( Luận văn ThS. Du lịch học 2015 ) Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Ninh Bình - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tr-êng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n


PHẠM DUY PHONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH
TỈNH NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Du lịch học
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Văn Minh

Hà Nội, năm 2015
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Lƣợc sử vấn đề nghiên cứu 2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3.1. Mục tiêu nghiên cứu 2
3.2. Nội dung nghiên cứu 2
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1. Đối tượng nghiên cứu 3
4.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4
5.1. Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống 4
5.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 4
5.3. Phương pháp toán và thống kê du lịch 4
5.4. Phương pháp điều tra thực địa 4
5.5. Phương pháp so sánh đối chiếu 5
5.6 . Phương pháp chuyên gia và dự báo 5

2.3.4. Đào tạo nhân lực trong ngành du lịch 73
2.4. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình 76
2.4.1. Công tác quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực 76
2.4.2. Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ du lịch 79
2.5. Đánh giá chung về thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch 80
2.5.1. Những kết quả đạt được 80
2.5.2. Những hạn chế, nguyên nhân 81
Tiểu kết chƣơng 2: 82
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁPPHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH NINH BÌNHGIAI ĐOẠN 2013 - 2020 84
3.1. Một số định hƣớng phát triển du lịch và nhu cầu phát triển nguồn nhân
lực du lịch tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 84
3.1.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030 84
3.1.2. Định hướng phát triển nguồn nhân lực 85
3.2. Một số giải pháp chủ yếu 87
3.2.1. Kiện toàn tổ chức và nhân sự phụ trách công tác phát triển nguồn nhân
lực du lịch 87
3.2.2. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát triển nhân lực du lịch 92
Tiểu kết chƣơng 3: 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
1. Kết luận 99
2. Đề xuất, kiến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT



LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên trong luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học
Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tham gia
giảng dạy, quản lý và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Lê Văn
Minh - người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên
cứu thực hiện đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Lãnh đạo phòng Nghiệp Vụ Du lịch
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
thuận lợi để tôi được tham gia học tập và nghiên cứu.
Mặc dù bản thân đã hết sức nỗ lực cố gắng, song luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo
và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn

Phạm Duy Phong
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện.
Các số liệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa
từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác. Nếu có gì sai sót tôi xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm.

khả thi, góp phần nhanh chóng phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu
cầu cả về số lượng, chất lượng và có cơ cấu phù hợp là một việc làm cần thiết.
Vì vậy, đề tài “Phát triển nguồn nhân lực du lịch tỉnh Ninh Bình” là rất quan

2
trọng và cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn nhằm giải quyết những vấn đề tồn
đọng nêu trên.
2. Lƣợc sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách đầy đủ,
chi tiết về các giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình. Tuy
nhiên trong những năm qua Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch Ninh Bình nay là
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình cũng đã có thống kê và đưa ra
giải pháp để phát triển nguồn nhân lực du lịch giai đoạn 2005 - 2010.
Tuy nhiên, trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong cả nước cũng có nhiều
công trình nghiên cứu về nhu cầu nguồn nhân lực du lịch ở cấp địa phương
(ví dụ đề tài luận văn “Phát triển đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tại Quảng
Ninh” của tác giả Bùi Thị Thúy Hằng… Đối với ngành du lịch cả nước, Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì xây dựng Quy hoạch phát triển nguồn
nhân lực du lịch Việt Nam đến năm 2020. Theo đó, đã xác định nhu cầu (về
số lượng, trình độ đào tao, cơ cấu chuyên môn nghiệp vụ…) về nguồn nhân
lực du lịch cho cả nước, từng vùng du lịch trọng điểm và một số địa phương
có ngành du lịch phát triển. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các tỉnh, thành
phố trong cả nước xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực du lịch cho
địa phương mình.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài là đề xuất các giải pháp khả thi,
góp phần thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực du lịch cả về số lượng, chất
lượng, cơ cấu lao động du lịch, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch tỉnh Ninh
Bình nhanh và bền vững.

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các yếu tố liên quan đến
nguồn nhân lực du lịch, tập trung vào lực lượng lao động trực tiếp của ngành
du lịch Ninh Bình; công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực du lịch và đề
xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch.

4
- Về thời gian: các tài liệu thứ cấp đưa vào nghiên cứu, phân tích được
thu thập trong thời gian từ 2000 - 2013; Các tài liệu, số liệu sơ cấp được thu
thập từ 2009 - 2013. Các giải pháp đưa ra để thực hiện trong giai đoạn từ
2013 đến 2020, tạo cơ sở phát triển đến 2030.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp
luận cho quá trình phân tích, kết luận các vấn đề nghiên cứu.
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
5.1. Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống
Đây là phương pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nghiên
cứu các đối tượng có mối quan hệ đa chiều và nhiều biến động trong không
gian như ngành du lịch nói chung và nguồn nhân lực du lịch nói riêng.
5.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
Phương pháp này hết sức cần thiết cho việc thực hiện các đề tài nghiên
cứu về du lịch. Để có được một lượng thông tin đầy đủ cần tiến hành thu thập
thông tin, dữ liệu từ các nguồn khác nhau.
5.3. Phương pháp toán và thống kê du lịch
Đây là phương pháp không thể thiếu được trong các đề tài nghiên cứu
khoa học. Những thông tin, số liệu có liên quan đến hoạt động du lịch, đến
nguồn nhân lực du lịch trên địa bàn sẽ được thu thập, thống kê làm cơ sở
cho việc xử lý, phân tích, đánh giá nhằm thực hiện những mục tiêu đặt ra của
đề tài.
5.4. Phương pháp điều tra thực địa
Phương pháp này có mục đích cơ bản là điều tra nhằm bổ sung hoặc

khảo, Phụ lục, Luận văn được bố cục thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch và nguồn
nhân lực du lịch.
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình.
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực
du lịch tỉnh Ninh Bình

6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DU LỊCH VÀ NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch
1.1.1.1. Du lịch và ngành du lịch
Du lịch là một hiện tượng xã hội, liên quan đến hoạt động nghỉ ngơi
của con người cũng như các hoạt động kinh tế phục vụ mục đích đó. Trong
quá trình phát triển của xã hội loài người, nội dung của khái niệm du lịch
không ngừng được mở rộng. Thuở ban đầu, du lịch chỉ được hiểu đơn thuần
là các chuyến đi xa ra khỏi nơi cư trú để thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết
về thế giới xung quanh. Sau này khi các chuyến đi với các mục đích khác
nhau được kết hợp với nhu cầu du lịch thì khái niệm trên không còn bó hẹp và
đã được gắn liền với tên các hoạt động như du lịch thể thao, du lịch tôn giáo,
du lịch thăm thân, du lịch nghỉ dưỡng
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến
không chỉ ở những nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển,
trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay nhận thức về nội dung du lịch
vẫn chưa thống nhất trong một định nghĩa.
Do hoàn cảnh thời gian, khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên
cứu khác nhau, người ta đưa ra khá nhiều định nghĩa về du lịch. Theo Tiến sỹ
Berner – một chuyên gia hàng đầu về du lịch trên thế giới đã nhận định: “Đối
với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [12

người lại nhấn mạnh thêm việc rời khỏi nơi cư trú của mình "không phải theo
đuổi mục đích kinh tế" [12, tr.17]. Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của
ngành du lịch thì chính các thương gia, trong quá trình mở rộng quan hệ làm
ăn buôn bán của họ là một đối tượng phục vụ quan trọng của ngành du lịch.
Từ những nhận định trên, ta nhận thấy du khách là những người từ xa
tới và có mục đích thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết và phục hồi sức khoẻ.
Khái niệm về du khách được ghi trong Luật Du lịch là khái niệm có tính khoa

8
học và pháp lý phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài. “Khách du lịch là
người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc
hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [25, tr. 20].
b. Phân loại khách du lịch: Trên cơ sở khái niệm khách du lịch nêu trên ta có
thể phân loại khách du lịch như sau:
+ Phân loại theo vùng địa lý: khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và
khách du lịch quốc tế:
- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài
thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam [25, tr.
40].
- Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài vào Việt Nam du lịch hoặc người Việt Nam, người nước ngoài cư
trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch [25, tr. 40].
+ Phân theo hình thức đi du lịch:
- Khách du lịch đi theo tour (trọn gói, hoặc tour mở)
- Khách du lịch tự do (không theo tour)
+ Phân loại theo thời gian ở:
- Khách lưu trú
- Khách không lưu trú
+ Phân loại theo mục đích chuyến đi:
- Khách tham quan: là loại khách đến chỉ với mục đích tham quan các

xã hội của quốc gia, khu vực và thế giới.
Xem xét con người từ góc độ là những lực lượng lao động cơ bản nhất
trong xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin coi nguồn lực con người là lực lượng sản
xuất hàng đầu của nhân loại, là phương tiện chủ yếu để sản xuất hàng hóa,
dịch vụ.
Lý luận về vốn con người xem xét nhân tố con người với tư cách là một
yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế - xã hội và
còn xem xét con người từ quan điểm nhu cầu về các nguồn cho sự phát triển
của nó.

10
Với cách tiếp cận này, Ngân hàng Thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là
toàn bộ vốn con người gồm: thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,… mà mỗi
cá nhân sở hữu và được xem là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất
khác như: vốn tiền, vốn công nghệ, vốn tài nguyên thiên nhiên,… và họ cũng
cho rằng việc đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư
và được coi là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững [5].
Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Nhân lực là sức người dùng trong sản
xuất”. Ở đây, nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người,
bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất,
thái độ và phong cách làm việc.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở
hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn
lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác
nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn
nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân. Với tư cách là
một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con
người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được
biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Với cách hiểu như vậy, nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm

quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
- Cơ cấu nguồn nhân lực: đây là yếu tố không thể thiếu khi xem xét
đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện
khác nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, dân tộc, giới tính, độ tuổi,…
Từ những phân tích trên, trong Luận văn này khái niệm nguồn nhân lực
được hiểu như sau: nguồn nhân lực là một phạm trù mang tính tổng hợp để
chỉ tổng thể tiềm năng lao động của con người để làm ra của cải vật chất cho
xã hội. Nguồn nhân lực sẽ được thể hiện qua các tiêu chí về số lượng, chất
lượng và cơ cấu nguồn nhân lực tham gia vào nền sản xuất xã hội.
Ngày nay, trong hoạt động kinh tế và quản trị kinh doanh, nhiều nhà
nghiên cứu đã cho rằng: rủi ro của mọi rủi ro là rủi ro về nguồn nhân lực. Vì vậy

12
nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng, có tính chất quyết định đến sự thành
bại của tổ chức. Bất kể một tổ chức nào dù mạnh hay yếu thì yếu tố con người
vẫn là yếu tố đầu tiên và cơ bản nhất. Trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay, các
thay đổi là cần thiết trong lực lượng lao động của mỗi quốc gia nhằm định
hướng, giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các doanh nhân thấy được và
định hướng sự phát triển nguồn nhân lực của mình và từ đó đáp ứng các cơ hội
và thách thức do hội nhập quốc tế mang lại.
*) Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn lực con người, hoặc phát triển NNL, hoặc phát triển
nguồn tài nguyên con người là những khái niệm hình thành và phát triển trên
thế giới, dựa trên quan điểm mới về phát triển và về vị trí con người trong sự
phát triển.
Phát triển NNL theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạt động học tập có tổ
chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để tạo ra sự thay
đổi về hành vi nghề nghiệp cho người LĐ được thực hiện bởi doanh nghiệp.
Phát triển NNL cũng được hiểu cơ bản là gia tăng giá trị cho con người
trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực, làm cho con người

được chia làm 3 nhóm chính sau:
+ Nhóm lao động chức năng quản lý nhà nước về du lịch: Nhóm này có
vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia
và từng địa phương, tham mưu hoạch định chính sách phát triển du lịch. Họ đại
diện cho Nhà nước để hướng dẫn, giúp đỡ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du
lịch kinh doanh có hiệu quả; kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh.
+ Nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch: Đây là bộ phận
có trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về ngành du lịch, có chức
năng đào tạo, nghiên cứu khoa học về du lịch và có vai trò to lớn trong việc
phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch, tác động lớn đến chất lượng và số
lượng của nguồn nhân lực ngành du lịch hiện tại và trong tương lai.

14
+ Nhóm lao động chức năng kinh doanh: Nhóm lao động này chiếm số
lượng đông đảo nhất trong hoạt động của ngành du lịch và cần được nghiên
cứu kỹ lưỡng nhất.
Nhóm lao động chức năng kinh doanh có một số đặc điểm riêng là:
- Cơ cấu độ tuổi trẻ, tỷ lệ lao động nữ cao hơn so với lao động nam:
xuất phát từ tính đặc thù của ngành du lịch đòi hỏi phải có lực lượng lao động
có sức khoẻ, trẻ trung và nhanh nhẹn, nên hình thành lực lượng lao động có
cơ cấu độ tuổi trẻ. Nhiều lĩnh vực phục vụ khách du lịch như lễ tân, bàn, bar,
buồng đòi hỏi có sự duyên dáng, cẩn thận và khéo léo của người phụ nữ. Vì
vậy, tỷ lệ lao động nữ thường cao hơn lao động nam.
- Không đồng đều về chất lượng và cơ cấu: Có sự phân bố không đồng
đều theo lãnh thổ và các nghiệp vụ du lịch. Xuất phát từ tính định hướng tài
nguyên rõ nét của ngành du lịch, các hoạt động du lịch thường diễn ra tại các
khu, điểm du lịch, những nơi có nhiều tài nguyên du lịch và được đầu tư đồng
bộ về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật ngành. Vì vậy, phần lớn lao động đã qua
đào tạo đều làm việc tại những khu du lịch, trung tâm du lịch lớn, ở những
khu vực còn lại thường thiếu lao động.

lịch là loại lao động trí óc đặc biệt. Sản phẩm mà họ làm ra chính là những
quyết định. Quyết định của cán bộ lãnh đạo trong lĩnh vực kinh doanh du lịch
có tác động quan trọng để mang lại hiệu quả kinh doanh, nâng cao hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp du lịch. Quyết định đúng hoặc sai, chất lương
cao hay thấp hoàn toàn phu thuộc vào trình độ năng lực của người lãnh đạo
Như vậy, ra quyết định và tổ chức thực hiện ra quyết định thể hiện rõ
nét nhất đặc điểm lao động trí óc của người lãnh đạo trong lĩnh vực kinh
doanh du lịch. Đặc điểm này đòi hỏi lao động của người lãnh đạo phải là lao
động được đào tạo chu đáo, phải có bằng quản lý, phải qua các lớp quản lý về
du lịch phải thương xuyên học hỏi từ hoạt động thực tiễn.
Hai là, lao động của người lãnh đạo trong kinh doanh du lịch là loại lao
động tổng hợp. Tính tổng hợp của lao động lãnh đạo biểu hiện ở chỗ nó vừa

16
là lao động quản lý vừa là lao động giáo dục, lao động chuyên môn, vừa là lao
động của các hoạt động xã hội khác.
Quan hệ của doanh nghiệp du lịch vô cùng đa dạng và phức tạp. Đó là
một xã hội thu nhỏ, chồng chéo vô số các mối quan hệ. Với tư cách là lao
động quản lý, người lãnh đạo chịu trách nhiệm điều hoà các mối quan hệ trên.
Điều hoà và cân đối càng giỏi, chứng tỏ năng lực quản lý càng cao. Vì chỉ cần
một trục trặc một mối quan hệ sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ dây chuyền kinh
doanh.
Với tư cách là nhà giáo dục, đạo đức, lao động của người lãnh đạo là
thuyết phục và hướng dẫn, là tấm gương cho mọi người trong tổ chức làm
việc và biết làm việc một cách trật tự có ngăn nắp. Cán bộ lãnh đạo trong lĩnh
vực kinh doanh du lịch đòi hỏi ngày càng phải có một bản lĩnh chính trị vững
vàng và phẩm chất đạo đức tốt. Đó là sự trung thành, trân trọng những truyền
thống tốt đẹp của dân tộc. Là sự am hiểu đường lối chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước, quán triệt những đường lối, chủ trương chính sách đó
trong công việc điều hành của mình. Sống đúng đạo lý của dân tộc. Luôn giữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status