM
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA Hoàng Thị Thơi
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này. Để tôi có thể đạt được
các mục tiêu và kết quả nhất định trong đề tài nghiên cứu của mình, tôi đã
nhận được sự chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của giảng viên
hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Bá Thịnh, cùng sự hợp tác giúp đỡ của tập thể cán
bộ, công chức, viên chức, người lao động tại phường Duy Tân, xã Đăk Cấm
thuộc TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum. Luận văn đã kế thừa đề tài "Đô thị hóa
và quản lý quá trình đô thị hóa trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên",
Mã số TN3/X15 thuộc Chương trình Tây Nguyên 3. Vì vậy, nhân dịp này tôi
xin chân thành gửi lời cảm ơn tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Bá
Thịnh, cùng tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại tỉnh Kon
Tum, đã tạo điều kiện hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ tận tình cho tôi hoàn thành
công trình nghiên cứu một cách thuận lợi nhất.
Trong phạm vi của công trình nghiên cứu này, cũng như bản thân tác
giả còn hạn hẹp về kinh nghiệm. Vì vậy, chắc chắn trong nghiên cứu này
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp
ý kiến của quý thầy cô giáo và toàn thể bạn đọc.
Chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Học viên
Hoàng Thị Thơi
23. Trung học phổ thông THPT
24. Trung cấp chuyên nghiệp TCCN
25. Ủy ban nhân dân UBND
26. Tổ chức phi Chính phủ NGO
27. Hỗ trợ phát triển chính thức ODA DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Quy mô dân số tỉnh Kon Tum giai đoạn 2009 – 2013
Bảng 2.2. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo giới tính và phân
theo thành thị, nông thôn tỉnh Kon Tum
Bảng 2.3. Trình độ học vấn nguồn nhân lực theo giới tính tại địa bàn điều tra
Bảng 2.4. Trình độ chuyên môn kỹ thuật nguồn nhân lực theo giới tính tại địa
bàn điều tra
Bảng 2.5. Nghề nghiệp theo giới tính của đối tượng điều tra
Bảng 2.6. Lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo nghề nghiệp và theo vị thế việc làm
Bảng 2.7. Trình độ học vấn của nguồn nhân lực theo địa bàn điều tra
Bảng 2.8. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực theo địa bàn điều tra
Bảng 2.9. Nghề nghiệp theo địa bàn điều tra
Bảng 2.10. Tiền lương, thưởng của các doanh nghiệp năm 2009
Bảng 2.11. Tình trạng sức khỏe của người lao động tỉnh Kon Tum và các tỉnh điều tra
Bảng 2.12. Trạng thái hoạt động của nhân lực
6. Câu hỏi nghiên cứu 26
7. Giả thuyết nghiên cứu 26
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 27
9. Khung phân tích 28
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 29
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 29
1.1.1. Khái niệm công cụ 29
1.1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực (Nguồn lực con người) 29
1.1.1.2. Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa 31
1.1.1.3. Khái niệm lao động 31
1.1.1.4. Khái niệm việc làm 32
1.1.1.5. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực trong CNH- HĐH 33
1.1.2. Hệ thống các lý thuyết 33
1.1.2.1. Lý thuyết cấu trúc chức năng 33
1.1.2.2. Lý thuyết biến đổi xã hội 34
1.1.2.3. Lý thuyết xung đột 36
1.2.3. Quan điểm, Chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân
lực 37
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN 39
1.2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 39
1.2.1.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu 39
1.2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội 40
1.2.2. Hiện trạng các lĩnh vực ngành nghề tại tỉnh Kon Tum 42 2
1.2.2.1. Lĩnh vực Giáo dục - đào tạo 42
1.2.2.2. Lĩnh vực Y tế 43
1.2.2.3. Lĩnh vực dạy nghề 44
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH KON
2.4.1.1. Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa 72
2.4.1.2. Phát triển khoa học - công nghệ và hình thành nền kinh tế tri thức 73
2.4.2. Những nhân tố bên trong 73
2.4.2.1. Công tác đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh Kon Tum 73
2.4.2.2. Hệ thống quản lý, cơ chế, chính sách phát triển nhân lực 77
2.4.2.3 Một số yếu tố khác 80
2.5. Đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực hiện nay của tỉnh Kon Tum 80
2.5.2. Những điểm yếu 81
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mới đây Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố dân số Việt Nam là 90
triệu người, xếp thứ 13 trên thế giới về dân số. Theo tính toán của Quỹ Dân số
Liên hiệp quốc, đến giữa thế kỷ XXI, dân số Việt Nam sẽ đạt ngưỡng 100
triệu người. Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
của Việt Nam hiện nay đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12
nước ở châu Á tham gia xếp hạng. Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực Việt
Nam đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam xếp
thứ 73/133 nước được xếp hạng.
Nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, với mục tiêu đưa đất nước phát triển ngang tầm với các nước trong khu
vực và trên thế giới. Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số
đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động
công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Quá trình phát triển của một quốc gia, một địa phương cần phải có nhiều
điều kiện cũng như các nguồn lực cần thiết. Trong các nguồn lực cần thiết cho
phát triển như: cơ sở vật chất, tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, khoa học
công nghệ, nguồn nhân lực… thì nguồn nhân lực ngày càng đóng vai trò quyết
định và chi phối tất cả các yếu tố còn lại. Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì vai trò, vị trí của nguồn lực con người
ngày càng quan trọng hơn.
Trong những năm gần đây, công tác phát triển nhân lực của tỉnh Kon
Tum cũng không nằm ngoài xu hướng đó và đã đạt được một số thành tựu
đáng kể, góp phần hỗ trợ đắc lực vào sự phát triển KT-XH và sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của Tỉnh. Tuy nhiên, so với yêu cầu của tình hình
mới thì công tác phát triển nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế: trình độ học vấn 6
và trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực còn thấp; các cơ sở đào
tạo chưa đáp ứng được yêu cầu về quy mô, năng lực và chất lượng đào tạo;
năng suất lao động thấp, chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, sự phối hợp
giữa các ngành quản lý, giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp và người
lao động còn thiếu chặt chẽ.
Trong giai đoạn 2011-2020, với
nguồn nhân lực dồi dào, cần cù lao
động thì chưa đủ để đáp ứng được yêu cầu phát triển. Đặc biệt, tỉnh Kon Tum
với quy mô nền kinh tế còn nhỏ, trình độ dân trí còn thấp, đời sống nhân dân
còn nhiều khó khăn thì yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực càng có ý
nghĩa quyết định tới sự phát triển. Do đó tôi chọn đề tài: “Chất lượng nguồn
nhân lực ở tỉnh Kon Tum trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa” để
nghiên cứu, từ việc nghiên cứu đề tài này sẽ cũng cấp những luận cứ và cơ sở
học xã hội năm 2010 (Becker, 2010). [43]
UNESCO - Tổ chức Văn hoá, Khoa học, Giáo dục của Liên hợp quốc
cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề nguồn nhân lực. Điều này được
minh chứng qua nhiều công trình nghiên cứu. Chẳng hạn ấn phẩm
“Educational planning and human resource development” (Kế hoạch giáo dục
và phát triển nguồn nhân lực” là một trong những công trình nghiên cứu quan
trọng của UNESCO. Công trình nghiên cứu này đã đưa ra những quan điểm
hiện đại về giáo dục và nguồn nhân lực qua việc phân tích sâu các yếu tố tác
động đến sự phát triển nguồn nhân lực ở các nước đang phát triển (Harbison,
1968).
The WB - Ngân hàng Thế giới, một tổ chức quốc tế rất quan trọng,
cũng quan tâm nhiều đến vấn đề nguồn nhân lực thông qua nghiên cứu của
nhiều học giả uy tín. Ví dụ như nghiên cứu “Quản lý nguồn nhân lực trong
bối cảnh phi tập trung hóa” của tác giả Amanda E. Green. Nghiên cứu này
nhấn mạnh rằng quản lý nguồn nhân lực phải được coi là yếu tố thiết yếu 8
thuộc về quá trình phi tập trung hóa chứ không nên coi là một quá trình riêng
rẽ song song với phi tập trung hóa (Green, 2005).
UNDP, Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc cũng đặc biệt quan
tâm đến nguồn nhân lực. Từ năm 1990 đến nay hàng năm tổ chức này có báo
cáo phát triển con người. Báo cáo đầu tiên vào năm 1990 đã bàn đến định
nghĩa phát triển con người và đo lường sự phát triển con người. Báo cáo này
cũng bàn đến một số chiều cạnh liên quan đến phát triển con người, chẳng
hạn như mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển con người (UNDP,
1990). Qua từng năm khác nhau, Báo cáo phát triển con người lần lượt đề cập
đến phát triển con người dưới nhiều góc độ khác nhau. Chẳng hạn báo cáo
Phát triển con người gần đây nhất của UNDP nhấn mạnh đến tính bền vững
và sự công bằng trong phát triển con người (UNDP, 2011). [46]
“Human resources management (Quản lý nguồn nhân lực) của các tác giả
khác nhau là Lloyd Byars và Leslie Rue xuất bản năm 2003; J.M. Ivacevich
xuất bản năm 1995 đều đề cập đến vấn đề quản lý nguồn nhân lực ở những
góc độ khác nhau (Byars & Rue, 2003; Ivancevich, 1995). [42]
Như vậy, từ các nghiên cứu về nguồn nhân lực kể trên, có thể thấy rằng
chủ đề nguồn nhân lực cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu hết sức phong
phú, đa dạng. Chủ đề này nhận được sự quan tâm lớn của nhiều tổ chức, học
giả trên thế giới. Điều này minh chứng tầm quan trọng của yếu tố con người,
yếu tố nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế - xã hội.
2.2. Tổng quan nghiên cứu về nguồn nhân lực ở Việt Nam
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển lịch sử, do đó
vấn đề con người, đặc biệt là nhân tố con người luôn luôn là đối tượng thu hút
sự quan tâm của nhiều ngành khoa học. Thực tiễn ngày càng chứng minh, sự
phát triển bền vững của mỗi quốc gia phụ thuộc vào việc đầu tư khai thác, phát
huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người. Trong những năm gần đây, nguồn
nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là vấn đề được đề cập nghiên cứu ở
những mức độ và góc độ khác nhau. Nhiều công trình đã nghiên cứu một cách 10
có hệ thống các vấn đề về nguồn nhân lực, về giáo dục- đào tạo, về nâng cao
chất lượng, về sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, đáng chú ý là những công
trình sau:
Ở Việt Nam, vai trò quyết định của nguồn nhân lực đã và đang được
khẳng định trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đại hội IX của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định việc “phát triển mạnh nguồn lực con
người Việt Nam với yêu cầu ngày càng cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2001). Đại hội nhấn mạnh rằng “Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn
nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục
nhiều chiều cạnh khác nhau liên quan nguồn nhân lực, từ đời sống văn hóa
cho đến tình trạng sức khỏe, từ nghiên cứu phát triển trí tuệ cho đến giáo dục
phổ thông và hướng nghiệp (Chương trình KX.05, 2001-2005)
Về chủ đề nguồn nhân lực, các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực Triết
học, Kinh tế học, Giáo dục học, Xã hội học, Tâm lý học đã có nghiên cứu,
đánh giá thực trạng nguồn nhân lực cũng như đề xuất nhiều giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta. Các nghiên cứu về nguồn
nhân lực có thể được phân chia thành nhiều hướng lớn khác nhau.
Thứ nhất là hướng nghiên cứu về con người và văn hóa. Hướng nghiên
cứu này có hàng loạt công trình nghiên cứu quan trọng. Trước hết phải kể đến
cuốn sách “Con người, văn hóa, quyền và phát triển” do Mai Quỳnh Nam làm
chủ biên. Đây là cuốn sách tập hợp nhiều công trình nghiên cứu của các học
giả trong lĩnh vực nghiên cứu con người và nguồn nhân lực, như Vũ Khiêu,
Phạm Minh Hạc, Hoàng Ngọc Hiến, Lê Thi, Mai Quỳnh Nam, Nguyễn Đình
Tấn, Mai Văn Hai Ngoài hai bài viết đề xuất cơ sở phương pháp luận cho
việc nghiên cứu con người Việt Nam hiện nay của Vũ Khiêu “Người Việt
Nam trong mối quan hệ giữa triết học, đạo đức và tôn giáo”, và của Phạm
Minh Hạc “Vấn đề xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực: Quan
niệm và chính sách”, cuốn sách được kết cấu thành ba phần. Phần thứ nhất 12
bàn về con người và văn hóa. Phần này nhấn mạnh đến nhiều chiều cạnh khác
nhau của văn hóa trong sự phát triển con người. Phần thứ hai có tên gọi là
“Quyền con người”. Phần này phân tích nhiều chủ đề khác nhau, từ tư tưởng
Hồ Chí Minh về quyền con người cho đến văn hóa pháp luật và phát triển con
người. Phần thứ ba của cuốn sách được đặt tên: “Phát triển con người - Phát
triển nguồn nhân lực”. Đây là phần bàn đến một loạt các vấn đề liên quan đến
phát triển nguồn nhân lực, chẳng hạn như: vốn xã hội, vốn con người và
mạng lưới xã hội; công bằng xã hội và phát triển bền vững con người; dân
và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã có những
luận giải sâu sắc về vai trò của việc xây dựng con người trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Phạm Minh Hạc & Nguyễn Khoa Điềm,
2003). Công trình “Nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay” do
Dương Phú Hiệp là một quyển sách tập hợp nhiều bài viết của các nhà khoa
học nghiên cứu về văn hóa và con người. Cuốn sách này không nghiên cứu
văn hóa, hay con người riêng rẽ mà nhấn mạnh đến phát triển văn hóa và phát
triển con người, bàn đến phát triển văn hóa và phát triển con người trong bối
cảnh của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Có thể nói rằng, cuốn sách đã
góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận của việc nghiên cứu văn hóa và con người
Việt Nam (Dương Phú Hiệp – Chủ biên, 201). Cùng hướng nghiên cứu này,
bài viết “Quan niệm mới về nền văn hóa nhân bản lấy việc xây dựng và phát
triển con người làm mục tiêu cơ bản” của tác giả Thành Duy cũng đáng lưu
ý. Qua bài viết này tác giả đã nhấn mạnh đến một quan niệm quan trọng về
con người - con người là động lực của chủ nghĩa nhân văn (Thành Duy,
2011). [30]
Hướng nghiên cứu thứ hai là hướng nghiên cứu về nguồn lực trí tuệ.
Hướng nghiên cứu này cũng có nhiều công trình mà chúng ta rất cần bàn đến.
Trước hết là hai công trình nghiên cứu do Nguyễn Văn Khánh làm chủ biên
với tên gọi “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam” (Nguyễn Văn
Khánh - Chủ biên, 2010), và “Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - lịch sử, hiện trạng 14
và triển vọng” (Nguyễn Văn Khánh - Chủ biên, 2012). Các công trình nghiên
cứu này đã làm rõ nhiều vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực ở Việt Nam,
như thực trạng nguồn nhân lực, kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn
nhân lực. Các công trình nghiên cứu cũng đề xuất những giải pháp, khuyến
nghị nhằm phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước trong thế kỷ XXI.
công nghiệp hóa ở Việt Nam là điều đặc biệt quan trọng, không chỉ trong việc
xây dựng chính sách về đội ngũ tri thức, và còn có ý nghĩa thiết thực trong
việc phát triển và sử dụng đội ngũ quan trọng này. [20]
Hướng nghiên cứu thứ ba là hướng nghiên cứu nguồn nhân lực ở các địa
phương, khu vực. Đối với hướng nghiên cứu này, trước hết phải kể đến cuốn
sách “Phát triển và trọng dụng nhân tài của Thăng Long - Hà Nội” do Vũ Hy
Chương (2010) chủ biên. Đây là một công trình nghiên cứu quan trọng bàn
về phát triển và trọng dụng nhân tài từ lịch sử đến hiện đại của thủ đô Hà Nội.
Cuốn sách được kết cấu thành 6 chương. Chương một là chương vai trò của
khoa học và nhân tài trong quá trình phát triển của Thăng Long - Hà Nội.
Chương hai bàn về các lĩnh vực khoa học trong quá trình phát triển của
Thăng Long - Hà Nội. Chương ba bàn về các triều đại phong kiến đối với
khoa học và nhân tài ở Thăng Long - Hà Nội. Chương bốn là chương chính
sách phát triển khoa học và sử dụng nhân tài thời Pháp thuộc. Chương năm là
chương quan điểm và chính sách trọng dụng nhân tài của Hà Nội trong thời
đại Hồ Chí Minh. Chương cuối cùng nói về quan điểm, chính sách và giải
pháp phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài phục vụ phát triển toàn diện
thủ đô thời gian tới. Qua sáu chương nội dung, cuốn sách đã làm rõ chính
sách, thành tựu, vai trò và kinh nghiệm phát triển khoa học của Thăng Long -
Hà Nội, cũng như vai trò của các nhà khoa học trong quá trình phát triển
Thăng Long - Hà Nội. Cuốn sách cũng phân tích những bài học kinh nghiệm
trong việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, sử dụng, đãi
ngộ, trọng dụng nhân tài ở thủ đô trong quá khứ và hiện tại. Một thành tựu 16
quan trọng nữa của cuốn sách là đề xuất quan điểm, chính sách, giải pháp lớn
trong phát triển khoa học và trọng dụng nhân tài ở thủ đô. [32]
Cùng hướng nghiên cứu nguồn nhân lực ở các địa phương, công trình
nghiên cứu “Phát triển con người vùng Tây Bắc nước ta” do Phạm Thành
Một nghiên cứu khác đáng lưu ý là nghiên cứu của Dương Anh Hoàng:
“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thành
phố Đà Nẵng”. Nghiên cứu này đã phân tích và luận giải những đặc điểm
quan trọng của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Đà Nẵng. Nghiên
cứu cũng đánh giá không chỉ thành tựu mà cả những hạn chế của thực tế phát
triển nguồn nhân lực ở Đà Nẵng. Đồng thời tác giả cũng nêu lên những
nguyên nhân của những hạn chế đó. Nghiên cứu này đã đề xuất các định
hướng phát triển nguồn nhân lực ở Đà Nẵng phục vụ cho công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hội nhập quốc tế (Dương Anh Hoàng, 2012). [8]
Một hướng nghiên cứu quan trọng liên quan đến chủ đề nguồn nhân lực
hiện nay là nghiên cứu sự phát triển con người trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Trong hướng nghiên cứu này, đáng chú ý là cuốn sách “Tác động của toàn
cầu hóa đối với sự phát triển văn hóa và con người Việt Nam” do Dương Phú
Hiệp làm chủ biên. Nội dung của cuốn sách tập trung phân tích các lý thuyết
về phát triển văn hóa và con người trong bối cảnh toàn cầu hóa. Cuốn sách
cũng thảo luận sâu về những khía cạnh đáng quan tâm như những cơ hội và
thách thức trong bối cảnh tác động của toàn cầu hóa đến phát triển văn hóa và
phát triển con người. Cuốn sách cũng thảo luận cách ứng xử trước tác động
của toàn cầu hóa đối với sự phát triển con người và văn hóa (Dương Phú
Hiệp - Chủ biên, 2010b).
Trong hướng nghiên cứu nguồn nhân lực và toàn cầu hóa, chúng ta cần
đề cập đến công trình “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” do Phạm Minh Hạc chủ biên. Nghiên cứu này đã
luận giải nhiều vấn đề quan trọng của mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nghiên cứu này coi nguồn nhân lực như là 18
vấn đề then chốt trong giai đoạn hiện nay và nhấn mạnh đến việc phát huy,
bồi dưỡng nguồn lực. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng để tạo ra những điều kiện