BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHI
BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH PHÚ YÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hoàng Oanh
ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Bố cục đề tài 2
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
2.2.2. Tổ chức công tác kế toán tại BHXH tỉnh Phú Yên 30
2.2.3. Thủ tục kiểm soát 31
2.3. THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI BHXH TỈNH PHÚ YÊN 32
2.3.1. Lập kế hoạch chi 32
2.3.2. Kiểm soát các khoản chi 55
2.4. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI
BHXH TỈNH PHÚ YÊN 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76
CHƯƠNG 3. HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỈNH PHÚ YÊN 77
3.1. CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHI
BHXH TỈNH PHÚ YÊN 77
3.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHI BHXH TỈNH
PHÚ YÊN 78
3.2.1. Hoàn thiện môi trường kiểm soát 78
iv
3.2.2. Hoàn thiện thông tin kế toán phục vụ công tác kiểm soát chi
BHXH tỉnh Phú Yên 79
3.2.3. Hoàn thiện kiểm soát chi BHXH tỉnh Phú Yên 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BHXH: Bảo hiểm xã hội
2.1 Dự toán chi từ nguồn NSNN 34
2.2 Dự toán chi quỹ BHXH 35
2.3 Dự toán chi quản lý bộ máy 37
2.4 Quyết toán chi từ nguồn NSNN 44
2.5 Quyết toán chi quỹ BHXH 45
2.6 Bảng tính lương tăng thêm 47
2.7 Quyết toán chi quản lý bộ máy 66
vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
sơ đồ
Tên sơ đồ Trang
1.1 Quy trình kiểm soát 8
3.3 Trình tự, thủ tục kiểm soát ốm đau, thai sản, nghĩ dưỡng
sức 85
3.4
Trình tự, thủ tục kiểm soát chi trợ cấp thất nghiệp
86
3.5
Trình tự, thủ tục kiểm soát chi lương CBCC
90
3.6
Trình tự, thủ tục kiểm soát mua hàng hóa, vật tư
92
3.7
Trình tự, thủ tục kiểm soát chi phí sửa chữa lớn
94
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội là chính sách an sinh xã hội quan trọng trong hệ thống
chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Con người vừa
là mục tiêu, vừa là động lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa,
là yếu tố quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định trong quá trình phát triển đất
nước, vì vậy việc chăm sóc sức khỏe và bảo đảm an sinh xã hội là một trong
những nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, Nhà nước và cộng đồng xã hội.
Chính sách bảo hiểm xã hội hiện nay được mở rộng đến mọi người lao
động thuộc các thành phần kinh tế. Vì thế, số người lao động tham gia BHXH
ngày càng gia tăng, tạo nên một lượng quỹ BHXH rất lớn. Đồng thời để đảm
bảo việc chi trả kịp thời, chính xác, đúng đối tượng, tận tay cho người được
hưởng cũng là một việc không mấy giản đơn.
Trong khi đó quá trình giải quyết chế độ chính sách của hệ thống
thông tin về các vấn đề, sự kiện và nêu lên ý kiến của bản thân.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI BẢO HIỂM XÃ
HỘI
Chương 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỈNH PHÚ YÊN
Chương 3: HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI
TỈNH PHÚ YÊN
3
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến hoạt động BHXH ở
nhiều khía cạnh khác nhau. Điển hình một số đề tài nghiên cứu sau đây:
Đề tài cấp Bộ năm 1999 do Tiến sĩ Phạm Thành làm chủ nhiệm đề tài
“Cơ sở khoa học để hoàn thiện quy chế quản lý tài chính BHXH Việt Nam”.
Đây là đề tài nghiên cứu chuyên ngành, đề tài đã phân tích được bản chất của
tài chính BHXH, quỹ BHXH và đưa ra những giải pháp để hoàn thiện quy chế
quản lý tài chính BHXH. Trong đó có một quy chế đưa vào thực hiện từ năm
2009 là Nhà nước cho thi hành BHXH tự nguyện và hiện nay đang thực hiện
chi trả chế độ cho những đối tượng được hưởng chế độ BHXH tự nguyện.
Đồng thời, một nội dung mà đề tài đề cập đến là khoán chi hoạt động bộ máy
ngành BHXH Việt Nam. Về cơ chế khoán chi: khoán chi hợp lý nhất của
ngành BHXH Việt Nam là xây dựng một tỷ lệ % tính trên tổng số thu BHXH,
nếu số thu tăng thì tổng số tiền tuyệt đối khoán chi cho toàn ngành BHXH
cũng tăng lên, vừa có lợi cho quỹ, vừa khuyến khích ngành BHXH làm tốt
công tác thu, tỷ lệ khoán từ 4 - 4,1% trên tổng thu BHXH và hiện nay cũng
đang được áp dụng.
Đề tài cấp Bộ năm 2000 do Tiến sĩ Mai Thị Cẩm Tú làm chủ nhiệm đề
công chức, viên chức ngành BHXH; đưa ra các giải pháp để hoàn thiện quản
lý Nhà nước về BHXH trong đó có Ban hành Luật BHXH cần phải được xây
dựng trên cơ sở những quan điểm, nguyên tắc: phải thống nhất cho mọi loại
hình lao động trong cả nước, quỹ BHXH phải được quản lý tập trung và bản
chất của BHXH là tượng trợ. Đồng thời thực hiện các chức năng kiểm tra,
thanh tra, xử lý các vi phạm về BHXH.
Đề tài năm 2000 do CN. Đinh Thị Như Ý, Phó trưởng ban quản lý chi
5
BHXH VN làm chủ nhiệm đề tài “Tăng cường quản lý an toàn tiền mặt trong
quá trình chi trả các chế độ BHXH”. Đề tài đã đánh giá được thực trạng tổ
chức quản lý tiền mặt trong quá trình chi trả các chế độ BHXH hiện nay và đã
đưa ra được các phương pháp đảm bảo an toàn tiền mặt trong quá trình chi trả.
Đề tài năm 2001 do CN. Lê Quyết Thắng làm chủ nhiệm đề tài “Hoàn
thiện công tác kiểm tra trong hệ thống BHXH Việt Nam”. Đề tài đã đánh giá
được thực trạng công tác kiểm tra về BHXH ở Việt Nam và đưa ra các giải
pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra trong hệ thống BHXH như: giải
pháp tổ chức bộ máy và con người làm công tác kiểm tra, giải pháp về hành
lang pháp lý, tiêu chuẩn hóa các tiêu thức kiểm tra và phương pháp kiểm tra
đánh giá kết quả hoạt động BHXH.
Các công trình nghiên cứu trên có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên
cứu, cách tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu đều đưa ra được
những giải pháp để hoàn thiện. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu
về lĩnh vực kiểm soát chi quỹ BHXH. Do đó, tôi chọn đề tài này để làm rõ
hơn về mặt quản lý quỹ thì cần kiểm soát nó như thế nào để bảo toàn được
lượng quỹ BHXH không bị thất thoát.
Những vấn đề mang tính chất định hướng được nêu trong đề tài này tác
giả đã tham khảo một số quy định của Nhà nước về chính sách BHXH thông
qua tạp chí BHXH Việt Nam, Các kỷ yếu khoa học của BHXH, các tài liệu
hội thảo, báo cáo hoạt động và các văn bản của ngành.
Đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện kiểm soát chi BHXH tỉnh Phú Yên” đã
tìm những biện pháp điều chỉnh phù hợp, kịp thời.
1.2.2. Phân loại kiểm soát
Giữa kiểm soát và mục tiêu cụ thể luôn có mối liên hệ trực tiếp hoặc
7
gián tiếp nhau. Đồng thời, khi tính chất và phạm vi mục tiêu có sự thay đổi thì
cách kiểm soát cũng có thể thay đổi theo. Kiểm soát có thể được phân loại
theo các tiêu thức sau:
* Theo quan hệ với quá trình hoạt động: có 3 loại kiểm soát
Kiểm soát hướng dẫn: là loại kiểm soát được tiến hành đồng thời với
quá trình xây dựng mục tiêu. Thông qua các thủ tục, chính sách, kiểm soát
hướng dẫn giúp cho nhà quản lý có được các hành động quản lý kịp thời.
Kiểm soát “có” “không”: là loại kiểm soát nhằm vào chức năng bảo vệ
các mục tiêu đã đề ra, thông qua hàng loạt các chuỗi kiểm soát nhằm bảo đảm
đạt được kết quả mong muốn.
Kiểm soát sau hành động: là loại kiểm soát được thực hiện xảy ra sau
khi đã có những hoạt động nghiệp vụ kinh tế. Đây là loại kiểm soát được tiến
hành phổ biến nhất. Kiểm soát sau hành động là xem lại quá khứ, nhưng bao
giờ cũng hướng vào việc cải tiến những hoạt động tương lai.
* Theo thời điểm thực hiện kiểm soát
Kiểm soát trước khi thực hiện: kiểm soát kế hoạch, các nguồn lực
chuẩn bị cho hoạt động…để đảm bảo cho quá trình thực hiện đạt kết quả tốt.
Kiểm soát trong quá trình thực hiện: kiểm soát được tiến hành trong
quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch để có thể nắm bắt và điều chỉnh kịp thời
những vấn đề phát sinh trong khi thực hiện.
Kiểm soát sau khi thực hiện: sau khi hoàn tất, hành động kiểm soát này
được tiến hành để đánh giá kết quả thực hiện, so sánh với mục tiêu đã đề ra và
rút ra các kinh nghiệm.
* Theo mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng kiểm soát
- Kiểm soát trực tiếp
- Kiếm soát gián tiếp
thời, khi xây dựng mục tiêu phải chú trọng đến các nguyên tắc chỉ đạo nội bộ
Xác định mục tiêu kiểm soát
(tổng hợp và chi tiết)
Xây dựng tiêu chuẩn kiểm soát
Đo lường kết quả thực hiện
So sánh kết quả với tiêu chuẩn
Đánh giá lại kết quả, đưa ra hành
động quản lý tiếp theo
Phân
tích
nguyên
nhân
chênh
lệch và
điều
chỉnh
9
sẵn có.
Bước 2: Xây dựng tiêu chuẩn kiểm soát
Là thiết lập và đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá quá trình hoạt động
của đơn vị, tổ chức. Các tiêu chuẩn đưa ra phải phù hợp với các mục tiêu đã
đề ra và có thể đo lường được.
Bước 3: Đo lường kết quả thực hiện
Đo lường cụ thể các kết quả thực hiện của công việc, là cơ sở đúng đắn
về so sánh và phân tích kết quả đã thực hiện với các tiêu chuẩn đã thiết lập, từ
đó có những hành động quản lý cần thiết, phù hợp.
hiệu quả của kiểm soát phụ thuộc vào sự đầy đủ trong việc lập kế hoạch.
Tổ chức thực hiện: thông qua tổ chức, công việc kiểm soát được phân
chia, ủy quyền một cách cụ thể. Như vậy, tổ chức đã tạo lập tiến trình cho
kiểm soát thực hiện.
Điều hành hoạt động: trong quá trình điều hành hoạt động và chỉ đạo tổ
chức thực hiện công việc, các nhà quản lý cũng điều hành hệ thống kiểm soát
và có những hành động cần thiết khi việc thực hiện kế hoạch có những thay
đổi. Vì vậy, kiểm soát tốt cần phải có sự cộng tác chặt chẽ với các cấp quản lý
để hỗ trợ những nhu cầu kiểm soát.
Đánh giá kiểm soát và thực hiện kế hoạch: là hành động xem xét các
hoạt động kiểm soát trong đơn vị đã đạt hiệu quả chưa, quá trình thực hiện kế
hoạch có những vướng mắc gì, tìm nguyên nhân để có những biện pháp quản
lý kịp thời, phù hợp.
11
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa kiểm soát và quản lý
1.3 HỆ THỐNG KIỂM SOÁT TRONG TỔ CHỨC
1.3.1. Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, chi
phối ý thức về kiểm soát của mọi thành viên trong tổ chức và là nền tảng của
các bộ phận khác trong hoạt động của tổ chức.
trường kiểm soát và là chủ thể thực hiện trực tiếp các thủ tục kiểm soát trong
hoạt động của tổ chức. Chính sách nhân sự đúng đắn phải đi từ khâu tuyển
dụng, tổ chức huấn luyện đào tạo, và sử dụng cán bộ nhân viên có năng lực,
trình độ, có tinh thần trách nhiệm tốt. Chính sách nhân sự gồm các chính sách
về tuyển dụng, đào tạo, chính sách tiền lương, khen thưởng, kỷ luật . . .
Kế hoạch: công tác lập kế hoạch khi được tiến hành ngiêm túc và khoa
học sẽ trở thành một công cụ kiểm soát hữu hiệu. Một hệ thống kế hoạch đi từ
khâu lập kế hoạch hoạt động, kế hoạch đầu tư, kế hoạch tài chính bao gồm
những tính toán, cân đối và dự đoán nhu cầu…Do đó, trong quá trình điều
hành hoạt động của đơn vị, các nhà quản lý phải luôn quan tâm xem xét tiến
độ thực hiện kế hoạch, kịp thời điều chỉnh khi có vấn đề phát sinh.
Phân định quyền hạn và trách nhiệm: xác lập quyền hạn và trách nhiệm
cho các cấp quản lý, thiết lập các chính sách thích hợp để tạo ra cơ sở và mối
quan hệ cho các báo cáo và công tác kiểm soát là việc làm cần thiết. Đây là sự
cụ thể hóa quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong tổ chức. Do
vậy, việc xác lập quyền hạn và trách nhiệm cần phải được thực hiện bằng văn
bản và triển khai trong toàn bộ tổ chức về nhiệm vụ, quyền hạn và chức năng
cụ thể của từng thành viên cũng như mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ
13
chức với nhau.
b. Môi trường bên ngoài
Các nhân tố của môi trường bên ngoài là các nhân tố không nằm trong
tầm kiểm soát của nhà quản lý nhưng lại ảnh hưởng và tác động đến thái độ,
sự thiết lập và thực hiện các thủ tục trong hoạt động kiểm soát của tổ chức.
Các nhân tố của môi trường bên ngoài gồm:
- Hệ thống luật pháp gồm các văn bản, quy định của Nhà nước và của
Ngành đối với hoạt động của tổ chức như luật BHXH, luật BHYT, các thay
đổi của chế độ kế toán…
- Sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng như Chi cục thuế,
cơ quan kiểm toán, thanh tra…
hợp thông tin có hiệu quả, là cơ sở cho việc kiểm tra các thủ tục kiểm soát
trong quá trình xử lý chứng từ, đối chiếu số liệu giữa chi tiết và tổng hợp.
Hệ thống tài khoản: hệ thống tài khoản đầy đủ, chi tiết sẽ là cơ sở cho
việc phản ánh, phân loại các nghiệp vụ kinh tế phát sinh một cách cụ thể, rõ
ràng, đảm bảo tính chính xác trong việc ghi chép và cung cấp thông tin cho
nhà quản lý, việc lập bảng cân đối tài khoản cũng là một cách kiểm soát số
liệu ghi chép có đúng hay không.
Hệ thống báo cáo tài chính: là khâu cuối cùng của quá trình dựa trên
kết quả tổng hợp của số liệu trên sổ sách kế toán và hệ thống tài khoản. Thông
tin trên báo cáo tài chính phải phản ánh trung thực tình hình tài chính, kết quả
hoạt động của đơn vị và trình bày tuân thủ theo các chuẩn mực kế toán yêu cầu.
1.3.3. Hoạt động kiểm soát
a. Các nguyên tắc kiểm soát
Nguyên tắc phân công, phân nhiệm: Theo nguyên tắc này, công việc
15
và trách nhiệm được phân chia cho nhiều người trong một bộ phận hoặc nhiều
bộ phận trong một tổ chức. Mục đích của nguyên tắc này là không cho một cá
nhân hay một bộ phận nào được thực hiện một nghiệp vụ kinh tế từ khâu đầu
đến khâu kết thúc. Cơ sở của nguyên tắc này là trong chế độ làm việc nhiều
người thì các sai sót dễ bị phát hiện hơn và các gian lận khó xảy ra hơn. Việc
phân công, phân nhiệm còn có tác dụng tạo ra sự chuyên môn hóa, giúp cho
việc kiểm tra chéo, thúc đẩy nhau trong công việc.
Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: nguyên tắc này đòi hỏi sự tách biệt về chức
năng đối với một số công việc như: chức năng xét duyệt chế độ với chức năng
kế toán, chức năng thực hiện với chức năng kiểm soát, …Nguyên tắc này xuất
phát từ mối quan hệ đặc biệt ở các nhiệm vụ mà nếu có sự kiêm nhiệm thì dễ
dàng dẫn đến lạm dụng và việc ngăn ngừa hay phát hiện gian lận sẽ rất khó
khăn. Chẳng hạn như nếu để kế toán kiêm giải quyết chế độ thì họ rất dễ che
dấu hành vi gian lận của mình.
gian lận, gây mất mát tài sản hoặc sử dụng không đúng mục đích.
Kiểm tra độc lập: Kiểm tra là luôn cần thiết, nhằm đảm bảo các nghiệp
vụ được thực hiện và xử lý chính xác là thành phần quan trọng của quá trình
kiểm soát. Yêu cầu quan trọng là người thực hiện kiểm tra không phải là
người thực hiện nghiệp vụ hoặc phê duyệt. Sự hữu hiệu của hoạt động này sẽ
không còn khi người kiểm tra là nhân viên cấp dưới của người thực hiện
nhiệm vụ hoặc không độc lập.
Kiểm tra độc lập làm giảm thiểu các sai sót do sự cẩu thả hoặc yếu kém
của năng lực cá nhân và trong một số hoạt động nghiệp vụ cụ thể có tình trạng
yếu thì vẫn cần có sự kiểm tra độc lập.