Luận văn thạc sĩ Hoàn thiện công tác thanh tra trong lĩnh vực tín dụng của ngân hàng nhà nước chi nhánh Quảng Bình (full) - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ VIỆT HOÀI

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA TRONG LĨNH VỰC
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ VIỆT HOÀI

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
5. Bố cục đề tài 3
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA CỦA
NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC TCTD 7
1.1. TỔNG QUAN VỀ NHTW 7

2.3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA TRONG LĨNH VỰC TÍN
DỤNG CỦA NHNN CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH ĐỐI VỚI CÁC TCTD
TRÊN ĐỊA BÀN 48
2.3.1. Cơ quan thanh tra giám sát NHNN Chi nhánh Quảng Bình 48
2.3.2. Quy trình và nội dung công tác thanh tra trong lĩnh vực tín dụng
đang được áp dụng tại NHNN Chi nhánh Quảng Bình 49
2.3.3. Kết quả công tác thanh tra trong lĩnh vực tín dụng của NHNN Chi
nhánh Quảng Bình đối với các TCTD trên địa bàn 57
2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC THANH TRA TRONG LĨNH
VỰC TÍN DỤNG CỦA NHNN CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH 72
2.4.1. Kết quả đạt được 72
2.4.2. Hạn chế, tồn tại 73
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA
TRONG LĨNH VỰC TÍN DỤNG CỦA NHNN CHI NHÁNH QUẢNG
BÌNH ĐỐI VỚI CÁC TCTD TRÊN ĐỊA BÀN 79
3.1. ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC THANH TRA CỦA CHI NHÁNH 79
3.1.1. Mục tiêu 79
3.1.2. Phương hướng nhiệm vụ 79
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA TRONG LĨNH
VỰC TÍN DỤNG CỦA NHNN CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH 80
3.2.1. Kết hợp chặt chẽ công tác GSTX và TTTC 80
3.2.2. Kết hợp TT tuân thủ với TT trên cơ sở đánh giá rủi ro 82
3.2.3. Hoàn thiện quy trình TT hoạt động cấp tín dụng 84
3.2.4. Tăng cường công tác tổ chức cán bộ 86
3.2.5. Đẩy mạnh công tác TT thực hiện kiến nghị 88
3.2.6. Cải tiến tình hình triển khai và cập nhật các văn bản quy phạm
pháp luật về thanh tra 89

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
Bảng
Tên bảng Trang
2.1 Số lượng đơn vị giao dịch trên địa bàn 44
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của các TCTD 2011-2013 45
2.3 Tình hình hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân 2011-2013 47
2.4 Số lượng và trình độ cán bộ TT NHNN Quảng Bình 49
2.5 Thống kê số cuộc TTTC từ 2011-2013 58
2.6 Thống kê các sai phạm thường gặp trong lĩnh vực tín dụng 59
2.7 Thống kê kiến nghị sau thanh tra 2011-2013 64
2.8 Quy mô tăng trưởng tín dụng của các TCTD trên địa bàn 67
2.9 Thống kê dư nợ theo nhóm của từng TCTD 69
2.10 Cơ cấu tín dụng của các TCTD trên địa bàn 71

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ chế thị trường, các thành phần kinh tế phát triển đa dạng,
phong phú và tự do kinh doanh theo khuôn khổ của pháp luật. Cơ chế thị
trường có nhiều ưu điểm, song mặt trái của nó cũng không hề ít. Bất kỳ Nhà
nước nào cũng phải có các công cụ và phải áp dụng những biện pháp thích
hợp để hạn chế những tiêu cực do chính cơ chế thị trường sinh ra.
Một trong những công cụ thiết yếu đó là thanh tra. Bất kỳ lĩnh vực nào
trong nền kinh tế xã hội cũng cần phải được thanh tra. Lĩnh vực NH cũng
không nằm ngoài tất yếu này.
Trong những năm gần đây, hệ thống TCTD trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình không ngừng gia tăng về quy mô và số lượng, với 11 Chi nhánh NHTM,
1 Quỹ tín dụng Trung ương, 20 Quỹ tín dụng cơ sở và nhiều phòng giao dịch;
cung cấp các dịch vụ NH và cung ứng phần lớn nhu cầu vốn cho sự phát triển
kinh tế của tỉnh.
Cùng với sự gia tăng số lượng TCTD thì việc cạnh tranh dành thị phần
ngày càng trở nên khốc liệt. Cuộc chiến lôi kéo khách hàng giữa các TCTD
gay gắt hơn bao giờ hết, dẫn đến nhiều tiêu cực, vi phạm và tiềm ẩn nhiều
nguy cơ rủi ro. Hiện nay, hoạt động tín dụng là khoản mục đưa lại lợi nhuận
đáng kể cho các TCTD nhưng cũng đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất gây
mất an toàn hoạt động NH.
Trong những năm gần đây, hoạt động TT trong lĩnh vực tín dụng của
Chi nhánh đã góp phần không nhỏ vào việc ổn định hệ thống TCTD trên địa
bàn. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của các TCTD trên địa bàn trong thời gian
gần đây đã bộc lộ nhiều tồn tại. Những tồn tại đó, bên cạnh những nguyên

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài dựa trên sự kết hợp thống
kê, phân tích, tổng hợp số liệu thực tế, vận dụng kiến thức thực tế để đưa ra

3

các nhận định, đánh giá cụ thể. Đồng thời phỏng vấn trực tiếp với một số cán
bộ thanh tra có kinh nghiệm để nắm bắt thông tin, thu thập thêm ý kiến nhận
xét, đánh giá, từ đó đề xuất những giải pháp để khắc phục.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động Thanh tra của NHTW đối với
các TCTD.
Chương 2: Thực trạng công tác Thanh tra trong lĩnh vực tín dụng của
NHNN Chi nhánh Quảng Bình đối với các TCTD trên địa bàn.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác Thanh tra trong lĩnh vực tín
dụng của NHNN Chi nhánh Quảng Bình đối với các TCTD trên địa bàn.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Vai trò của hệ thống NHTM Việt Nam đối với những khởi sắc của nền
kinh tế là không thể phủ nhận bởi sự ra đời của nó gắn liền với sự phát triển
của nền kinh tế hàng hóa. Nó là kênh dẫn vốn quan trọng, đồng thời đưa ra
các chính sách tiền tệ để phát triển kinh tế. Do đó, một sự đổ vỡ của hệ thống
NH sẽ làm cho cả nền kinh tế điêu đứng. Để đảm bảo sự phát triển an toàn,
bền vững của hệ thống NH thì TT là một công cụ không thể thiếu của NHNN.
Chính vì vậy, nhiều tác giả cũng đã có những công trình nghiên cứu về TTGS
hệ thống NH để thực hiện được mục tiêu trên.
Tác giả Lê Ngọc Lân – Bùi Thị Thanh Tình tại bài viết “Đánh giá hoạt
động thanh tra giám sát của NHNN Việt Nam hiện nay” (2011) đăng trên Tạp
chí Ngân hàng số 110 đã nêu ra thực trạng TTGS NH hiện nay, đồng thời đưa
ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác TTGS. Bài viết cho rằng,
phương pháp TT tuân thủ sẽ không khuyến khích phát triển khả năng và kinh

toàn cần thiết đối với thị trường, cũng như đảm bảo công bằng trong hoạt
động kinh doanh chứng khoán giữa các chủ thể tham gia thị trường. Tuy đây

5

là nghiên cứu TTGS trong lĩnh vực chứng khoán nhưng bố cục của nó rất
khoa học và rõ ràng, là tài liệu để học viên tham khảo để viết nên sườn luận
văn.
Tác giả Phạm Đắc Phước với đề tài luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công
tác thanh tra trong lĩnh vực tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi
nhánh Đà Nẵng đối với các Ngân hàng thương mại trên địa bàn” được tham
khảo đã xây dựng được hệ thống tiêu chí đánh giá hoạt động thanh tra của
NHNN đối với hoạt động tín dụng của NHTM, đồng thời chỉ ra những hạn
chế, đưa ra được các giải pháp khắc phục để hoàn thiện hơn công tác TT
trong lĩnh vực tín dụng đối với các NHTM trên địa bàn. Tuy hệ thống tiêu chí
chưa thật sự đầy đủ nhưng cũng phần nào đánh giá được thực trạng công tác
TTGS của NHNN chi nhánh Đà Nẵng. Học viên đã tham khảo hệ thống tiêu
chí này để đưa vào luận văn.
Tác giả Đặng Văn Sống với đề tài luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công
tác quản lý của Ngân hàng Nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng trên địa
bàn tỉnh Gia Lai” nói về công tác quản lý của NHNN, trong đó có hoạt động
TT đối với các TCTD trên địa bàn. Trong nội dung, luận văn có nhắc đến
công tác TTGS như là một phần nhỏ trong công tác quản lý Nhà nước của
NHNN, bên cạnh đó liệt kê các sai phạm mà các TCTD thường mắc phải
trong phần thực trạng. Học viên đã tham khảo để liệt kê ra các sai phạm trong
lĩnh vực tín dụng mà các TCTD thường mắc phải để đánh giá rõ hơn công tác
TTGS của Chi nhánh trong luận văn của mình.
Tác giả Nguyễn Chí Đức trong bài viết “Xây dựng hệ thống giám sát
Ngân hàng thương mại Việt Nam” (2011) đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 19
cho rằng một hệ thống GSNH hiện đại bao gồm ba phòng tuyến như sau: cơ

1.1. TỔNG QUAN VỀ NHTW
1.1.1. Sự ra đời của NHTW
NHTW ra đời trên cơ sở phân hóa hệ thống NHTM. Quá trình này diễn
ra song song với việc tách riêng chức năng phát hành tiền và chức năng kinh
doanh tiền tệ của hệ thống NH và trải qua ba giai đoạn.
· Giai đoạn hình thành NHTM: Từ thế kỷ thứ V đến thế ký thứ XVII
là giai đoạn phát triển và dần dần hoàn thiện các nghiệp vụ của một NHTM
như ghi chép sổ sách, thanh toán giữa các NH, bảo lãnh, chiết khấu thương
phiếu… Cho đến thế kỷ thứ XVII, các nghiệp vụ của một NH kinh doanh đã
hoàn thiện, bao gồm: (1) Nhận gửi và cho vay; (2) Phát hành tiền; (3) Chiết
khấu thương phiếu; (4) Chuyển ngân, thanh toán bù trừ và bảo lãnh.
· Giai đoạn phân hóa trong hệ thống NHTM: Đến thế kỷ XVIII, các
NH bắt đầu lợi dụng ưu thế của mình để phát hành một khối lượng lớn các kỳ
phiếu tách rời khỏi dự trữ vàng để cho vay. Mặt khác, vì các NH đều có
quyền phát hành kỳ phiếu có chức năng như tiền nên Nhà nước rất khó khăn
trong việc kiểm soát lượng tiền trong nền kinh tế và cũng không thể kiểm soát
được tính chất bảo đảm của lượng tiền lưu thông đó. Thực trạng này dẫn tới
sự phân hóa trong hệ thống NH thành hai nhóm có chức năng riêng biệt: (1)
Nhóm thứ nhất, các NH được phép phát hành tiền – gọi là NH phát hành; (2)
Nhóm thứ hai, các NH không được phép phát hành tiền – gọi là các NH
trung gian.
· Giai đoạn hình thành NHTW: Vào thế kỷ XX, hầu hết các nước phát
triển đều thực hiện cơ chế một NH độc quyền phát hành tiền, song các NH
này vẫn còn thuộc tư nhân sở hữu. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 –

8

1933, sự phát triển của học thuyết Keynes đã làm thay đổi căn bản sự nhận
thức của các quốc gia về vai trò của NHTW trong nền kinh tế. Xuất phát từ
đó, Nhà nước đã nhanh chóng nắm lấy NH phát hành để tiến hành điều tiết

quản lý ngoại tệ và dự trữ quốc gia cho chính quyền Nhà nước, cung ứng điều
tiết tiền tệ, bảo vệ giá trị của nội tệ, quản lý hoạt động NH.
Quan điểm của Nhật Bản về NHTW như sau: NHTW là một thiết chế
phát hành tiền, điều tiết cung ứng tiền tệ, quản lý lưu thông tiền tệ, đại diện về
tài chính của Chính phủ trong và ngoài nước.
Theo từ điển Thuật ngữ kinh tế thị trường hiện đại: NHTW là một cơ
quan do Chính phủ lập ra, chịu trách nhiệm kiểm soát trong phạm vi cả nước
việc cung cấp tiền tệ cùng các điều kiện tín dụng và giám sát các NHTM. [11,
tr 9 – 10]
Theo Luật NHNN Việt Nam số 46/2010/QH12 ban hành ngày
16/06/2010 thì: NHNN Việt Nam là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là
NHTW của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước về tiền tệ, hoạt động NH và ngoại hối; thực hiện chức năng
của NHTW về phát hành tiền, NH của các TCTD và cung ứng dịch vụ tiền tệ
cho Chính phủ.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về NHTW như sau: NHTW là NH
độc quyền phát hành tiền trong mỗi quốc gia, là NH của các NH và là NH của
Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và các hoạt động
NH đối với các NH trung gian.
1.1.3. Hoạt động cơ bản của NHTW
a. Phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ
NHTW độc quyền phát hành tiền, có nghĩa đây là cơ quan duy nhất
được phép phát hành tiền theo các quy định trong luật hoặc được Chính phủ

10

phê duyệt (mệnh giá tiền, loại tiền, mức phát hành…) nhằm đảm bảo thống
nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia. Giấy bạc và tiền
kim khí là phương tiện thanh toán hợp pháp duy nhất trong cả nước và được
thanh toán không hạn chế.

d. Cung cấp các dịch vụ Ngân hàng cho Chính phủ
NHTW thực hiện các dịch vụ NH cho Chính phủ, các giao dịch tiền tệ
của Chính phủ trong và ngoài nước thường phải thông qua NHTW. Nội dung
này được thể hiện qua việc:
- NHTW cung cấp các dịch vụ NH cho Chính phủ như: làm thủ quỹ
cho Kho bạc Nhà nước, thực hiện dịch vụ thanh toán cho Chính phủ, tạm ứng
tạm thời cho Chính phủ chi tiêu.
- NHTW làm đại lý phát hành và bán công trái cho Chính phủ. [11]
đ. Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống Ngân hàng
Hoạt động của các TCTD có liên quan đến hầu hết các hoạt động kinh
tế - xã hội, vì vậy, sự hoạt động thiếu ổn định của mỗi TCTD cũng đều gây
tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Do dựa trên nguyên tắc là đi vay để cho
vay nên bản thân hoạt động này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, mức độ rủi ro sẽ càng
tăng cao khi các TCTD có xu hướng chạy theo lợi nhuận quá mức, đẩy các
TCTD vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Do đó, NHTW thực hiện việc
TT, GS các TCTD nhằm đảm bảo sự ổn định trong hoạt động của hệ thống
các TCTD vừa bảo vệ lợi ích của khách hàng, đặc biệt là những người gửi
tiền. [4]
1.1.4. Các mô hình tổ chức NHTW [6]
a. NHTW trực thuộc Bộ Tài chính
Mô hình này xuất hiện lần đầu tiên ở Anh và Pháp, sau đó, được mở
rộng sang các nước khác nguyên là thuộc địa của những nước này, như
Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Nhật…

12

Mô hình NHTW trực thuộc Bộ Tài chính phần lớn do lịch sử để lại, bởi vì:
- Trước kia, đồng tiền của một nước thường là tiền do Quốc khố do Bộ
Tài chính phát hành, mà phần lớn là để bảo đảm các khoản chi tiêu Ngân sách
Nhà nước, NHTW lúc đó chưa ra đời. Sau này, khi NHTW ra đời và làm

trong từng thời kỳ. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng mô hình này sẽ
làm mất đi tính độc lập của NHTW trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ, và nó có thể biến NHTW thành nơi phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt
trong Ngân sách Nhà nước khiến cho hoạt động phát hành tiền không tuân thủ
nguyên tắc và có thể dẫn đến lạm phát.
c. NHTW trực thuộc Quốc hội
Theo mô hình này, hoạt động của NHTW không bị chi phối bởi Chính
phủ, vì vậy NHTW thể hiện tính độc lập cao trong việc điều hành chính sách
tiền tệ, đồng thời có thể ngăn ngừa việc NHTW phát hành tiền để bù đắp thiếu
hụt của Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng tính
độc lập của NHTW với Chính phủ bên cạnh những ưu điểm đó thì có thể nảy
sinh những hoạt động, trong đó thiếu sự phối hợp giữa Chính phủ và NHTW,
làm cho các mục tiêu kinh tế - xã hội không được thực hiện một cách nhất
quán. Tuy nhiên, mô hình này được coi là mô hình tiên tiến, phù hợp với xu
thế phát triển kinh tế để từng bước nâng cao vị trí của NHTW trong nền kinh
tế thị trường. [6, tr 16]
1.2. HOẠT ĐỘNG THANH TRA CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.2.1. Khái niệm thanh tra ngân hàng
Theo Giáo trình Nghiệp vụ công tác Thanh tra - Trường cán bộ Thanh
tra thì: Thanh tra – tiếng Anh – Inspect – xuất phát từ tiếng Latinh (In-
Spectate) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ “một sự xem xét từ bên ngoài
vào một đối tượng nhất định”. [18, tr 8]

14

Theo Giáo trình Thanh tra tài chính: “Thanh tra là hoạt động kiểm tra
của tổ chức TT Nhà nước đối với đối tượng TT nhằm phát hiện, chấn chỉnh
những sai lầm, xử lý những vi phạm trong các hoạt động kinh tế - xã hội giúp
cho bộ máy quản lý vận hành tốt”. [1, tr 5]

doanh khác, trong đó bao gồm nhiều loại rủi ro như rủi ro thanh khoản, rủi ro
tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro đổ vỡ… Bên cạnh đó, sự khủng hoảng hay đổ
vỡ trong hoạt động của các TCTD có thể dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm
trọng đối với nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng khi
TCTD là trung gian tài chính quan trọng của nền kinh tế. Chính vì vậy, hoạt
động của các TCTD cần có sự TTGS của các cơ quan có thẩm quyền nhằm
đảm bảo các TCTD không quá mạo hiểm trong hoạt động kinh doanh của
mình khi theo đuổi mục tiêu lợi nhuận.
Mục tiêu trong giám sát đối với các TCTD là ổn định hệ thống tài chính
và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.
Để đạt được mục tiêu trên, hoạt động TTGS đối với các TCTD phải
bao gồm:
- Đánh giá các hoạt động chủ yếu của TCD như: mức độ đảm bảo vốn,
chất lượng tài sản có, chất lượng quản lý, thu nhập, thanh khoản, độ nhạy…
- Đưa ra những nhận xét và cảnh báo về các loại rủi ro mà các TCTD
đang đối mặt.
- Khuyến nghị hoặc yêu cầu những việc mà TCTD cần làm ngay hoặc
cần chú ý nhằm lành mạnh hóa và nâng cao độ an toàn trong hoạt động của
TCTD. [12]
1.2.3. Quy trình thanh tra ngân hàng
Xem Phụ lục 1.
Bước 1 – 3: Tạo lập cơ sở pháp lý cho hoạt động của các TCTD, các
điều kiện để được cấp phép hoạt động cho các TCTD. Xác định mức độ rủi ro
mà các TCTD được phép thực hiện.

16

Bước 4 – 9: Các bước để xây dựng và thực hiện hoạt động GSTX và
báo cáo GSTX với những công việc cụ thể cần làm.
Bước 10 – 11: Tiến hành TTTC theo yêu cầu và chú ý từ báo cáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status