Hoạt động Kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HOÀNG KIM ĐỒNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội – 2014

Hà Nội – 2014 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dƣới
sự hƣớng dẫn khoa học của Tiến sĩ Vũ Anh Dũng, Phó Hiệu trƣởng Trƣờng Đại học
kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tất cả các số liệu đƣợc sử dụng trong Luận văn là trung thực.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình. TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh
Quảng Bình
Số trang: 80
Trƣờng: Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Khoa: Kinh tế Chính trị
Thời gian: 2014 Bằng cấp: Thạc Sỹ
Ngƣời nghiên cứu: Hoàng Kim Đồng
Giáo viên hƣớng dẫn: TS. Vũ Anh Dũng
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu trong thời đại
ngày nay. Việt Nam đã và đang thực hiện mạnh mẽ, sâu rộng hội nhập quốc tế trên tất
cả các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực kinh tế đối ngoại đã đạt nhiều thành tựu đáng kể.
Trong tiến trình đó, ngành Hải quan nói chung và Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình nói
riêng có nhiệm vụ tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) và đầu tƣ
trong điều kiện giao thƣơng giữa Việt Nam và các nƣớc ngày càng tăng. Theo đó,
ngành Hải quan đã và đang cải cách mạnh mẽ thủ tục hải quan, hiện đại hóa công tác
quản lý nhà nƣớc về hải quan. Một trong những hoạt động nghiệp vụ mang tính đột
phá là triển khai nghiệp vụ “Kiểm tra sau thông quan” nhằm chuyển mạnh từ “Tiền
kiểm sang Hậu kiểm”, cắt giảm đáng kể thời gian thông quan hàng hóa XNK tại các
cửa khẩu, đồng thời vẫn đảm bảo công tác quản lý nhà nƣớc về hải quan, phát hiện
kịp thời và ngăn chặn các hành vi buôn lậu, gian lận thƣơng mại, đảm bảo công bằng
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.
Nhƣ vậy, hoạt động kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong quản lý Nhà nƣớc về Hải quan, thực hiện tốt và có hiệu quả hoạt
động này sẽ đáp ứng đƣợc yêu cầu đặt ra cho ngành hải quan nêu trên.

luật liên quan, xây dựng cơ sở dữ liệu và công tác tuyên truyền); thứ hai là đề xuất giải
pháp mới, đó là: đảm bảo chuyên sâu, chuyên nghiệp của lực lƣợng KTSTQ; đảm bảo
tính độc lập tƣơng đối về tổ chức bộ máy và quan hệ công tác của lực lƣợng KTSTQ.
Nhƣ vậy, Luận văn đã đạt đƣợc mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu là đƣa ra
giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình. MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN
ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Tổng quan 4
1.1.2 Những vấn đề cần quan tâm 6
1.2 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động kiểm tra sau thông quan 7
1.2.1 Khái quát chung về kiểm tra sau thông quan 7
1.2.2 Mô hình trong hoạt động kiểm tra sau thông quan 16
1.2.3 Cơ sở pháp lý về KTSTQ 19
1.2.4 Các quy định cụ thể về Kiểm tra sau thông quan 19
1.3 Kinh nghiệm về hoạt động kiểm tra sau thông quan tại một số địa phƣơng trong
nƣớc và các nƣớc trên thế giới 31
1.3.1 Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Kiểm tra sau thông quan 31
1.3.2 Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan TP. Đà Nẵng 35
1.3.3 Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Nhật Bản 37
1.3.4 Hoạt động kiểm tra sau thông quan của Singapore 38
1.3.5 Rút ra bài học kinh nghiệm 39

Hải quan tỉnh Quảng Bình 66
CHƢƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KTSTQ
TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG BÌNH 68
4.1 Tính tất yếu và mục tiêu hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải
quan tỉnh Quảng Bình 68
4.1.1.Tính tất yếu cần phải tiếp tục hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan tại
Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình 68
4.1.2 Đề xuất mục tiêu phát triển của hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải
quan tỉnh Quảng Bình 68 4.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan tỉnh Quảng
Bình và điều kiện thực hiện các giải pháp đó 69
4.2.1 Tiếp tục hoàn thiện các giải pháp đã có 69
4.2.2 Đề xuất giải pháp mới 74
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 1 1
PHỤ LỤC 2 4 i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
ASEAN

Xuất khẩu
12
XNK
Xuất nhập khẩu. ii

DANH MỤC BẢNG

STT
Bảng
Nội dung
Trang
1
Bảng 1.1
Số liệu truy thu thuế của Cục kiểm tra sau thông quan
từ năm 2010-2013
33
2
Bảng 1.2
Kết quả KTSTQ từ năm 2010 đến 2013 của Hải quan
Đà Nẵng
36
3
Bảng 3.1
Số liệu thu thuế, kim ngạch XNK và tờ khai từ năm
2010-2013 tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình
50
4

Nội dung
Trang
1
Sơ đồ 1.1
Hoạt động quản lý của cơ quan hải quan đối với
hàng hóa XNK
8
2
Sơ đồ 1.2
Mô hình tổ chức bộ máy của Hải quan Việt Nam
18
3
Sơ đồ 1.3
Mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống KTSTQ
trong ngành hải quan
18
4
Sơ đồ 1.4
Qui trình kiểm tra sau thông quan
30
5
Sơ đồ 1.5
Tổ chức bộ máy của Cục Kiểm tra sau thông quan
31
6
Sơ đồ 3.1
Tổ chức bộ máy của Cục Hải quan Quảng Bình
46

1

đƣợc những kết quả nhất định, nhƣng vẫn chƣa thực sự đáp ứng yêu cầu đòi hỏi nêu

2

trên, hiệu quả mang lại chƣa cao, do đó cần thiết phải có những giải pháp hữu hiệu
để hoàn thiện KTSTQ, đáp ứng yêu cầu cấp thiết trong tình hình hiện nay. Câu hỏi
đặt ra cho Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình hiện nay là Làm thế nào để hoàn thiện
hoạt động kiểm tra sau thông quan.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, bằng những kinh nghiệm công tác trong
ngành hải quan và những kiến thức đã đƣợc trang bị trong thời gian học cao học
kinh tế chính chính trị, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Hoạt động kiểm tra sau thông
quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình” nhằm trả lời cho câu hỏi đặt ra trên.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan
tỉnh Quảng Bình.
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt đƣợc mục tiêu đó, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản liên quan đến hoạt động KTSTQ.
- Nghiên cứu hoạt động KTSTQ tại một số địa phƣơng trong nƣớc và Hải
quan Nhật Bản, Singapore, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm để áp dụng tại Cục
Hải quan tỉnh Quảng Bình.
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan tỉnh Quảng
Bình trong thời gian qua, tìm ra những nguyên nhân hoạt động chƣa hiệu quả.
- Đề xuất giải pháp và điều kiện vận dụng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến hiện trạng hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan
tỉnh Quảng Bình, một số địa phƣơng trong nƣớc và Hải quan Nhật Bản, Singapore.
3.2 Phạm vi nghiên cứu

4

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
Tại Chƣơng này bao gồm có 3 phần chính:
- Phần thứ nhất: Tổng hợp tình hình nghiên cứu liên quan đến hoạt động
KTSTQ trong những năm gần đây, từ đó xác định rõ những vấn đề gì đã đƣợc
nghiên cứu, những vấn đề gì cần tiếp tục nghiên cứu, đào sâu thêm cũng nhƣ cần
thiết phải kế thừa.
- Phần thứ hai: Là những vấn đề cơ bản mang tính lý luận liên quan đến hoạt
động KTSTQ để làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực tế về hoạt động KTSTQ.
- Phần thứ ba: Kinh nghiệm hoạt động KTSTQ tại một số địa phƣơng trong
nƣớc và 2 nƣớc trên thế giới.
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan
- Lực lƣợng KTSTQ trong ngành Hải quan Việt Nam đƣợc thành lập và
chính thức đi vào hoạt động từ năm 2002, là thời điểm nghiệp vụ KTSTQ đƣợc quy
định tại Luật Hải quan năm 2002. Tuy nhiên, hoạt động KTSTQ bắt đầu hoạt động
có nề nếp và hiệu quả là từ năm 2006, thời điểm Nghị định 154/2005/NĐ-CP của
Chính phủ quy định chi tiết về KTSTQ đƣợc ban hành và có hiệu lực thi hành. Từ
đó, hoạt động KTSTQ đã lớn mạnh cả chiều rộng và chiều sâu. Tuy nhiên, do
nghiệp vụ này vẫn còn non trẻ so với lịch sử 69 năm hình thành và phát triển của
ngành Hải quan Việt Nam nên rất nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động này cần
phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, trong đó vấn đề quan trọng nhất là làm thế nào
để hoàn thiện hoạt động KTSTQ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
- Trƣớc đòi hỏi của việc hoàn thiện công tác KTSTQ, thời gian qua, ngành
Hải quan đã có nhiều hội thảo và hội nghị chuyên đề trong nội bộ ngành về việc làm
thế nào để hoàn thiện công tác KTSTQ; Tổng cục Hải quan cũng đã đƣa ra một số
giải pháp triển khai trong thực tế. Theo đó, một số vấn đề dần đƣợc luật hóa và truy

đó có nội dung KTSTQ, nên công trình này bƣớc đầu đã đƣa ra đƣợc cơ sở lý luận
về nghiệp vụ KTSTQ, làm nền tảng cho việc hoàn thiện lý luận cũng nhƣ các
nghiệp vụ về KTSTQ. Cũng nhƣ Cuốn “Nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan” của
tác giả Phạm Ngọc Hữu, công trình của Mai Thế Huyên còn bộc lộ một số vấn đề

6

cần hoàn thiện để theo kịp với quá trình cải cách thủ tục của ngành hải quan cũng
nhƣ những kỹ thuật mới đƣợc áp dụng trong hoạt động KTSTQ.
+ Các tác giả là công chức trong ngành Hải quan, có bài viết đăng trên “Tạp
chí nghiên cứu hải quan”, Báo Hải quan từ năm 2005 đến nay: hầu hết các bài viết
là những tóm lƣợc, phân tích, đánh giá và đề xuất cụ thể đối với từng trƣờng hợp cụ
thể đã xẩy ra trong thực tế về nghiệp vụ KTSTQ. Trong đó, có một số bài đề cập
khá sâu đến vấn đề hoàn thiện hoạt động KTSTQ, đây là những tài liệu tham khảo
cần thiết để hoàn thành luận văn này.
Nhƣ vậy, những công trình nghiên cứu, bài viết trên, đặc biệt là công trình
của tác giả Trần Vũ Minh, ở góc độ này hay góc độ khác đã hệ thống hoá, làm sáng
tỏ một số vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn có liên quan đến hoạt động KTSTQ, đề
cập đến nhiều khía cạnh khác nhau và thực tế quản lý của nhiều địa phƣơng khác
nhau. Các đề tài đã có những đóng góp nhất định trong việc nâng cao hiệu quả
KTSTQ, đây là những tài liệu tham khảo hết sức bổ ích để Luận văn này kế thừa và
tiếp tục phân tích, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động KTSTQ tại Cục Hải
quan tỉnh Quảng Bình.
Tuy nhiên, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế của Đất nƣớc nói chung và
hoạt động XNK nói riêng, có những điều kiện, những đòi hỏi về mặt chính sách và
quản lý khác nhau, vì thế không có giải pháp hiệu quả cho tất cả các giai đoạn phát
triển cũng nhƣ tại tất cả các địa phƣơng. Mặt khác, từ năm 2011 đến nay, chƣa có
một nghiên cứu cụ thể và sâu rộng nào về hoạt động KTSTQ trong ngành Hải quan
Việt Nam nói chung và tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình nói riêng.
Đề tài này hy vọng sẽ góp phần hoạt thiện hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan

chia ra 3 giai đoạn để quan lý, theo dõi và kiểm tra, đó là Trước thông quan- Trong
thông quan và Sau thông quan (tƣơng ứng với: trƣớc khi hàng hóa XNK, trong quá
trình hàng hóa làm thủ tục XNK và sau khi hàng hóa đã XNK qua lãnh thổ) và dĩ
nhiên mỗi giai đoạn đều phải có một nghiệp vụ riêng để quản lý. Ở đây, luận văn đi
sâu vào giai đoạn Sau thông quan mà cụ thể hơn là Kiểm tra sau thông quan (xem
sơ đồ 1.1).
8 Sơ đồ 1.1 Hoạt động quản lý của cơ quan hải quan đối với hàng hóa XNK
Nghiệp vụ KTSTQ ra đời muộn hơn so với nghiệp vụ trƣớc thông quan và
trong thông quan, lý do chủ yếu là: khi hoạt động XNK ngày càng phát triển, mở
rộng và đa dạng nên đòi hỏi cơ quan hải quan phải tạo thuận lợi cho hoạt động này,
mặt khác đã xuất hiện các hiện tƣợng gian lận, trốn thuế, bán phá giá nên đòi hỏi
phải có biện pháp kiểm soát, biện pháp đó là Kiểm tra sau thông quan. Hoạt động
này vừa để giảm áp lực cho khâu trƣớc và trong thông quan, vừa góp phần ngăn
chặn và phát hiện gian lận, trốn thuế, cạnh tranh không lành mạnh
Hoạt động KTSTQ đƣợc hình thành và hoàn thiện dần cùng với sự hình
thành và phát triển của khoa học về quản lý rủi ro trong nghiệp vụ hải quan các
nƣớc trên thế giới. Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) đƣợc thành lập năm 1993 mà
tiền thân là Hội đồng Hợp tác hải quan (CCC), từ những năm 60 của thế kỷ XX đã

nhƣ Châu Âu và Nhật Bản đã áp dụng rất sớm nghiệp vụ này. Việc áp dụng biện
pháp KTSTQ giúp cơ quan Hải quan tập trung vào việc chỉ kiểm tra những đối
tƣợng trọng điểm có các hoạt động XK, NK không minh bạch. Đây là một công cụ
hữu hiệu đối với công tác quản lý nhà nƣớc về Hải quan, bởi vì:
- Đồng thời KTSTQ cũng cho phép cơ quan Hải quan áp dụng các biện pháp
giám sát Hải quan theo hƣớng đơn giản hoá, ƣu tiên làm thủ tục hải quan nhanh
chóng, thuận tiện đối với doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan;
- KTSTQ là một trong những biện pháp đấu tranh phòng, chống buôn lậu,
gian lận thƣơng mại, trốn thuế hiệu quả nhất trên cơ sở xác định đƣợc một bức
tranh rõ ràng và đầy đủ về các giao dịch có liên quan tới hoạt động XNK của các
doanh nghiệp.
- Tổ chức Hải quan ASEAN: các nƣớc ASEAN, khi tiến hành biện pháp
KTSTQ, không có một khuôn mẫu chung nào bởi mỗi nƣớc áp dụng các phƣơng
pháp triển khai thực hiện khác nhau. Do đó, để thực hiện KTSTQ, tổ chức ASEAN
đã nghiên cứu xây dựng một cuốn sách hƣớng dẫn về vấn đề này để định hƣớng cho
các nƣớc thành viên áp dụng một chiến lƣợc tổng thể và có phƣơng pháp chung
thực hiện thống nhất trong Khối. Tổ chức này đã xây dựng kế hoạch hành động hải
quan ASEAN về kiểm toán sau thông quan (PCA) với mục tiêu hỗ trợ các nƣớc
thành viên về nghiệp vụ KTSTQ.

10

- Trong khối ASEAN, nƣớc có hệ thống KTSTQ khá phát triển nhất là Hải
quan Singapore. KTSTQ của Hải quan Singapore rất hiện đại với bộ máy tinh gọn,
chuyên nghiệp và minh bạch.
- Đối với Hải quan Việt Nam: trƣớc khi Luật Hải quan có hiệu lực thi hành
vào 01/01/2002 thì nghiệp vụ KTSTQ theo quy định tại Điều 10 Nghị định số
16/1999/NĐ-CP ngày 27/03/1999 quy định về thủ tục hải quan, giám sát và lệ phí
hải quan, đƣợc gọi là kiểm tra sau giải phóng hàng. Những nội dung về kiểm tra
sau giải phóng hàng khi đó chƣa đƣợc quy định đầy đủ về cơ sở pháp lý, phƣơng

quan bằng việc kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi chép về kế toán và thƣơng mại liên
quan đến hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hoá và tất cả các số liệu, thông tin,
bằng chứng khác mà hiện tại đang đƣợc các đối tƣợng kiểm tra (cá nhân hoặc doanh
nghiệp) trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán quốc tế nắm giữ.”
- Công ước Kyoto Sửa đổi, 1999, thì: “Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện
pháp đƣợc cơ quan hải quan tiến hành nhằm thoả mãn mục đích của họ trong việc xác
định tính chính xác và trung thực của các tờ khai hàng hoá thông qua kiểm tra các chứng
từ, biên bản, hệ thống kinh tế và dữ liệu thƣơng mại của các bên liên quan.”
- Theo Tổ chức Hải quan ASEAN: “KTSTQ là một biện pháp kiểm soát hải
quan có hệ thống mà cơ quan hải quan thoả mãn về độ chính xác và trung thực của
việc khai báo hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống
kinh doanh, dữ liệu thƣơng mại của cá nhân, các công ty tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp vào thƣơng mại quốc tế.” .
- Quy định của Việt Nam, tại Khoản 1, Điều 32, Luật Sửa đổi, Bổ sung một
số điều của Luật Hải quan, quy định:
KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan nhằm:
 Thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ mà chủ hàng,
người được chủ hàng uỷ quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu đã khai,
nộp, xuất trình với cơ quan hải quan đối với hàng hoá XK, NK đã được thông quan;
 Thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải
quan đối với hàng hoá XK, NK.
Nhƣ vậy, các khái niệm đều chỉ ra KTSTQ là hoạt động nghiệp vụ của cơ
quan hải quan. Đó là phƣơng pháp kiểm tra ngƣợc, diễn ra đối với hàng hóa xuất

12

khẩu, nhập khẩu đã đƣợc thông quan nhằm thẩm định tính chính xác, trung thực của
các chứng từ khai báo hải quan.
Khái niệm KTSTQ của Tổ chức Hải quan thế giới và của Tổ chức Hải quan
ASEAN có khác nhau về câu chữ nhƣng nội hàm hoàn toàn giống nhau. Hai khái

doanh nghiệp;
- Ba là, tăng thu thuế, giảm thiểu chi phí và rủi ro: góp phần ngăn chặn tình
trạng thất thu cho ngân sách nhà nƣớc, giảm chi phí quản lý về hải quan; giảm thiểu rủi
ro cho các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hải quan. Từ năm 2010 đến 2013,
lực lƣợng KTSTQ toàn ngành Hải quan đã góp phần tăng thu ngân sách nhà nƣớc khá
lớn (xem bảng 1.1),
- Bốn là, tác động tích cực trở lại với hệ thống quản lý của cơ quan hải quan
thông qua việc nhận biết và xử lý các rủi ro tiềm ẩn của hệ thống;
- Năm là, mở rộng phạm vi kiểm tra: thông qua hoạt động KTSTQ có thể mở
rộng phạm vi kiểm tra tiếp theo khi cần thiết trong nhiều lĩnh vực khác, nhƣ giấy
phép, hạn ngạch, xuất xứ hàng hoá, bán phá giá…;
- Sáu là, KTSTQ là công cụ hiệu quả đối với công tác kiểm tra, giám sát của
cơ quan hải quan: thông qua nghiệp vụ này, cơ quan hải quan thêm thông tin về
hàng hóa XK, NK trên cơ sở kiểm tra hệ thống sổ sách kế toán và báo cáo tài chính
của doanh nghiệp;
- Bảy là, KTSTQ góp phần đơn giản hóa trong giám sát, quản lý hải quan:
cho phép cơ quan hải quan áp dụng đơn giản hoá các biện pháp giám sát, quản lý
trên cơ sở hiện đại hoá hải quan nhƣng vẫn bảo đảm chức năng quản lý nhà nƣớc
của cơ quan hải quan;
Với các vai trò quan trọng nêu trên, KTSTQ hướng đến các mục đích sau:
Thứ nhất, nhằm thẩm định tính chính xác, trung thực của các nội dung khai
báo về đối tƣợng quản lý của cơ quan hải quan;
Thứ hai, nhằm đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật hải quan của ngƣời khai
hải quan; bảo đảm áp dụng một cách tốt nhất các quy định của pháp luật và quy
định của cơ quan hải quan; bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nƣớc;
Thứ ba, tạo thông thoáng, thuận lợi và rút ngắn thời gian thông quan đối với
hàng hóa XK, NK;

Trích đoạn Chức năng, nhiệm vụ của Chi cục kiểm tra sau thông quan Tình hình hoạt động XNK của các Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Tổ chức thực hiện kiểm tra sau thông quan Kết quả phỏng vấn chuyên gia tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status