ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
PHẠM VĂN HOAN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
KINH TẾ Ở TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH HÀ NỘI - NĂM 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
o0o
Tác giả luận văn Phạm Văn Hoan
Chƣơng 1 3
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, 4
THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 4
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. 4
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam
nói chung. 4
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở vùng núi
phía bắc và một số tỉnh của vùng này. 10
1.2. Những vấn đề lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. 12
1.2.1. Khái niệm và vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. 12
1.2.2. Mục tiêu, nội dung và các biện pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 21
1.2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 24
1.2.4. Các chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. 29
1.3. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một số tỉnh miền núi phía
bắc và bài học rút ra cho Hà Giang. 35
1.3.1. Kinh nghiệm của một số tỉnh 35
1.3.2. Bài học rút ra cho Hà Giang. 39
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1. Phƣơng pháp luận chung 40
2.2. Một số phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể 40
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở
TỈNH HÀ GIANG GIAI ĐOẠN 2008-2014 44
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Hà Giang tác động đến chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế. 44
3.1.1. Điều kiện tự nhiên. 44
3.1.2. Kinh tế - xã hội 48
3.2. Cơ chế, chính sách về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Hà Giang. 62
3.2.1. Chính sách về các nguồn lực 63
3.2.2. Chính sách thị trƣờng 66
KẾT LUẬN 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Nguyên nghĩa
1
ANQP
An ninh quốc phòng
2
BHYT
Bảo hiểm y tế
3
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
4
CNTT
Công nghệ thông tin
5
KTXH
Kinh tế xã hội
6
NXB
Nhà xuất bản
7
SXKD
Bảng 3.10. Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế của Hà Giang thời kì 2008-
2014 69
Bảng 3.11. Cơ cấu GDP nội bộ ngành nông nghiệp ở tỉnh Hà Giang, thời kì
2008-2014 71
Bảng 3.12. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp ở tỉnh Hà Giang, thời
kì 2010 - 2014 72
Bảng 3.13. Tình hình ngành chăn nuôi ở tỉnh Hà Giang, thời kì 2010 - 2014
74
Bảng 3.14. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thuỷ sản ở tỉnh Hà Giang 78
Bảng 3.15. cơ cấu giá trị sản xuất ngành công nghiệp tỉnh Hà Giang 80 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một chủ trƣơng lớn và rất quan trọng của
Đảng, Nhà nƣớc, đồng thời đây cũng là nội dung trọng yếu trong đƣờng lối phát
triển kinh tế thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nƣớc
và hội nhập quốc tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo nên sự chuyển đổi căn bản nền
kinh tế trên nhiều lĩnh vực: Phân công lại lao động xã hội, chuyển dịch các nguồn
lực trong qúa trình sản xuất, gia tăng năng lực sản xuất, tăng sản phẩm xã hội, góp
phần thoả mãn nhu cầu ngày càng tốt hơn.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác
nhau nhƣ: Cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần, cơ cấu ngành. Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành để phân bổ tài nguyên, sắp xếp lại lao động phù hợp các mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội là vấn đề có ý nghĩa chiến lƣợc quan trọng.
Thực hiện chủ trƣơng, chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Đảng, Nhà
nƣớc, các địa phƣơng đã đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vật
nuôi, cây trồng, phát triển sản xuất, xây dựng các khu, cụm công nghiệp tập trung,
các vùng chuyên canh cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, hình thành các vùng
Nghiên cứu đƣa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế ở tỉnh Hà Giang trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế.
- Phân tích đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, chỉ ra
những hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Hà Giang trong giai
đoạn 2008-2014.
- Đề xuất một số giải pháp mang tính đặc thù nhằm thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Hà Giang trong giai đoạn 2015-2020.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
3
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên
địa bàn tỉnh Hà Giang.
* Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Hà
Giang từ năm 2008 đến nay xét trên góc độ quản lý kinh tế. Trên cơ sở đó xác định
những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở
tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn đến năm 2030.
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 4
chƣơng sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tỉnh Hà Giang
giai đoạn 2008-2014
Chương 4: Quan điểm và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
chọn và có sự chuẩn bị tốt các điều kiện về con ngƣời, cơ chế chính sách và cơ sở
vật chất. Luận điểm thứ hai: Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời
kỳ công nghiệp hoá ở Việt Nam hiện nay phải hƣớng vào hội nhập và dựa vào hội
nhập để để thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập. 4) Đề xuất giải pháp chủ yếu thúc
5
đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam. Đó là các giải pháp cơ bản, dài
hạn (Lựa chọn mô hình CNH, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng,
khai thông các kênh huy động các nguồn lực cho phát triển và chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế, mở rộng thị trƣờng) và các giải pháp trực tiếp, trƣớc mắt (lựa chọn
các ngành cần tập trung phát triển, xác định những lĩnh vực nhà nƣớc trực tiếp đầu
tƣ).
Cuốn sách “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nền kinh tế quốc dân” (1994), của Ngô Đình Giao, NXB chính trị quốc gia.
Trong tác phẩm này tác giã đã phân tích các căn cứ lý luận và thực tiễn của quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng CNH-HĐH; phân tích các quan điểm,
phƣơng hƣớng xây dựng cơ cấu kinh tế có hiệu quả ở Việt Nam.
Cuốn “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - những vấn đề lý luận và thực
tiễn” (1998), của Lê Đình Thắng, Nxb Nông nghiệp, đề cập một số vấn đề cần thiết
chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông nghiệp Việt Nam và một số giải pháp ở tầm vĩ mô
nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Đặng Kim Sơn (2012) với công trình “Tái cơ cấu Nông nghiệp Việt Nam
theo hướng giá trị gia tăng cao”, Nxb Chính trị quốc gia. Cuốn sách nêu rõ bên
cạnh những thành tựu đạt đƣợc, nông nghiệp Việt Nam còn nhiều tồn tại, yếu kém,
phải chịu áp lực cạnh tranh lớn do sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, năng suất, chất lƣợng
sản phẩm thấp, công nghệ lạc hậu, vệ sinh an toàn thực phẩm chƣa đáp ứng yêu cầu,
hệ thống pháp luật chƣa đồng bộ, có nhiều điểm chƣa phù hợp, tăng trƣởng kinh tế
nông nghiệp trong thời gian qua chủ yếu mới theo chiều rộng, tăng trƣởng mới chỉ
tạo ra khối lƣợng ngày càng nhiều nhƣng giá rẻ và giá trị gia tăng thấp. Trên cơ sở
đó, tác giả phân tích định hƣớng cơ cấu nền nông nghiệp Việt Nam theo hƣớng có
Cuốn “Mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN ở Việt
Nam” của các tác giả Đỗ Hoài Nam và Trần Đình Thiên, Nxb khoa học xã hội
(2009), đã đề cập tới hàng loạt các vấn đề liên quan đến nhận thức lý luận và thực
tiễn cơ bản về CNH, HĐH theo định hƣớng XHCN ở Việt Nam. Riêng về vấn đề
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, công
trình này đã đề cập tới một số vấn đề sau:
7
Thứ nhất: Một số mô hình chuyển dịch cơ cấu Hàn quốc; Malaysia; nền kinh
tế Đài loan; sự thay đổi của Trung quốc và Ấn độ.
Thứ hai: Động thái tăng trƣởng và cơ cấu ngành của Việt Nam qua các giai
đoạn 1992-1997, 1998-2001, 2002-2006, các nhận xét đƣợc đƣa ra ở đây là.
- So với chính bản thân mình, cơ cấu ngành của nền kinh tế nƣớc ta đã có sự
chuyển dịch khá mạnh, thực tế chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cho thấy nền kinh
tế đang thoát ra khỏi trình độ nông nghiệp và nhập vào nền kinh tế công nghiệp với
tốc độ tƣơng đối nhanh.
- Khoảng cách về trình độ cơ cấu của nền kinh tế nƣớc ta năm 2005 so với
nền kinh tế trong khu vực (đo bằng các chỉ số phản ánh tỷ phần cơ cấu) hầu nhƣ
không thay đổi so với thời điểm xuất phát cách đây 15 năm (1990). Nhìn tổng thể,
cơ cấu kinh tế của chúng ta vẫn còn thấp hơn đáng kể so với các nền kinh tế khác.
Sự vƣợt trội đáng kể của các nƣớc so với Việt Nam về tỷ trọng của ngành công
nghiệp chế tạo và ngành dịch vụ trong GDP tại điểm mốc của năm 2005 là một chỉ
báo quan trọng.
- Về cơ bản, tăng trƣởng của nền kinh tế Việt Nam vẫn dựa trên các ngành
thâm dụng vốn tài nguyên và đầu tƣ công từ ngân sách nhà nƣớc. Vai trò đóng góp
của khoa học và công nghệ còn nhỏ bé và nhƣ vậy xu hƣớng hiện đại hoá của quá
trình CNH ở Việt Nam là yếu.
Tình hình trên cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam
diễn ra chậm, dẫn tới trình độ cơ cấu bị tụt hậu khá xa so với các nƣớc trong khu
vực, nó cũng phản ánh một thực tế rằng quá trình tăng trƣởng nhanh hơn của nền
chính: Tiến bộ công nghệ, lợi thế so sánh giữa các nền kinh tế và sự thay đổi trong
cấu trúc về phía cầu khi nền kinh tế phát triển. Sự hội nhập mạnh mẽ của nền kinh
tế thế giới tạo môi trƣờng thuận lợi cho ba yếu tố này phát huy một cách tối đa.
- Tiến bộ công nghệ thay đổi trong cơ cấu về cầu cũng nhƣ lợi thế so sánh
của mỗi nền kinh tế là một quá trình động. Do đó, quá trình thay đổi cấu trúc kinh
tế, mà cụ thể là sự tái phân bổ đầu vào một cách tối ƣu, cũng là một quá trình vận
động. Để quá trình này diễn ra một cách thuận lợi và hợp lý, cần có các điều kiện
tƣơng thích về thể chế cũng nhƣ các điều kiện kinh tế vĩ mô nói chung.
9
Thứ hai: Những nhận xét về thay đổi cấu trúc kinh tế ở Việt Nam qua 20
năm đổi mới:
- Thay đổi kinh tế phân theo ba ngành kinh tế.
+ Tỷ trọng đóng góp vào GDP của ba ngành đã thay đổi một các đáng kể,
phù hợp với xu hƣớng phát triển của thế giới.
+ Điều đáng lƣu ý là tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ không những
không tăng mà còn có xu hƣớng giảm. Đây là một hiện tƣợng hiếm thấy trên thế
giới về sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
- Sự dịch chuyển của các nguồn lực giữa ba ngành kinh tế.
+ Lao động dịch chuyển khá mạnh ra khỏi ngành nông nghiệp để chuyển đến
các ngành công nghiệp và dịch vụ.
+ Tỷ trọng đầu tƣ cũng nhƣ tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ luôn cao
hơn ngành công nghiệp nhƣng tỷ trọng đóng góp vào GDP của ngành dịch vụ luôn
thấp hơn so với ngành công nghiệp, và khoảng cách này đang có xu hƣớng gia tăng.
Điều này có thể hàm ý rằng hiệu quả sử dụng vốn và lao động của ngành dịch vụ
kém hơn so với mức thay đổi của nền kinh tế.
Thứ ba: Vấn đề đặt ra và hàm ý chính sách.
- Năng suất bình quân của lao động nông nghiệp của Việt Nam so với thế
giới ngày càng kém, cho thấy nông nghiệp Việt Nam đang chạm phải giới hạn kỹ
thuật. Để giải quyết vấn đề này cần đẩy mạnh việc chuyển đổi nghề nghiệp cho lao
tổng thể, cơ cấu ngành ở vùng nông thôn Tây bắc đang chuyển dịch theo hƣớng tích
cực nhƣng tốc độ còn chậm. Theo tác giả luận án: "Đặt trong những điều kiện phát
triển cụ thể của Tây bắc thì giảm tỷ trọng nông nghiệp và sự gia tăng dù còn nhỏ bé
của công nghiệp, dịch vụ là dấu hiệu chuyển biến cơ cấu kinh tế đáng khích lệ".
Luận án đã phân tích những nguyên nhân khách quan và chủ quan làm chậm sự
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông thôn Tây bắc. Luận án đã phân tích rõ
mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động,
cho thấy cơ cấu lao động ở đây chuyển dịch hết sức chậm chạp mà nguyên nhân căn
bản là do những yếu kém về cơ cấu kinh tế.
11
Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành cũng đã đƣợc phân tích đánh giá ở
các khía cạnh động thái và xu hƣớng, kết quả, hạn chế và nguyên nhân. Luận án đã
đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
thôn Tây bắc: Xây dựng hệ thống hạ tầng nông thôn; mở rộng thị trƣờng; tăng
nhanh đầu tƣ và thực hiện chính sách tài chính thích hợp; chính sách đất đai. Kết
hợp hài hòa việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến với kinh nghiệm
truyền thống; đào tạo bồi dƣỡng nguồn nhân lực; thực hiện chính sách mở cửa, thúc
đẩy kinh tế đối ngoại.
Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở một tỉnh của vùng núi phía bắc có
một số công trình sau:
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị của Nguyễn Thị Giang
Châu: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh
Lạng Sơn", năm 2005, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Thành công nổi
bật của công trình nghiên cứu là.
- Phân tích mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với đẩy mạnh CNH,
HĐH và với thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và tiến bộ xã hội.
- Phân tích những nội dung mang tính xu hƣớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hƣớng CNH, HĐH.
- Chỉ ra những khó khăn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế xuất phát
Các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo có giá trị quan trọng cả
về lý luận và thực tiễn mà tác giả có thể kế thừa trong nghiên cứu chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế ở tỉnh Hà Giang.
1.2. Những vấn đề lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
1.2.1. Khái niệm và vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
1.2.1.1. Các khái niệm cơ bản.
* Cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế là thuật ngữ cơ cấu (kết cấu) có nguồn gốc ban đầu từ chữ La
Tinh “Trucke”, nó phản ánh cách sắp xếp các bộ phận của một chỉnh thể. Sau đó,
các khái niệm này đƣợc sử dụng rộng hơn cho các ngành khoa học khác.
13
Theo quan điểm triết học “cơ cấu” hay “kết cấu” là một phạm trù phản ánh
cấu trúc bên trong của đối tƣợng, là tập hợp những mối liên hệ cơ bản, tƣơng đối ổn
định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tƣợng, trong một thời gian nhất định.
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống C.Mác tiếp
cận cơ cấu nền kinh tế nhƣ là: Toàn bộ các quan hệ giữa những ngƣời sản xuất với
nhau và giữa họ với tự nhiên tức là những điều kiện trong đó họ tiến hành sản xuất.
Toàn bộ những quan hệ đó hợp thành xã hội, xét về mặt cơ cấu kinh tế của nó.
Khi phân tích mối quan hệ phân công lao động xã hội, với cơ cấu kinh tế xã
hội C.Mác đã nhấn mạnh: “Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản
xuất phù họp với một quá trình phát triển nhất định của lực lƣợng sản xuất vật chất”
[18, tr.70].
C.Mác còn phân tích cơ cấu kinh tế ở hai mặt: số lƣợng (quy mô, tỷ trọng,
tốc độ) và chất lƣợng (vị trí, sự tƣơng tác, trình độ công nghệ ). Đó là biểu hiện
của mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, lĩnh vực kinh tế. Và theo C.Mác, cơ cấu là
“một sự phân chia về chất lƣợng và một tỷ lệ về số lƣợng của một quá trình sản
xuất xã hội” [18, tr. 103].
Nhƣ vậy, theo C.Mác, cơ cấu kinh tế có cấu trúc bao gồm: Những yếu tố gắn
với lực lƣợng sản xuất (các quan hệ giữa họ với tự nhiện, kỹ thuật) và các nội dung
- Đƣợc xem xét trên cả hai mặt định tính và định lƣợng của từng yếu tố và
mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
- Đặt cơ cấu kinh tế trong điều kiện lịch sử của mỗi nƣớc, mỗi địa phƣơng,
mỗi ngành trong từng thời kỳ nhất định.
- Gắn mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đƣợc xác định trong từng thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Từ đó rút ra khái niệm cơ cấu kinh tế nhƣ sau: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các
quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế gắn với trình độ công nghệ,
quy mô, tỷ trọng tương ứng với tính chất của mối quan hệ tương tác giữa tất cả các
bộ phận; gắn với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất
định; nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định trong quá trình
15
công nghiệp hóa, hiện đại hoá.
Cơ cấu kinh tế là hệ thống động, biến đổi không ngừng theo đà phát triển của
lực lƣợng sản xuất và những nhân tố quy định nó. Để đánh giá một cách thực tế
việc xác định đúng đắn cơ cấu kinh tế và ứng dụng đúng đắn cơ cấu kinh tế vào
điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng địa phƣơng, trong từng giai đoạn phát
triển, cần lƣu ý những đặc trừng sau của cơ cấu kinh tế.
Thứ nhất: Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan.
Theo C. Mác cơ cấu có mối quan hệ mật thiết với phân công lao động xã hội,
Ngƣời khẳng định: “Trong sự phân công xã hội, thì con số tỷ lệ là một tất yếu
không sao tránh khỏi, một sự tất yếu thầm kín yên lặng” [18, tr.15].
Nói một cách khác, mọi sự vật hiện tƣợng nói chung và nền kinh tế nói
riêng chỉ có thể tồn tại và phát triển theo những cấu trúc nhất định, vận động theo
những quy luật khách quan, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình
độ phát triên của lực lƣợng sản xuất.
Cơ cấu kinh tế do những yếu tố vật chất của nền sản xuất quy định (tƣ liệu
sản xuất, tài nguyên, công nghệ, sức lao động) do đó cơ cấu kinh tế tồn tại, vận
mặt mâu thuẫn của quá trình biện chứng. Từ tính chất hai mặt của cơ cấu kinh tế là
tính cân đối ổn định và tính chất biến đổi tổ chức, nói lên tính chất phức tạp của
việc thay đổi cơ cấu kinh tế.
Thứ tư: Cơ cấu kinh tế mang tính thị trƣờng và mở cửa.
Khi chuyển đổi mô hình kinh tế cũ sang mô hình kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế để tạo ra hàng hoá.
Vì vậy, việc xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế nhất thiết phải mang tính thị
trƣờng. Có nhƣ vậy, mới làm cho cơ cấu kinh tế đƣợc xây dựng không chỉ thích
ứng mà còn có tác dụng thúc đẩy việc xây dựng thành công mô hình kinh tế thị
trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta và địa phƣơng.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, sự vận động khách quan của cơ cấu kinh tế
theo hƣớng mở rộng hợp tác và phân công lao động diễn ra không chỉ trong phạm
vi mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi quốc gia mà còn xác định đƣợc cơ cấu kinh tế trên cơ
sở lợi thế của mình gắn với thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế, nhằm tạo ra cơ cấu
17
kinh tế hợp lý, thúc đẩy quá trình quốc tế hoá nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện để
chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Sự phát triển đan xen cũng nhƣ sự phân công lao động quốc tế, sự thâm
nhập kinh tế các nƣớc vào nhau đã chỉ rõ tính đa dạng phong phú và tính quốc tế
của cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế, xem xét trên cấp độ nền kinh tế quốc dân hay một vùng
lãnh thổ, về mặt nội dung, là một hệ thống đa cơ cấu hợp thành.
- Cơ cấu ngành của nền kinh tế quốc dân: Cơ cấu kinh tế ngành là một kiểu,
một bộ phận cơ cấu trong toàn bộ hệ thống các cơ cấu của nền kinh tế quốc dân,
xác định mối quan hệ tƣơng quan về định tính và định lƣợng giữa các ngành với
nhau.
- Cơ cấu vùng (hay lãnh thổ) là biểu hiện vật chất cụ thể của phân công lao
động theo lãnh thổ. Hình thành và phát triển cơ cấu lãnh thổ hoàn toàn phụ thuôc
vào trình độ phát triển phân công lao động theo lãnh thổ.