ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG VĂN THỤ TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ TỰ CHỦ
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP:
NGHIÊN CỨU THĂM DÒ LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC 4
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập vừa qua, được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo
trong và ngoài Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại
học Quốc gia Hà Nội), bản thân tác giả đã tiếp thu được những kiến thức tương đối
toàn diện về các lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành Xã hội học và các khoa học liên
quan trong Chương trình cao học Xã hội học.
Thực hiện Luận văn này, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của các
giảng viên, cán bộ Khoa Xã hội học. Tác giả cũng nhận được sự giúp đỡ và tạo điều
kiện của Trường Quản lý KH&CN (nơi công tác), gia đình và bạn bè. Đặc biệt, phải
kể tới công lao của Giáo viên hướng dẫn - PGS. TS. Nguyễn Quý Thanh, Viện trưởng
Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, ĐHQG Hà Nội.
Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể Lãnh đạo, giảng viên và cán bộ Khoa Xã
hội học; Trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp nơi công tác, bạn bè và
gia đình đã giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian qua. Tác giả thể hiện lòng biết ơn sâu
sắc đối với PGS. TS. Nguyễn Quý Thanh - người đã chỉ bảo tận tình, giúp đỡ học viên
vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành Luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, 12 / 2012.
Học viên: Hoàng Văn Thụ
5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CGCN : Chuyển giao công nghệ
CL&CS : Chiến lược và chính sách
CNC : Công nghệ cao
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 12
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1. Lý thuyết về tổ chức học 12
1.2. Khái niệm khoa học, công nghệ, hoạt động KH&CN 17
1.3. Lý luận về tổ chức khoa học và công nghệ 21
1.4. Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 25
1.5. Tổ chức khoa học và công nghệ 28
Chƣơng 2. HIỆN TRẠNG CÁC TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP 44
2.1. Khái quát chung 44
2.2. Nguồn nhân lực của tổ chức KH&CN 45
2.3. Bối cảnh của việc chuyển đổi cơ chế hoạt động 46
2.4. Nghiên cứu trường hợp các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN 53
Chƣơng 3. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 115/2005/NĐ-CP 66
3.1. Tình hình chung 66
3.2. Kết quả thực hiện ở một số mặt 70
3.3. Kết quả thực hiện tại các Bộ, ngành Trung ương 75
3.4. Kết quả thực hiện tại các địa phương 81
7
3.5. Đánh giá chuyển đổi hoạt động và những khó khăn, tồn tại 82
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1. Kết luận 90
2. Khuyến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 95
8
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” đang được Hội nghị lần thứ
6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI xem xét, thảo luận; v.v.
Hơn 6 năm sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày
05/9/2005 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập
(Nghị định 115), hơn 4 năm sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 80/2007/NĐ-CP
ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp KH&CN (Nghị định 80) và hơn 2 năm sau ngày
Chính phủ ban hành Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115 và Nghị định số 80, việc thực thi các
nghị định đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất
cập. Trước thực tế đó, các nghiên cứu về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, về tổ
chức KH&CN và đánh giá tác động của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với
hoạt động của tổ chức KH&CN công lập là thực sự cần thiết. Yêu cầu của thực tiễn,
cùng với lòng đam mê nghiên cứu lĩnh vực liên quan là lý do đề tài “Tác động của cơ
chế tự chủ và hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ công lập: nghiên cứu
thăm dò”
(1)
được tác giả lựa chọn cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Tìm hiểu các nghiên cứu liên quan, chúng tôi thấy có nhiều tác giả đã dành thời
gian, công sức và tâm huyết nghiên cứu về tổ chức nói chung và tổ chức KH&CN nói
riêng. Mỗi một nghiên cứu lại nhìn nhận, đánh giá vấn đề từ các giác độ khác nhau.
Điều đó, một mặt, cho thấy đây là một lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn, thu hút được sự
quan tâm của các nhà khoa học, một mặt, cho thấy đây là một lĩnh vực nghiên cứu khó
và phức tạp. Chúng ta có thể kể ra một số nghiên cứu dưới đây:
Nguyễn Kim Công: Đánh giá hoạt động của các tổ chức KH&CN thành lập
theo Nghị định số 35/HĐBT trong các viện nghiên cứu và triển khai (nghiên cứu
trường hợp Viện KH&CN Việt Nam), Luận văn cao học, 2010;
Bạch Tân Sinh: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN
và sự chuyển đổi một số tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam sang hoạt động
theo cơ chế doanh nghiệp, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ năm 2003 - 2004;
sát, tìm hiểu một số tổ chức KH&CN công lập (như là các nghiên cứu trường hợp); và
3, Bước đầu tìm hiểu tác động của cơ chế tự chủ (theo tinh thần Nghị định 115)
đối với hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung:
- Nghiên cứu hiện trạng các tổ chức KH&CN công lập dưới sự quản lý của
các cơ quan Bộ, ngành và địa phương;
- Tìm hiểu tình hình thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ
trong các tổ chức KH&CN công lập;
11
- Bước đầu đánh giá tác động của cơ chế tự chủ (theo tinh thần Nghị định
115) đối với hoạt động của tổ chức KH&CN công lập.
Phạm vi không gian:
Tìm hiểu tình hình chung các tổ chức KH&CN công lập trên phạm vi cả nước,
khảo sát một số trường hợp là các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN ở khu vực
Đồng bằng Sông Cửu Long.
Phạm vi thời gian:
Nghiên cứu giai đoạn hiện nay (sau khi có Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của
Chính phủ, 2005). Nghiên cứu tài liệu tập trung vào báo cáo của các tổ chức KH&CN,
các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2009 - 2010.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Tổ chức KH&CN là gì?
- Thế nào là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm?
- Hiện trạng các tổ chức KH&CN công lập của Việt Nam thế nào?
- Hình thức tổ chức, hoạt động, đặc điểm của các tổ chức KH&CN công lập?
- Việc triển khai Nghị định 115 của Chính phủ ra sao?
- Tác động Nghị định 115 đối với hoạt động của tổ chức KH&CN công lập?
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu:
Tổ chức cơ học được xem như một tập hợp các vị trí công tác được xác định rõ
ràng, sắp xếp thành thứ bậc và quy định rõ mối quan hệ giữa chúng. Tổ chức này được
xem như một cỗ máy và người ta thiết kế nó như một cỗ máy. Sự phân công lao động
tỷ mỉ và chặt chẽ. Vị trí công tác của từng cá nhân được phân định chính xác. Mọi
hoạt động và quan hệ của bộ máy được xác định bằng văn bản, mọi sự thay đổi phải
do người ra văn bản đó thực hiện. Điều hành bộ máy bằng văn bản và dựa theo các
văn bản đó. Các cấp quản lý và nhân viên thực hiện báo cáo định kỳ hoặc báo cáo theo
yêu cầu bằng văn bản. Bệnh “quan liêu giấy tờ" là đặc trưng cho loại hình tổ chức
này, nếu không có giấy tờ thì không còn là tổ chức máy móc nữa.
13
Trong tổ chức cơ học người quản lý và người bị quản lý đều xác định được rõ
ràng nhiệm vụ, quyền hạn và hành động của mình. Điều này tạo ra cấu trúc hành
chính ổn định. Mọi cá nhân hành động theo quy định phụ thuộc vào những nguyên tắc
đã được xác định trong các luật lệ được ban hành trong tổ chức chứ không phụ thuộc
vào mong muốn của người có địa vị cao hơn. Người lãnh đạo cũng được xác định rõ
quyền hạn của mình, không thể tuỳ tiện hành động hoặc ban hành quyết định vượt quá
thẩm quyền. Các phương tiện và tài sản phục vụ cho công việc (công vụ) là của bộ
máy chứ không phải của cá nhân nào, kể cả người lãnh đạo cao nhất của tổ chức. Cá
nhân còn không được sử dụng cương vị của mình vào mục đích riêng tư.
1.1.1.2. Lý thuyết tổ chức hữu cơ
Lý thuyết tổ chức hữu cơ dựa trên quan điểm xem tổ chức như cơ thể sống tồn
tại trong môi trường, đòi hỏi phải thích nghi với môi trường đề tồn tại và phát triển.
Khác với tổ chức cơ học, tổ chức hữu cơ là hệ mở, luôn luôn thích nghi với biến động
của môi trường, sự cạnh tranh hoặc hợp tác với các tổ chức khác nhằm thích nghi hoặc
cải thiện môi trường. Các nhà quản lý đều biết rằng hành vi của cá nhân tại một thời
điểm nào đó được quyết định bởi nhu cầu mạnh nhất của họ: Abraham Maslow đã đưa
ra hệ thống phân cấp các nhu cầu của con người: Nhu cầu sống, nhu cầu an toàn, nhu
cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự khẳng định mình (Hình 1.1).
nhạy với thị trường. Lợi thế này được không những các tổ chức doanh nghiệp mà cả
các tổ chức sự nghiệp cũng sử dụng tạo sự mềm dẻo của cấu trúc và tăng khả năng
thích ứng với thị trường. Đây cũng chính là một giải pháp của ứng dụng quy luật tự
điều chỉnh của tổ chức.
1.1.1.4. Lý thuyết về tổ chức ảo
Những tiến bộ của công nghệ thông tin (CNTT) và viễn thông (VT) đã tạo ra
nền tảng mới cho sự phát triển của tổ chức. Cấu trúc dự án đã góp phần cải tạo cấu
trúc chức năng quan liêu cho thích nghi với những biến động của thị trường, nay áp
dụng những thành tựu của CNTT&VT đã làm cho cấu trúc ma trận có sức sống mới
và tạo ra những bước phát triển mới của cấu trúc dự án, tạo khả năng thích ứng nhanh
hơn, hoạt động hiệu quả hơn trong môi trường mới.
* Đặc trưng: Tổ chức ảo là bước phát triển logic trong tiến hoá của cấu trúc tổ
chức. Nhân viên không cần tập trung ở một nơi để làm việc như các loại hình tổ chức
khác mà có thể ở rải rác nhiều nơi trong nước hay thậm chí ở những nơi khác nhau
trên toàn thế giới. Tổ chức ảo mở đầu cho một mô hình tổ chức không biên giới, vượt
15
ra ngoài ranh giới quốc gia và đưa ra lời thách thức mới về nhiều vấn đề hiện nay. Tổ
chức ảo linh động và di động là hệ thống tạm thời của các tổ chức độc lập bao gồm
các nhà cung cấp, khách hàng, chính phủ và kể cả đối thủ cạnh tranh. Họ được nối với
nhau qua mạng chia sẻ dữ liệu thông tin và cả việc thâm nhập vào thị trường của nhau.
* Quản lý tổ chức ảo: Trong cấu trúc dự án, người quản lý quan tâm tới thời
gian hoàn thành và chất lượng công việc và thông thường quản lý trong tổ chức ảo trở
lại vấn đề quản lý theo tổ chức dự án. Theo nguyên tắc quản lý dự án, các tổ công tác
mở rộng phạm vi hoạt động và thường trực tiếp làm việc với khách hàng. Như vậy
tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của họ rất cao. Nhân viên trong tổ chức ảo chịu sự
quản lý của nhiều người hơn nhưng lại tự do hơn. Đặc trưng “phẳng” của tổ chức ảo
thúc đẩy các tổ chức độc lập tham gia vào tổ chức ảo càng ngày một “phẳng” hơn.
Việc chia các đơn vị theo chức năng chịu sự chi phối của thị trường với số lượng hợp
lý hơn, giảm đáng kể các tầng quản lý của cấu trúc quan liêu và tính tự chủ của các
của tổ chức hay của hệ thống, tạo ra đặc tính trội của hệ thống. Quy luật hệ thống chi
phối các mối quan hệ cơ bản của hệ thống tổ chức.
1.1.2.3. Quy luật đồng nhất và đặc thù
Tính đặc thù của tổ chức xác lập bản sắc của tổ chức, tạo sự khác biệt với các
tổ chức khác trong và ngoài hệ thống. Mỗi tổ chức có bản sắc tạo ra đa dạng tổ chức
của hệ thống, sự đa dạng ấy vừa làm cho hệ thống ổn định, vừa tạo ra những phát triển
mới trong việc phát huy tính trội của cá thể. Đồng nhất và đặc thù là một cặp phạm trù
đối lập nhau nhưng thường cộng sinh với nhau trong hệ thống như cặp phạm trù cạnh
tranh và hợp tác. Khi môi trường ổn định thì tính đồng nhất trội hơn, nhưng khi có
biến động thì từ đồng nhất xuất hiện những nét mới mang tính đặc thù thích nghi với
môi trường để phát triển và sau đó lại chuyển cấu trúc đồng nhất sang trạng thái mới
phát triển hơn để rồi lại xuất hiện những đặc thù mới.
1.1.2.4. Quy luật vận động không ngừng và theo quy trình
Tổ chức như một cơ thể sống, sự vận động là lẽ sống của nó. Vận động là điều
kiện tồn tại của tổ chức. Tổ chức không chỉ vận động không ngừng mà còn vận động
cùng với cả hệ thống cho đến những phần tử tạo nên tổ chức. Tổ chức lập ra để thực
hiện mục tiêu, quá trình thực hiện mục tiêu là quá trình vận động của tổ chức. Vận
động của tổ chức là tiếp nhận các yếu tố đầu vào, chế biến ra thành phẩm để đưa ra
môi trường, xã hội.
Quy trình vận động giúp tổ chức vận hành theo đúng tốc độ, đúng hướng và
đồng bộ. Việc xác lập vận động theo quy trình là điều kiện thực thi kiểm soát vận
17
động của tổ chức. Việc kiểm soát này nhằm điều chỉnh cho tổ chức hoạt động nhịp
nhàng và hiệu quả. Khi thiết kế tổ chức, việc ban hành điều lệ hoạt động của tổ chức
chính là xác lập sự vận động theo quy trình. Vì thế, việc xây dựng điều lệ chuẩn xác,
chặt chẽ là điều kiện quyết định cho điều hành tổ chức. Tuy nhiên, nếu thiết kế quy
trình này quá chặt chẽ sẽ trở ngại cho điều chỉnh khi vận hành. Khi phân tích, đánh giá
và dự báo sự phát triển, người ta xem xét kỹ quá trình vận động của tổ chức để có
những nhận xét chính xác. Đó là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá một tổ chức.
động đó”.
Theo từ điển Mac Millan (tiếng Anh, 2006): “Khoa học là một hoạt động
nghiên cứu và kiến thức về thế giới vật lý và hành vi của nó, dựa trên các thực nghiệm
và các sự kiện được kiểm chứng và được tổ chức thành hệ thống”. Tiếp theo định
nghĩa này, từ điển Mac Millan tách ra hai từ mục: (1) Khoa học là một lĩnh vực nghiên
cứu sử dụng các phương pháp khoa học, và (2) Khoa học là một chủ đề nghiên cứu,
chẳng hạn, vật lý học, hóa học.
Theo từ điển Cobuild dành cho người học (2001): “Khoa học là một nghiên
cứu (study) về giới tự nhiên và hành vi của giới tự nhiên”, đồng thời cũng đưa ra định
nghĩa thứ hai: “Khoa học là những tri thức đạt được từ việc nghiên cứu”. Còn “study”
thì được định nghĩa là “activities of studying”, nghĩa là một loại hoạt động.
Theo từ điển các ý tưởng Hutchison (1994): “Khoa học là một lĩnh vực nghiên
cứu mang tính hệ thống (any systematic field of study) và nhằm sản xuất ra (to
produce) các tri thức”.
Theo từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (1994): “Khoa học là một
thiết chế xã hội” (Nguyễn Khắc Viện gọi là thể chế xã hội). Định nghĩa này dựa trên
nghiên cứu của một nhà nghiên cứu lịch sử khoa học người Mỹ, D.J. Price, 1972.
Qua các từ điển và tài liệu được tra cứu, chúng ta thấy, về cơ bản có 4 định
nghĩa về khoa học dựa trên 4 cách tiếp cận sau:
- Khoa học là một hệ thống tri thức;
- Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức;
- Khoa học là một hình thái ý thức xã hội ;
- Khoa học là một thiết chế xã hội.
Cả 4 định nghĩa này đều có chỗ đứng trong tư duy và hành động của cộng đồng
những người làm nghiên cứu và quản lý khoa học.
22
Vũ Cao Đàm - Tạp chí Hoạt động khoa học, 8/2008
dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.
Tương tự, theo Luật Chuyển giao công nghệ (2006), công nghệ là “giải pháp,
quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến
đổi nguồn lực thành sản phẩm”.
3
Tài liệu môn học “Quản lý và đổi mới công nghệ”
20
Theo tác giả Trần Ngọc Ca: Công nghệ bao gồm phần mềm (các loại hình kiến
thức, thông tin, bí quyết, phương pháp được lưu giữ dưới các dạng khác nhau như
được nhớ, ghi chép), phần cứng (các loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất) và
một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ) được áp dụng vào môi trường thực
tế để tạo ra các loại sản phẩm.
4
1.2.3. Hoạt động KH&CN
Hoạt động KH&CN là các hoạt động hệ thống có liên quan chặt chẽ tới việc
sản xuất, truyền bá, nâng cao và ứng dụng các tri thức trong mọi lĩnh vực KH&CN, là
các khoa học tự nhiên và công nghệ, các khoa học y học và nông nghiệp, cũng như
các khoa học xã hội và nhân văn khác.
Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2000): “Hoạt động khoa học và công nghệ
bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học
và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và
các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ”.
Hoạt động KH&CN là khái niệm được UNESCO sử dụng để chỉ những hoạt
động xã hội được thực hiện bởi một bộ phận xã hội rộng lớn (các nhà khoa học, nhà
công nghệ) có liên quan đến việc thực hiện công tác nghiên cứu khoa học (NCKH) và
chuyển giao công nghệ (CGCN), phát triển KH&CN.
1.2.3.1. Mục tiêu của hoạt động KH&CN:
1.2.5. Dịch vụ khoa học và công nghệ
Dịch vụ KH&CN là các hoạt động phục vụ việc NCKH & phát triển công nghệ
(PTCN); hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ (SHTT), CGCN; các dịch vụ về thông
tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm
thực tiễn
6
.
1.2.6. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp do tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức
cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả NCKH &
PTCN thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp
và Luật Khoa học và Công nghệ
7
.
1.3. Lý luận về tổ chức khoa học và công nghệ
1.3.1. Khái niệm
Tổ chức KH&CN là tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Khoa học
và Công nghệ và các luật khác có liên quan để tiến hành các hoạt động KH&CN.
5
Luật Khoa học và Công nghệ (2000)
6
Luật Khoa học và Công nghệ (2000)
7
Nghị định 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ
22
1.3.2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại tổ chức KH&CN khác nhau tuỳ theo tiêu chí, mục tiêu
đã định. Thông thường tổ chức KH&CN được phân loại như sau:
1.3.3. Tổ chức nghiên cứu và phát triển
Tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D) được tổ chức dưới các hình thức:
Viện R&D, trung tâm R&D, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm
thử nghiệm, và các cơ sở R&D khác.
1.3.3.1. Nhiệm vụ của các tổ chức R&D
Theo quy mô tổ chức và phạm vi hoạt động, tuỳ theo phân cấp quản lý hành
chính, các tổ chức R&D được chia thành:
- Tổ chức R&D cấp quốc gia được thành lập chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ
KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho
việc hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật, tạo ra các kết quả KH&CN mới có ý
nghĩa quan trọng đối với phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN.
- Tổ chức R&D của Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương được lập ra chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ KH&CN phục vụ mục tiêu phát
triển KT-XH của ngành và địa phương, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về
KH&CN;
Hoạt động KH&CN
Dịch vụ KH&CN
Nghiên cứu - triển khai
Chuyển giao công nghệ
NC ứng dụng
NC cơ bản
Triển khai CN
vào sử dụng với hiệu suất cao để nhanh chóng hoàn vốn và thay thế. Vấn đề này hoàn
toàn dễ hiểu đối với các viện nghiên cứu công nghệ ở các nước phát triển nhưng lại là
vấn đề nan giải đối với các nước có nền kinh tế chỉ huy tập trung hay đang chuyển đổi
như ở nước ta. Với chế độ thuê mua tài chính, các viện nghiên cứu công nghệ có khả
năng tài chính dễ mua sắm, trang bị bất cứ thiết bị gì cần thiết cho R&D miễn là hoạt
động đó đem lại lợi nhuận và có khả năng thanh toán với công ty tài chính. Điều này
khá mới mẻ với các viện nghiên cứu công nghệ của nước ta.
- Thông tin: Đây là nguồn lực không thể thiếu của hoạt động KH&CN. Với xu
thế hội nhập, nguồn thông tin đủ sức cung cấp cho các nhà KH&CN. Bên cạnh việc
khai thác miễn phí, thì việc chi cho thông tin là hết sức cần thiết cho bất kỳ hoạt động
25
KH&CN nào của các tổ chức. Với sự phát triển của kỹ thuật thì điều kiện và phương
tiện ghi chép, lưu trữ, khai thác thông tin ngày càng tốt đáp ứng nhu cầu của các nhà
khoa học về nội dung, kịp thời và giá rẻ. Kết quả nghiên cứu của các nhà KH&CN
cũng sớm được công bố và đưa vào thương mại một cách nhanh chóng hơn.
1.4. Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Nghị định 115 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức
KH&CN công lập. Theo tinh thần của Nghị định 115, tổ chức KH&CN công lập được
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về (1) nhiệm vụ, (2) tài chính và tài sản, (3) tổ chức và
biên chế. Tổ chức KH&CN công lập bao gồm: tổ chức NCKH, tổ chức NCKH &
PTCN, tổ chức dịch vụ KH&CN có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng,
do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập. Nội dung cơ bản
của Nghị định 115 có thể tóm tắt như sau:
Lần đầu tiên phân định rõ các tổ chức KH&CN công lập thành hai loại với sự
phát triển theo các lộ trình khác nhau:
- Các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực NCCB, nghiên cứu chiến lược
và chính sách phục vụ quản lý nhà nước được ngân sách Nhà nước đảm bảo kinh phí
hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao trên cơ sở sắp xếp lại để nâng cao
hiệu quả hoạt động;
hướng riêng của mình. Một tổ chức tự chủ là một tổ chức có khả năng điều hành các
công việc của riêng mình.
- Theo Bách khoa thư về quản lý, tự chủ là mức độ tự quyền và độc lập mà
một công việc cho phép người làm được xác định xem sẽ thực hiện công việc đó như
thế nào (Marcia J. Simmering, 2006).
1.4.1.2. Khái niệm trách nhiệm
Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam (2005), “trách nhiệm” được hiểu là “khái
niệm của ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền nói lên một đặc trưng của nhân cách
trong việc thực hiện nghĩa vụ do xã hội đề ra. Trách nhiệm là sự tương xứng giữa
hoạt động với nghĩa vụ, là hệ quả của tự do ý chí của con người, là đặc trưng cho
hoạt động có ý nghĩa của con người.” (Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển
Bách khoa Việt Nam, 2005).