Giảm nghèo theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
____________________________
LƢU THỊ HUYỀN GIẢM NGHÈO THEO HƢỚNG BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Mã số
:
60.31.01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. PHAN HUY ĐƢỜNG HÀ NỘI – 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Giảm nghèo theo hướng bền vững trên địa
bàn huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, tài liệu tham khảo được trích dẫn đảm bảo tính chính
xác, tin vậy và trung thực.
NGƢỜI CAM ĐOAN
1.1.1. Quan niệm về nghèo 12
1.1.2. Nguyên nhân nghèo 16
1.2. Giảm nghèo theo hướng bền vững 20
1.2.1.Quan niệm, nội dung giảm nghèo theo hướng bền vững 20
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo 25
1.3. Kinh nghiệm giảm nghèo theo hướng bền vững tại một số địa phương
và bài học cho huyện Gia Viễn 26
1.3.1. Kinh nghiệm giảm nghèo theo hướng bền vững tại một số địa
phương trong nước 26
1.3.2. Một số bài học rút ra cho huyện Gia Viễn 34
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO THEO HƢỚNG BỀN VỮNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH 36
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới giảm nghèo
theo hướng bền vững ở huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình 36
2.1.1. Điều kiện tự nhiên huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình 36
2.1.2. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội 41
2.1.3. Thực tiễn xóa đói, giảm nghèo tại tỉnh Ninh Bình thời gian qua 46
2.2. Đánh giá thực trạng giảm nghèo theo hướng bền vững trên địa bàn
huyện Gia Viễn từ năm 2007 đến nay 52
2.2.1. Những thành tựu đạt được 52
2.2.2. Những hạn chế trong việc thực hiện giảm nghèo theo hướng bền
vững trên địa bàn huyện Gia Viễn 68
2.2.3. Những vấn đề đặt ra trong công tác giảm nghèo theo hướng bền
vững 69
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH
CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO THEO HƢỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH 74
3.1. Bối cảnh quốc tế, trong nước, tỉnh Ninh Bình ảnh hưởng đến giảm
nghèo theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình 74
3.1.1. Bối cảnh Quốc tế 74

Mặt trận tổ quốc
NTM
Nông thôn mới
NHCSXH
Ngân hàng chính sách xã hội
NQ
Nghị quyết
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTX
Hợp tác xã
HU
Huyện ủy
KHKT
Khoa học kỹ thuật
FAO
Tổ chức Nông lương Liên Hợp quốc
TU
Tỉnh ủy
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
TWMTTQ
Trung ương Mặt trận Tổ quốc
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
TBXH
Thương binh xã hội
XKLĐ
Xuất khẩu lao động
XHCN

kiện cần thiết để tăng sản lượng như giống, phân bón, nước, điện, kỹ thuật và
khả năng tiếp cận thị trường.
Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường trong sản xuất nông nghiệp
thực hiện giao khoán đến hộ đã nhảy vọt từ nước đang thiếu lương thực vươn
lên thành nước xuất khẩu gạo, và giữ vị trí trong ba nước xuất khẩu gạo lớn
nhất Thế giới từ đó đến nay, an ninh lương thực đã vững vàng. Tuy nhiên, đến

2
nay vẫn còn tỷ lệ đói nghèo (bao gồm cả thiếu lương thực) mà đa số phân bố
ở các xã thuộc chương trình 135 (xã nghèo).
Đầu thập niên 1990, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ đói nghèo đã được nhận rõ, mà trước hết là
số liệu trẻ em suy dinh dưỡng đã ở mức báo động (gần 50%). Ngay từ đầu
năm 1991, vấn đề xóa đói giảm nghèo đã đề ra trong các diễn đàn, các nghiên
cứu và triển khai thành phong trào xóa đói giảm nghèo. Hiện nay, theo chuẩn
nghèo quốc gia thì tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc đã giảm từ 58% năm 1993 xuống
còn 14,8% năm 2007; theo chuẩn quốc tế thì từ 58% năm 1993 xuống còn
24% vào năm 2004, năm 2008 là 13,4% và còn 12,3% vào năm 2009. Việt
Nam đã sớm đạt mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, nước ta cũng
còn rất nhiều huyện, xã chưa được giải quyết tận gốc vấn đề nghèo đói.
Những kết quả đạt được chưa mang tính bền vững bởi vì thu nhập của người
dân hầu hết đều xoay quanh ở mức cận nghèo. Do vậy rất dễ rơi vào tình
trạng tái nghèo khi gặp những tác động không thuận lợi đến sản xuất và đời
sống của họ. Đặc biệt đối với hộ nông dân miền núi, nơi có những khó khăn
về mặt địa hình, kinh tế xã hội, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng kém phát
triển, trình độ sản xuất hàng hóa và tiếp cận thị trường còn hạn chế. Để đảm

mình để phấn đấu vươn lên tự thoát nghèo, còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại.
Nhiều mô hình, cách làm hay về giảm nghèo có hiệu quả chưa được kịp thời
tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm. Xóa đói giảm nghèo cũng như chữa
bệnh, điều cốt lõi là phải tìm ra được đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng
đói nghèo? Trong đó nguyên nhân nào là nguyên nhân chính? Từ đó đề ra
được những giải pháp đúng đắn nhất, hiệu quả nhất nhằm giúp người dân xóa
nghèo bền vững.
Do vậy giảm nghèo bền vững của huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình là
một yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi địa phương cũng như tỉnh, Trung ương phải
sớm tìm ra những giải pháp hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu
nhập tiến tới “thoát nghèo” bền vững. Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết
trên, đề tài: “Giảm nghèo theo hƣớng bền vững trên địa bàn huyện Gia

4
Viễn, tỉnh Ninh Bình” được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế Chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam là vấn đề được
Đảng và nhà nước các cấp các ngành cũng như nhiều cơ quan nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học đề tài
nghiên cứu các bài viết liên quan về xóa đói giảm nghèo được công bố như
Từ khi chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo được Chính
phủ phê duyệt, công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã trải qua ba
giai đoạn: 1993 – 1997, 1998 - 2000, 2001- 2005 và 2006- 2010, 2011 - 2015
với những thành công nhất định, tỷ lệ hộ đói nghèo của cả nước giảm xuống
còn 13% năm 2000, 7% năm 2005 với chuẩn nghèo tương ứng. Từ 2006 đến
nay với việc thực hiện nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo như chương

Liệu có phải là cách chia đều “Cái bánh của xã hội” để rốt cuộc làm cho cái
bánh đó được tái sản xuất nhỏ hơn? Tác giả cuốn sách này làm rõ thêm vấn đề
giảm nghèo đang là vấn đề cấp bách ở Việt Nam hiện nay.
Hà Quế Lâm (2002), xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước
ta hiện nay - thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
Qua hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng cộng sản Việt
Nam khởi xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to
lớn và rất quan trọng, đời sống vật chất tinh thần của đại bộ phận nhân dân
được cải thiện tăng lên rõ rệt. Tuy vậy còn những nơi vùng sâu vùng xa còn
khó khăn. Vì vậy đối với Đảng và nhà nước ta xóa đói giảm nghèo là một
trong những chủ trương quyết sách lớn và quan trọng. Cuốn sách là một tài
liệu bổ ích cho các cơ quan và các nhà hoạch định chính sách, cán bộ công
chức đang thực thi chính sách kinh tế xã hội.
Đức Quyết (2002), “Một số chính sách quốc gia về việc làm và xóa đói
giảm nghèo”, Nxb Lao động, Hà Nội.
Trong cuốn sách này tác giả đã hệ thống hóa giúp người đọc, nghiên
cứu các chính sách về việc làm và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.

6
Năm 2002, Nguyễn Trung Tăng đã nghiên cứu với đề tài “Tín dụng
cho người nghèo các quỹ xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay”, tác giả đã
đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng cho nông
dân nghèo.
Shanks, Edwin, và Carrie Turk vào năm 2002 đã nghiên cứu với đề tài
"Policy Recommendations from the Poor", tổng hợp các kết quả điều tra, báo
cáo khoa học chuẩn bị cho nhóm hành động chống nghèo đói, đưa ra các
khuyến nghị chính sách ban đầu cho việc xây dựng chiến lược toàn diện về

đầu tư đã xuất bản cuốn sách: “Tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam- Thành tựu thách thức và giải pháp”, đói nghèo, thành tựu công cuộc
xóa đói giảm nghèo và đưa ra những giải pháp cụ thể để đẩy nhanh công cuộc
xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
Thái Văn Hoạt (2007), “Giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn
tỉnh Quảng Trị giai đoạn hiện nay” Luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý
học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Thủ tướng Chính Phủ (2008), Chỉ thị số 04/2008/Ct-TTg ngày
25/01/2008 về tăng cường chỉ đạo các chương trình giảm nghèo, Hà Nội .
Nguyễn Thị Hoa (2011), “Chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đến năm
2015”, Nxb Thông tin và truyền thông Hà Nội giúp người đọc hệ thống những
chính sách giảm nghèo hiện đang áp dụng ở Việt Nam trong đó tập trung vào
4 chính sách chủ yếu, chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo; Chính sách đầu tư
cơ sở hạ tầng xã nghèo; Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo; và
chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo. Ngoài việc phân tích, đánh giá và
phản ánh thực trạng thực hiện các chính sách, các tác giả còn đưa ra những
phương hướng nhằm hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu
của Việt Nam đến năm 2015.
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu, bài báo, tạp chí, đề tài
nghiên cứu khác liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau của XĐGN.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề
xóa đói, giảm nghèo. Các công trình này đều nghiên cứu hoặc một phạm vi

8
rất rộng hoặc đi vào nghiên cứu một lĩnh vực rất cụ thể của đói nghèo hay
nghiên cứu đưa ra giải pháp mang tính đặc thù ở một vùng kinh tế hoặc tại
một địa phương. Bên cạnh những thành tựu đạt được, các nghiên cứu về giảm

công tác xoá đói giảm nghèo theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Gia
Viễn, tỉnh Ninh Bình.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về việc giảm nghèo theo hướng bền vững ở
huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
* Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu về vấn đề xóa đói giảm nghèo theo
hướng bền vững từ năm 2007 đến nay.
Về không gian: Luận văn đi sâu nghiên cứu về vấn đề XĐGN theo
hướng bền vững tại huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình và của đất nước.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các
phương pháp của kinh tế học hiện đại để nghiên cứu. Phương pháp luận này
đòi hỏi phải xem xét vấn đề XĐGN một cách khách quan, theo các quy luật;
chịu sự tác động của nhiều nhân tố: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội không
ngừng vận động, biến đổi. Đồng thời luận văn được nghiên cứu trên nền tảng
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta qua
các thời kỳ có liên quan đến vấn đề XĐGN, trọng tâm là XĐGN theo hướng
bền vững trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN trong đó tập
trung vào vấn đề giảm nghèo theo hướng bền vững tại huyện Gia Viễn, tỉnh
Ninh Bình; chủ trương, chính sách của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Ninh
Bình, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Gia Viễn về XĐGN.
* Phương pháp nghiên cứu
Tác giả kế thừa các công trình đã nghiên cứu để hệ thống hóa lý luận về

10

của Việt Nam và sử dụng làm tài liệu tham khảo cho một số cơ quan, ban,

11
ngành của huyện để tăng cường hiệu quả công tác giảm nghèo, phát triển kinh
tế xã hội tại địa phương. Các giải pháp đề xuất sẽ có giá trị tham khảo cho
công tác lãnh đạo của huyện trong việc chỉ đạo triển khai công tác XĐGN
theo hướng bền vững tại huyện Gia Viễn, góp phần thực hiện thành công chủ
trương xây dựng nông thôn mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
chia làm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo theo hướng bền vững.
Chƣơng 2: Thực trạng giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Gia Viễn,
tỉnh Ninh Bình.
Chƣơng 3: Quan điểm định hướng và giải pháp đẩy mạnh công tác giảm
nghèo theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Gia Viễn, tỉnh
Ninh Bình.
12
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO
THEO HƢỚNG BỀN VỮNG

Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới mức quy định
nêu trên được xác nhận là hộ nghèo.
Chuẩn nghèo thay đổi theo thời gian chứ không cố định. Căn cứ vào
tình hình phát triển kinh tế- xã hội, địa phương nào có đủ điều kiện sau đây có
thể nâng chuẩn nghèo lên để phù hợp với thực tế của địa phương đó:
+ Thu nhập bình quân đầu người cao hơn thu nhập bình quân của
cả nước.
+ Có tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo trung bình của cả nước.
+ Tự cân đối được ngân sách và tự giải quyết được các chính sách đói
nghèo theo chuẩn nâng lên.
- Xã nghèo: Theo Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày
22/05/2002 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc ban
hành tiêu chí xã nghèo giai đoạn 2001-2005, quy định:
+ Tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên.
+ Chưa đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu (bao gồm đường
giao thông, trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nước sạch, chợ). Cụ thể là:
Dưới 30% số hộ sử dụng nước sạch.
Dưới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt.
Chưa có đường ô tô đến trung tâm xã hoặc ô tô không đi lại được cả
năm.
Số phòng học (theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo) chỉ đáp ứng
được dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng học tạm bợ bằng tranh tre,
nứa, lá.
Chưa có trạm y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm.
Chưa có chợ hoặc chợ tạm bợ.
- Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo: Là những hộ mà sau một quá trình
thực hiện chương trình XĐGN cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập
đã ở trên chuẩn mực nghèo đói. Hiện nay, ở một số địa phương có sử dụng

14

lượng tiêu dùng từ 2.100-2.300 Kcal/người/ngày.

15
- Căn cứ vào mức thu nhập bình quân đầu người/tháng. Trong đó đặc
biệt quan tâm đến thu nhập bình quân đầu người/tháng của nhóm có thu nhập
thấp (20% số hộ).
- Căn cứ vào nguồn lực thực tế của quốc gia, của từng địa phương
đã được cụ thể hoá bằng mục tiêu chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo
và chương trình của từng địa phương để thực hiện công tác XĐGN.
Từ 3 căn cứ trên có thể cho thấy:
+ Xác định chuẩn nghèo đói phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện kinh
tế xã hội, phong tục tập quán của từng quốc gia, từng địa phương, song trong đó
có một phần yếu tố chủ quan của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách.
+ Chuẩn nghèo phụ thuộc vào yếu tố khách quan trong đó có một phần
yếu tố chủ quan.
* Chuẩn mực nghèo đói giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010:
- Giai đoạn 2001-2005
Nông thôn miền núi, hải đảo: thu nhập bình quân 80.000 đ/người/tháng,
hay 960.000đồng/người/năm được coi là nghèo.
Nông thôn đồng bằng: Thu nhập bình quân, 100.000đồng/người/tháng
hay 1.200.000đồng/người/năm được coi là nghèo.
Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân 150.000đồng/người/tháng, hay
1.800.000đồng/người/năm được coi là nghèo.
Giai đoạn 2006-2010:
Chuẩn nghèo chỉ áp dụng cho 2 khu vực là:
Khu vực nông thôn: Thu nhập bình quân 200.000đồng/người/tháng,
được coi là nghèo.

hướng tăng lên. Thiếu đất ảnh hưởng đến việc đảm bảo an ninh lương thực
của người nghèo, cũng như khả năng đa dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản
xuất các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao hơn. Đa số người nghèo
lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp là chính. Họ vẫn sử dụng những
phương thức sản xuất truyền thống, sử dụng những phương pháp này dẫn đến
giá trị sản phẩm không cao, năng suất các loại cây trồng, vật nuôi thấp nên
thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy đưa họ vào vòng luẩn quẩn của
nghèo đói.

17
Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các
dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. Nhiều những yếu tố đầu vào
của sản xuất như giống, phân bón đã làm tăng chi phí, giảm thu nhập tính
trên đơn vị sản phẩm sản xuất ra.
Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng. Sự
hạn chế của các nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng
đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ mới. Mặc dù trong chương
trình XĐGN quốc gia, khả năng tiếp cận tín dụng đã được tăng lên rất nhiều,
song vẫn còn khá nhiều người nghèo không có khả năng tiếp cận được tín
dụng. Một mặt họ không có tài sản để thế chấp, mặt khác họ không xây dựng
được kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng đồng vốn không đúng mục đích,
do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận nguồn vốn và cuối cùng làm cho họ
nghèo hơn.
c. Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định
Người nghèo thường là những người có học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm
được việc làm tốt, ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu
cầu dinh dưỡng tối thiểu và do đó không có điều kiện để nâng cao trình độ

nên họ khó có khả năng chống chọi với các biến cố xảy ra trong cuộc sống
(như thiên tai, mất mùa, mất việc làm, sức khỏe, tai nạn ). Với khả năng
kinh tế mong manh của các hộ gia đình trong nông thôn, những đột biến này
sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống gia đình của họ và gây ra tình
trạng đói nghèo.
Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh cũng rất cao đối với người nghèo,
do họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn. Khả năng đối
phó và khắc phục rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thu nhập hạn
chế làm cho họ mất khả năng phục hồi rủi ro và có thể gặp rủi ro hơn nữa.
g. Bệnh tật, sức khỏe yếu, tuổi già cũng là yếu tố đẩy con người vào
tình trạng nghèo.
Vấn đề bệnh tật và sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập và
chi tiêu của người nghèo, làm họ rơi vào vòng luẩn quẩn đói nghèo. Họ phải

19
gánh chịu 2 gánh nặng: một là mất đi nguồn thu nhập từ lao động, hai là chịu
chi phí khám chữa bệnh, kể cả chi phí trực tiếp và gián tiếp.
- Người cao tuổi khi con cái đã có gia đình riêng cuộc sống không đảm
bảo không tiếp tục tham gia các hoạt động kinh tế có nguy cơ rơi vào nhóm
nghèo.
h. Những tác động của chính sách vĩ mô và chính sách cải cách (tự do
hóa thương mại, cải cách doanh nghiệp Nhà nước ) đến đói nghèo
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là một
trong những nhân tố ảnh hưởng đến mức giảm nghèo. Việt Nam đã đạt được
những thành tựu giảm nghèo rất đa dạng và trên diện rộng. Tuy nhiên quá
trình phát triển và mở cửa của nền kinh tế cũng có tác động tiêu cực đến
người nghèo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status