BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN GIA LÂM
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ
VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI DỰ
ÁN XÂY DỰNG CÔNG VIÊN HỒ ĐIỀU HÒA VĂN MIẾU
VÀ DỰ ÁN XÂY DỰNG ĐƯỜNG NGỌC HÂN CÔNG CHÚA,
THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, sự
đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
bản Luận văn này.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Phạm Phương Nam giảng viên Bộ
môn Quản lý Đất đai, Khoa Quản lý Đất đai – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã
tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện Đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, cô giáo Khoa
Quản lý đất đai – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
thực hiện Đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND phường Đại Phúc, UBND phường Võ
Cường, Trung tâm Phát triển quỹ đất, Ban quản lý dự án, Phòng Tài nguyên và Môi
trường thành phố Bắc Ninh, UBND thành phố Bắc Ninh, Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Bắc Ninh đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài tại địa bàn.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình và những người thân, các cán bộ, đồng nghiệp và
bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện Đề tài này.
Hà nội, ngày 16 tháng 9 năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
1.2.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước trên thế
giới 3
1.2.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Ngân hàng Thế giới
và Ngân hàng phát triển Châu Á 8
1.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Việt Nam 9
1.3.1 Giai đoạn trước khi có Luật Đất đai năm 1993 9
1.3.2 Giai đoạn Luật Đất đai 1993 có hiệu lực 10
1.3.3 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực đến nay 11
1.4 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số địa phương 13
1.4.1 Thành phố Hà Nội 13
1.4.2 Thành phố Đà Nẵng 14
1.4.3 Thành phố Hồ Chí Minh 17
1.4.4 Tỉnh Bắc Ninh 20
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc
Ninh 22
2.2.2 Thực trạng quản lý đất đai và bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại
thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 22
2.2.3 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại 02 dự án nghiên
cứu 22
2.2.4 Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại
02 dự án nghiên cứu 22
3.3.7 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến người dân 58
3.4 Đánh giá việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước
thu hồi đất tại 02 dự án nghiên cứu 62
3.4.1 Những ưu điểm 62
3.4.2 Những tồn tại, bất cập 63
3.4.3 Nguyên nhân 65
3.5 Một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Bắc Ninh 66
3.5.1 Giải pháp về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 66
3.5.2 Giải pháp về tổ chức thực hiện 67
3.5.3 Giải pháp về nhân lực 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu Các chữ viết tắt
1. ADB Ngân hàng Phát triển châu Á
2. BT, HT, TĐC Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
3. CP Chính phủ
4. CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
5. GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
6. GPMB Giải phóng mặt bằng
7. HĐND Hội đồng nhân dân
3.5 Bảng tổng hợp các tiêu chí phỏng vấn đối tượng bị thu hồi đất 59
3.6 Tống hợp ý kiến điều tra cán bộ trực tiếp thực hiện 62 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ Trang
3.1 Vị trí địa lý thành phố Bắc Ninh 24
3.2 Phối cảnh Công viên hồ điều hòa Văn Miếu 34
3.3 Phối cảnh đường Ngọc Hân Công Chúa (đoạn từ đường Lý Anh Tông
đến đường Nguyễn Trãi) 35
3.4 Trình tự các bước thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 39 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống và là địa bàn phân bố
các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng
của các dự án khác đã thu hồi và thu hồi một phần đất ở của một số hộ dân trong dự án.
Chính vì vẫn còn tồn tại những bất cập trong công tác bồi thường, hỗ trợ và
TĐC đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại dự án Xây dựng công viên hồ điều hòa Văn
Miếu và dự án Xây dựng đường Ngọc Hân Công Chúa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh
Bắc Ninh”.
2. Mục đích
Đánh giá kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu
hồi đất tại 02 dự án trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy nhanh tiến độ bồi thường, hỗ trợ, TĐC
khi Nhà nước thu hồi đất phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn
nghiên cứu.
3. Yêu cầu
- Các số liệu có độ chính xác và được phân tích, đánh giá một cách khách
quan, phải phản ánh đúng tình hình thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn thành phố Bắc Ninh.
- Các giải pháp và kiến nghị phù hợp với thực tế và đúng quy định của pháp
luật hiện hành.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Page 4
bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo
cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với
trước khi bị thu hồi đất.
Theo quy định của Pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người
nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường. Người bị thu hồi đất được
thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về TĐC, tiền trợ cấp bồi
thường hoa màu trên đất. Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp TĐC căn
cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ
số. Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả
hiện tại.
Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm
bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Việc quản lý giải
phóng mặt bằng được giao cho các Cục Quản lýTài nguyên Đất đai ở địa phương
đảm nhiệm. Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một
đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng.
Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức chủ
yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là, giá cả
xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; Hai là, giá đất tiêu
chuẩn; Ba là, trợ cấp về giá cả. Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở.
Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân
ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông
thôn. Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là
chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian
để đánh giá, xác định giá. Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những
cách thức rất linh hoạt, theo đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường
khác nhau: tiền bồi thường về sử dụng đất đai; tiền bồi thường về hoa màu; bồi
thường tài sản tập thể.
Theo đánh giá của một số chuyên gia TĐC, sở dĩ Trung Quốc có những
Pháp Luật Đất đai Thái Lan cho phép tồn tại hình thức sở hữu tư nhân về đất
đai. Do vậy nguyên tắc khi Nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất để làm bất kỳ một dự
án nào, công trình nào đều phải có sự thoả thuận về sử dụng đất giữa chủ dự án và
chủ sở hữu khu đất trên cơ sở một hợp đồng.
Năm 1987 Thái Lan ban hành luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho
việc trưng dụng đất phục vụ vào các mục đích xây dựng công cộng, an ninh quốc
phòng. Luật quy định những nguyên tắc thu hồi đất, nguyên tắc tính giá trị bồi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
thường các loại tài sản được bồi thường, trình tự lập dự án, duyệt dự án, lên kế
hoạch bồi thường trình các cấp phê duyệt. Luật còn quy định thủ tục thành lập các
cơ quan, uỷ ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường,
trình tự khiếu nại, giải quyết khiếu nại, trình tự đưa ra tòa án.
Ở Thái Lan việc tuyên truyền vận động đối với các đối tượng bị di dời được
thực hiện rất tốt, gần như ngay từ đầu, xấp xỉ 100% các hộ dân đã hiểu và chấp
hành các chính sách bồi thường, GPMB của Nhà nước (Phạm Phương Nam,
Nguyễn Thanh Trà, 2014).
Về giá đất làm căn cứ bồi thường thiệt hại: căn cứ vào giá do một Uỷ ban của
Chính phủ xác định trên cơ sở thực tế giá trên thị trường chuyển nhượng bất động
sản. Việc bồi thường chủ yếu bằng tiền mặt. Nếu phải di chuyển nhà đến nơi mới,
Uỷ ban này sẽ chỉ đạo cho người dân biết mình đến đâu, phải trả tiền một lần, được
cho thuê hay mua trả góp Tuy nhiên cũng có trường hợp bên bị thu hồi không
chấp nhận, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm tra, xem xét một lần nữa xem
đã hợp lý chưa và dù đúng hay không nếu người bị thu hồi không chuyển đi sẽ bị
cưỡng chế thực hiện. Việc khiếu nại sẽ tiếp tục do toà án giải quyết.
Việc chuẩn bị khu TĐC được chính quyền, Nhà nước quan tâm đúng mức,
luôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu, luôn ở thế chủ động.
Sự thống nhất trong chỉ đạo
điều hành giải quyết, sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, phân cấp rõ về trách
định viên công cộng đánh giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ
cho công trình công cộng. Mỗi năm, Hàn Quốc cho thi hành đánh giá đất hơn 27
triệu địa điểm trên toàn quốc và chỉ định 470.000 địa điểm làm tiêu chuẩn và thông
qua đánh giá của giám định để dựa theo đó hình thành giá quy định cho việc đền bù.
Giá quy định không dựa vào những lợi nhuận khai thác, do đó có thể bảo đảm
khách quan trong việc bồi thường.
Thứ hai: Pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có quyền
sở hữu đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất. Quy trình chấp nhận
theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng
chấp nhận thu hồi.
Thứ ba: Biện pháp di dời là một đặc điểm quan trọng. Chế độ này được Nhà
nước hỗ trợ tích cực về mặt chính sách bảo đảm sự sinh hoạt của con người, cung
cấp đất đai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công trình công cộng
cần thiết của Nhà nước. Đây là công việc có hiệu quả lôi cuốn người dân tự nguyện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
di dời và liên quan rất nhiều tới việc GPMB. Theo luật bồi thường, nếu như toà nhà
nơi dự án sẽ được thực hiện có trên 10 người sở hữu thì phải xây dựng cho các đối
tượng này nơi cư trú hoặc hỗ trợ 30% trị giá của toà nhà đó. Còn nếu như các dự án
xây dựng chung cư nhà ở thì cung cấp cho các đối tượng này chung cư hoặc nhà ở
thấp hơn giá thành (Đào Trung Chính và NNK, 2013).
Luật Bồi thường của Hàn Quốc được thực hiện theo ba nguyên tắc trên đối
với đất đai, bất động sản và các quyền kinh doanh, nông nghiệp, ngư nghiệp,
khoáng sản để cung cấp tiền bồi thường và chi phí di dời.
Chế độ và luật khi thu hồi đất GPMB: Theo luật sung công đất đai thì nếu như
đã trả hoặc đặt cọc tiền bồi thường xong nhưng không chịu di dời thì được xem như
gây hại cho lợi ích công cộng do đó phải thi hành cưỡng chế giải toả thì được thực hiện
quyền thi hành theo luật thực hiện thi hành hành chính và quyền thi hành này phải theo
thủ tục pháp lệnh cảnh cáo theo quy định. Thực chất biện pháp GPMB thường bị các
1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai và cây cối lâu
năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mở rộng thành phố trên nguyên
tắc: "Phải đảm bảo thỏa đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác xã và của nhân dân".
Hiến pháp năm 1980 quy định về đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất, quản lý. Điều 19 Hiến pháp 1980 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ,
hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa…cùng
các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn
dân”. Ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 201/CP về
việc "Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới
bất cứ hình thức nào, không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập
mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định". Trong thời kỳ này, những quan hệ
đất đai chỉ đơn thuần là quan hệ “Giao - thu” giữa Nhà nước và người sử dụng
(Phạm Phương Nam, Nguyễn Thanh Trà, 2014).
Luật Đất đai năm 1987 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất, mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48): "Bồi thườngthiệt
hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả
đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật ".
Tại Nghị định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Bộ
trưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang
mục đích khác. Hiến pháp năm 1992 đã công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
các tổ chức, cá nhân và quyền sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất (Phạm Phương
Nam, Nguyễn Thanh Trà, 2014).
1.3.2. Giai đoạn Luật Đất đai 1993 có hiệu lực
Với nền tảng là Hiến pháp năm 1992, thừa kế có chọn lọc Luật Đất đai năm
1988, Luật Đất đai năm 1993 ra đời với những đổi mới quan trọng, đặc biệt với nội
dung thu hồi đất phục vụ cho công cộng và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Luật Đất đai năm 1993 đã thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 về đất
lần thứ nhất về việc sửa đổi bổ sung Nghị định 22/NĐ-CP về việc bồi thườngthiệt
hại khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thông tư 145/1998/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị
định 22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định hệ số K, nội dung và chế
độ quản lý, phương án bồi thườngvà một số nội dung khác.
- Văn bản số 4448/TC-QLCS ngày 04/9/1999 của Cục Quản lý Công sản - Bộ tài
chính hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong công tác bồi thường GPMB.
1.3.3. Giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực đến nay
Luật Đất đai 2003 bao gồm 7 chương 146 điều trong đó có 7 điều (từ Điều
38 đến Điều 44) quy định về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà
nước thu hồi đất.
Sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều các
văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi
thường, hỗ trợ thu hồi đất, cụ thể:
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng
dẫn thi hành Luật Đất đai 2003.
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ
về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài
chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm
2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về
bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, có 7 chương 51 điều.
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi
bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị
định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP có 7 điều: trong đó, điều 4 của Nghị định sửa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
1.4. Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số địa phương
1.4.1. Thành phố Hà Nội
1.4.1.1. Các văn bản quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Hà Nội là địa phương đi đầu “Quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi
Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố” chỉ hơn 1 tháng sau khi nghị định
69/2009 Hà Nội đã ban hành Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29/9/2009
“Quyết định ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi nhà nước thu hồi
đất trên địa bàn thành phố Hà Nội” thay thế Quyết định số 18/2008 QĐ-UBND
được ký cách đó đúng một năm (ngày 29/9/2008).
Sau hơn hai năm triển khai Thành phố ban hành Quyết định 02/2013/QĐ-
UBND ngày 07/1/2013 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định ban hành
kèm theo Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29/9/2009 về bồi thường, hỗ trợ
và TĐC khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Sáu tháng sau, ngày 18/7/2013 thành phố lại ký quyết định 27/2013/QĐ-
UBND, sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định 02/2013.
1.4.1.2. Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC
Tính đến năm 2012 số dự án bồi thường, hỗ trợ và TĐC trên toàn thành phố
Hà Nội là 1.005 (gấp 3 lần cùng kỳ năm trước), với quy mô thu hồi đất trên
13.500ha (gấp 4,5 lần cùng kỳ năm trước), phạm vi thu hồi liên quan đến hơn
186.000 tổ chức, hộ gia đinh, cá nhân, với số hộ cần bố trí tái đinh cư trên 19.000
hộ. Trong đó, đã hoàn thành xong 225 dự án; hoàn thành và bàn giao một phần diện
tích đất cho 57 dự án theo phân kỳ đầu tư, bàn giao trên 1.500 ha đất, chi trả trên
2.900 tỷ đồng cho trên 49.600 hộ dân, bố trí TĐC cho trên 2.130 hộ.
Ba tháng đầu năm 2013, thành phố Hà Nội tiếp tục thực hiện bồi thường, hỗ
trợ và TĐC trên 790 dự án, với quy mô thu hồi đất lên đến trên 11.700 ha, liên quan
đến gần 177.000 hộ dân, TĐC cho trên 16.420 hộ. Đến nay, 14 dự án đã hoàn thành
toàn bộ công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC; 4 dự án đã hoàn thành bàn giao một
thu hồi đất.
Từ khi thực hiện Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định số1997/2004/NĐ-CP
của Chính phủ đến nay, thành phố Đà Nẵng đã ban hành những Quyết định quy
phạm pháp luật về bồi thườnggiải tỏa là:
- Quyết định số 209/2004/QĐ UB ngày 28 tháng 12 năm 2004 của UBND
thành phố Đà Nẵng ban hành Quy định tạm thời về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi
Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;
- Quyết định số 181/2005/QĐ UBND ngày 28 tháng 12 năm 2005 của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi
Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (thay thế Quyết định số
209/2004/QĐ-UB);
-Quyết định số 108/2006/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2006 của UBND
thành phố Đà Nẵng ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước
thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (thay thế Quyết định số 181/2005/QĐ-
UBND);
- Quyết định số 36/2009/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2009 của UBND
thành phố Đà Nẵng ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước
thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (thay thế 108/2006/QĐ-UBND);
Để công tác giải tỏa bồi thường thực hiện đúng quy định, Thành phố giao
cho Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng thường xuyên tổ
chức tập huấn và triển khai các Quyết định của UBND thành phố và có hướng dẫn
cụ thể cho các đơn vị thực hiện.
Thành phố cũng đã có những vận dụng cụ thể phù hợp với tình hình sử dụng
đất thực tế tại địa phương, tập quán sinh sống của người dân từng vùng để đáp ứng
nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân trên cơ sở đảm bảo sự công bằng, khách quan
và có tính chất động viên, khuyến khích người bị thu hồi đất nhanh chóng thực hiện
giải tỏa, bàn giao mặt bằng đúng tiến độ.
- Công tác bố trí TĐC: Thành phố đã bố trí 4.690 lô đất TĐC thực tế cho các
hộ giải tỏa đã bàn giao mặt bằng, trong đó: có 548 lô bố trí cho các hộ bàn giao mặt
bằng từ năm 2008 trở về trước; 1.531 lô bố trí cho các hộ bàn giao mặt bằng trong
năm 2009, như vậy đã hoàn thành công tác bố trí TĐC cho những hộ dân bàn giao
mặt bằng năm 2008-2009; đã bố trí 1.196 lô cho các hộ bàn giao mặt bằng năm
2010, 1.405 lô cho các hộ bàn giao mặt bằng từ 01/01/2011. Đã đưa vào sử dụng 17
khu chung cư với 2.125 căn hộ và 1 khu chung cư đang trong giai đoạn hoàn thành.
Tuy nhiên trong quá trình triển khai vẫn còn một số tồn tại vướng mắc:
Công tác giải quyết việc làm cho con em nông dân con em họ sau khi bị thu
hồi hết đất chưa giải quyết được một cách triệt để và cơ bản vì việc đào tạo nhân lực
đáp ứng yêu cầu cho các cơ sở sản xuất công nghiệp còn hạn chế và đặc biệt là lao
động trên 40 tuổi còn gặp nhiều khó khăn.
- Công tác giải quyết TĐC (đất, nhà) cho những hộ giải tỏa vẫn còn chưa kịp
thời nên nhiều hộ giao mặt bằng mà vẫn chưa có đất TĐC để làm nhà ảnh hưởng