ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ THỊ HẰNG
CÔNG ĐOÀN DỆT MAY TRONG VIỆC THỰC HIỆN
CHỨC NĂNG BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
(Qua khảo sát một số doanh nghiệp Dệt May khu vực phía Bắc)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG VĂN CẢNH
HÀ NỘI - 2012 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng
Văn Cảnh.
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều
trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012.
Tác giả luận văn
Lê Thị Hằng
QUỐC TẾ
45
2.1.
Khái quát ngành Dệt May và Công đoàn ngành Dệt May Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
45
2.1.1. Ngành Dệt May Việt Nam 45
2.1.2. Công đoàn Dệt May Việt Nam 50
2.1.3. Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế đối với ngành Dệt May
và Công đoàn Dệt May Việt Nam 51
2.2. Công đoàn Dệt May Việt Nam với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của công nhân, lao động trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế 69
2.2.1. Vấn đề Việc làm và đời sống 70
2.2.2. Vấn đề nhà ở 76
2.2.3. Vấn đề ký kết và thực hiện Hợp đồng lao động, Thỏa ước lao
động tập thể 78
2.2.4. Vấn đề giải quyết tranh chấp lao động 95
Chương 3.
MỤC TIÊU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN DỆT MAY TRONG
VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA CÔNG
NHÂN, LAO ĐỘNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
98
3.1. Mục tiêu 99
3.1.1. Mục tiêu chung 99
3.1.2. Mục tiêu cụ thể 99
3.2. Một số giải pháp chủ yếu 100
3.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò đại diện của Công đoàn trong
việc xây dựng, phát triển quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ
TNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn
TƯLĐTT : Thỏa ước lao động tập thể
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu Dệt May Việt Nam 2007-2012 46
Bảng 2.2: Đơn giá sản phẩm Dệt May xuất khẩu vào Mỹ 61
Bảng 2.3. Các chỉ tiêu chủ yếu trong Chiến lược phát triển ngành Dệt May
Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 68
Bảng 2.4: Tình trạng việc làm của công nhân ngành Dệt May 71
Bảng 2.5: Những vấn đề công nhân quan tâm nhất 71
Bảng 2.6: Thời gian làm việc của công nhân ngành Dệt May 74
Bảng 2.7: Hoạt động văn hóa - thể thao - giải trí của công nhân 78
Bảng 2.8: Kết quả điều tra TƯLĐTT tại Hà Nội, Hải Phòng 80
Bảng 2.9: Tỷ lệ doanh nghiệp có TƯLĐTT trên tổng số doanh nghiệp có tổ
chức Công đoàn 85 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, Dệt May là một trong
những ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước, đóng góp to lớn cho hoạt động xuất
khẩu, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ
năm 1995 đến nay, kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt May không ngừng tăng
trưởng với tốc độ cao. Trong đó đáng chú ý từ năm 2009 trở lại đây, xuất khẩu
của ngành Dệt May Việt Nam đã có những bước tiến ngoạn mục, kim ngạch
xuất khẩu hàng năm thường xuyên tăng trưởng trên dưới 30%. Kết thúc năm
2011, xuất khẩu ngành Dệt May đã đạt con số kỷ lục là 15,6 tỷ USD, vượt qua cả
thực hiện chiến lược phát triển của ngành Dệt May. Để có thể vượt qua thách
thức, hiện thực hóa tiềm năng của ngành thành động lực phát triển thì một trong
những điều có ý nghĩa hàng đầu là phải xây dựng, phát triển được quan hệ lao
động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong các doanh nghiệp Dệt May. Trong đó việc
thực hiện có hiệu quả chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao
động của tổ chức Công đoàn ngành Dệt May có vai trò không thể thay thế và có
ý nghĩa đặc biệt, nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Công đoàn ngành Dệt
May cũng như của cả hệ thống tổ chức Công đoàn là: “Hướng mạnh hoạt động
về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy công nhân, viên chức, lao
động làm đối tượng vận động, lấy chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính
đáng của công nhân, viên chức, người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài
hoà, ổn định, tiến bộ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội làm mục tiêu
hoạt động” [74, tr.66].
Điều đó đòi hỏi phải có sự tìm hiểu, cụ thể hóa và vận dụng về mặt lý
luận, cũng như sự tổng kết, khái quát thực tiễn hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người lao động của tổ chức Công đoàn nói chung và Công đoàn
Dệt May nói riêng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó, chúng tôi lựa
chọn đề tài: “Công đoàn Dệt May trong việc thực hiện chức năng bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người lao động trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế” (Qua khảo sát một số doanh nghiệp Dệt May khu vực phía Bắc) làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình.
3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, trước sự chuyển biến của nền
kinh tế thế giới, tác động của hội nhập kinh tế quốc tế, cơ sở xã hội - chính trị
của Công đoàn đã có những biến đổi quan trọng. Nhiều nhà lý luận Công đoàn
trong và ngoài nước đã viết các tác phẩm về Công đoàn và các giải pháp trong
hoạt động của Công đoàn nhằm tập hợp ngày càng đông đảo quần chúng để bảo
vệ quyền và lợi ích của bản thân người lao động trước sự biến chuyển của nền
Công đoàn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội ở Việt Nam.
Cuốn sách “Giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, của nhóm tác giả Trường
Đại học Công đoàn do PGS.TS Nguyễn Viết Vượng (chủ biên), Nxb Lao động,
Hà Nội năm 2010 đã đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nền kinh
tế; về giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam những năm đầu thế kỷ
XIX. Các tác giả đã phân tích những vấn đề về giai cấp công nhân và tổ chức
Công đoàn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Qua đó nêu lên những dự báo, phương hướng và giải pháp xây dựng giai cấp
công nhân, tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày càng vững mạnh. Những nội dung
này đã đáp ứng bước đầu việc nghiên cứu, tìm hiểu về giai cấp công nhân và tổ
chức Công đoàn Việt Nam trong bối cảnh đất nước đang từng bước hội nhập về
kinh tế với khu vực và thế giới.
Cuốn sách: “Pháp luật trong Công đoàn: Vai trò của Công đoàn trong
lĩnh vực lao động, các vấn đề mới về an toàn lao động, hợp đồng lao động, thỏa
ước lao động tập thể, kỷ luật lao động, giải quyết tranh chấp lao động”, Nxb
Lao động, Hà Nội năm 2010 của ThS Vũ Mạnh Thông. Trong đó đã trình bày
một cách hệ thống những lĩnh vực lao động mà pháp luật quy định về vai trò,
trách nhiệm của tổ chức Công đoàn, nhất là Công đoàn cơ sở trong lĩnh vực quan
hệ lao động.
Cuốn sách: “Hoạt động của Công đoàn trong các cơ quan dân cử”, Viện
Công nhân và Công đoàn, Nxb Lao động, Hà Nội năm 2007 đã làm rõ vai trò
của tổ chức Công đoàn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ngày càng được mở rộng. Trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, Công đoàn là trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn
5
luyện, xây dựng đội ngũ công nhân và là chỗ dựa tin cậy vững chắc của Đảng,
Nhà nước. Phát huy vai trò của Công đoàn trong các cơ quan dân cử sẽ làm cho
vị thế của Công đoàn được nâng lên, tạo sức mạnh thu hút người lao động tham
Thị Phương Thúy năm 2008: "Những vấn đề pháp lý về việc tham gia của Công
đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động và đình công" xem xét vai trò của
Công đoàn dưới góc độ Xã hội học. Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Anh
Tuấn năm 2004: "Hoạt động Công đoàn trong các doanh nghiệp Việt Nam thời
kỳ đổi mới" nghiên cứu hoạt động Công đoàn dưới góc độ kinh tế quản lý. Luận
văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thái Thuận năm 2005:“Giải quyết tranh
chấp lao động và vấn đề nâng cao vị trí của tổ chức Công đoàn trong giải quyết
tranh chấp lao động” Công đoàn được tiếp cận dưới góc độ luật học v.v.
Các bài viết nghiên cứu, trao đổi về Công đoàn và vai trò của Công đoàn
dệt may trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động như: "Công đoàn
dệt may Việt Nam: Chỗ dựa tin cậy cho hàng vạn lao động" (baomoi.com), "Mức
sàn quyền lợi công nhân dệt may" (nguoilaodong.com), "Đời sống công nhân ở
các khu công nghiệp, chế xuất" (laodong.com), "Cơ chế ba bên trong quan hệ
lao động ở Việt Nam" (vietbao.com), "Vai trò của Công đoàn trong các cuộc
đình công"…
Những công trình nghiên cứu trên phần lớn tập trung phân tích, cụ thể hóa
những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và khái quát, hệ thống hóa
thực tiễn về vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó đáng chú ý là các
luận điểm thể hiện quan điểm duy vật lịch sử về vấn đề cơ bản về vị trí, vai trò,
chức năng của Công đoàn trong quá trình xây dựng phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước. Tuy nhiên, việc tìm hiểu chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
người lao động của Công đoàn Dệt May trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
dưới góc độ chính trị - xã hội của Bộ môn chủ nghĩa xã hội khoa học theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì hãy còn chưa có một
chuyên khảo. Vì vậy, việc thực hiện đề tài: "Công đoàn Dệt May Việt Nam trong
việc thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” (Qua khảo sát một số doanh nghiệp
Dệt May khu vực phía Bắc), là việc làm cần thiết, góp phần theo hướng nghiên
cứu đó.
Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Công đoàn, chức năng bảo
vệ lợi ích người lao động của Công đoàn.
- Hoạt động của tổ chức Công đoàn ở một số doanh nghiệp Dệt May khu
8
vực phía Bắc trong việc thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người lao động trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu và tìm hiểu vị trí, vai trò, chức năng của
Công đoàn trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, các văn kiện
Đảng, di sản tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với các nghị quyết, chủ trương, nội
dung công tác của Công đoàn.
- Tổ chức và hoạt động Công đoàn trong việc thực hiện vai trò đại diện
bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động ở một số
doanh nghiệp Dệt May thuộc các thành phần kinh tế khu vực phía Bắc như:
Công ty cổ phần: Công ty cổ phần đầu tư và thương mại TNG; Công ty cổ phần
May Hưng Yên; Công ty cổ phần May MEKO; Công ty Nhà nước: Công ty May
40 (100% vốn sở hữu nhà nước); Công ty May Đức Giang; Công ty 100% vốn
nước ngoài: Công ty TNHH MTV C&M (100% vốn Hàn Quốc); Công ty Kovi’s
(100% vốn nước ngoài); Công ty TNHH May NienHsing (Ninh Bình); Công ty
TNHH VinaKorea (100% vốn Hàn Quốc); Công ty may Levistrauss; Công ty
May Đài Loan; Công ty tư nhân: Công ty May Bắc Hà (Hà Nam); Công ty
TNHH Dệt may Hoàng Dũng (Hà Nam); Công ty TNHH Thành Trung (Bắc
Giang) v.v.
Việc lựa chọn phạm vi nghiên cứu của đề tài nói trên sẽ giúp tác giả có thể
thực hiện được mục đích, nhiệm vụ của đề tài, cũng như đảm bảo điều kiện về
thời gian và tiến độ nghiên cứu.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận của đề tài:
Là hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
quốc tế.
Chương 3: Mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của Công đoàn Dệt May đối với việc thực hiện chức năng bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người lao động trong điều kiện hội nhập quốc tế.
10
Chương 1
LÝ LUẬN MÁC-LÊNIN VỀ CÔNG ĐOÀN VÀ CHỨC NĂNG BẢO VỆ
QUYỀN VÀ LỢI ÍCH NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA CÔNG ĐOÀN
1.1. Quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về Công đoàn
và chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động của Công đoàn
1.1.1. Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về Công đoàn và chức
năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động của Công đoàn
Thông qua thực tiễn sống động của phong trào công nhân, Công đoàn thế
kỷ XIX ở Châu Âu và bằng hoạt động lý luận khoa học của mình C.Mác (5-5-
1883), Ph.Ăngghen (28-10-1820) đã luận chứng cho tính tất yếu về hoàn cảnh
ra đời, vị trí, chức năng của Công đoàn trong trong chế độ tư bản chủ nghĩa.
Theo lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, phong trào đấu tranh của giai
cấp công nhân bắt nguồn từ sự phản kháng của công nhân chống lại sự áp bức
bất công của giới chủ. Trong cuộc đấu tranh đó, giai cấp vô sản đã sáng tạo ra
các biện pháp, hình thức đấu tranh của mình. Hình thức sớm nhất, thô sơ nhất và
ít hiệu quả nhất của sự phản kháng ấy là phạm tội ăn trộm và sau đó là các hành
vi đập phá máy móc, nhà xưởng, kho hàng, phá hỏng nguyên vật liệu, thành
phẩm… Nhìn chung các hình thức phản kháng ấy vẫn mang tính chất cô lập, bị
hạn chế ở những khu vực cá biệt và chỉ nhằm chống một mặt của quan hệ hiện
hành. Các hành vi này đã không những không thể cải thiện được, mà còn làm
trầm trọng thêm tình cảnh khốn cùng của người lao động làm thuê. Dần dần,
công nhân đã tìm ra hình thức đấu tranh mới có hiệu quả hơn. Đó là việc tập hợp
lực lượng tiến hành hoạt động đình công, bãi công trong việc đòi tăng lương, cải
có tính khách quan do yêu cầu của phong trào công nhân nhằm thống nhất lực
lượng trên bước đường đấu tranh chống tư sản: “Các Công đoàn xuất hiện lúc
đầu là nhờ những ý đồ tự phát của công nhân muốn tiêu diệt hay ít nhất là giảm
bớt sự cạnh tranh ấy đề đòi những điều kiện ký kết hợp đồng có thể cho họ đời
sống khá hơn những người những người nô lệ một chút thôi” [38, tr.202-203].
Theo học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen, sự ra đời của Công đoàn không
chỉ là hiện tượng hợp quy luật, mà còn là bức thiết khi phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa còn tồn tại. Đối với Mác, tổ chức Công đoàn ra đời để tập hợp
12
công nhân lao động đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống lại sự đàn áp
của giai cấp tư sản. Vì vậy trong chế độ tư bản chủ nghĩa, Công đoàn đại diện
cho quần chúng lao động đứng đối lập với giai cấp bóc lột [69, tr.36]. Công
nghiệp hiện đại càng phát triển, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì càng thúc đẩy
sự hình thành và hoạt động của các hiệp hội với hai mục đích rõ ràng: chấm dứt
sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau để chung sức chống lại tư bản, và đoàn
kết đấu tranh để bảo vệ tiền công. Song tư bản là một lực lượng xã hội tập trung,
còn công nhân thì chỉ có sức lao động của mình. Do đó, tất yếu hợp đồng giữa tư
bản và lao động không bao giờ có thể được ký kết theo những điều kiện hợp lý
trong điều kiện quyền sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa những phương tiện sinh
hoạt vật chất và lao động đối lập với lực lượng sản xuất sống. Vì vậy, để có thể
thay đổi được địa vị làm thuê, bị áp bức bóc lột, giai cấp công nhân, trong quá
trình chuyển biến từ tự phát lên tự giác, từ “giai cấp tự mình” đến “giai cấp vì
mình” thì tất yếu, hoạt động của Công đoàn không chỉ trong phạm vi hẹp có tính
phường hội, phải có một tổ chức trưởng thành từ trong bản thân cuộc đấu tranh
kinh tế rời rạc của công nhân ở khắp nơi, đó là tổ chức Công đoàn. Đây là một
bước tiến lớn trên con đường chuyển biến của những người công nhân từ chỗ hành
động phân tán đến hành động thống nhất, từ tản mạn đến có tổ chức, đoàn kết các
lực lượng để chống trả bọn chủ một cách kiên quyết và có hiệu quả hơn. Các Công
đoàn cũng phải rèn luyện để hoạt động tự giác với tư cách là những trung tâm tổ
CNTB, lấy sức mạnh để chống lại sức mạnh [69, tr.8].
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mặc dù chủ
nghĩa tư bản đã có nhiều điều chỉnh để thích nghi trong điều kiện khoa học, công
nghệ phát triển mạnh mẽ. Chẳng hạn như người công nhân, lao động có thể tham
gia mua cổ phần, cổ phiếu trong các hãng, doanh nghiệp, các chính sách khuyến
khích tiêu dùng, chính sách an sinh xã hội được chú ý v.v. nhưng tất cả về cơ
bản không làm thay đổi địa vị lao động làm thuê của người công nhân, người lao
động. Họ ngày càng bị cột chặt vào guồng máy sản xuất hàng hóa tư bản chủ
nghĩa. Việc làm và đời sống của người công nhân, lao động vẫn do quan hệ cung
- cầu trên thị trường trước hết là thị trường lao động, thị trường hàng hóa quyết
định. Các cuộc đấu tranh của công nhân lao động với các cuộc đình công, bãi
công do Công đoàn lãnh đạo trong việc đòi trả lương tương xứng với sức lao
động, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện an toàn, vệ sinh lao động v.v. cùng với
14
việc đấu tranh vì dân chủ, hòa bình tiến bộ… không những không giảm, không
mất đi mà ngày càng phát triển cả bề rộng và bề sâu, nhất là trong điều kiện toàn
cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ hiện nay. Đặc biệt trong
những thập niên đầu của thế kỷ XXI, nhất là khi kinh tế thế giới phải đối mặt với
những biến đổi khó lường như khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng tài chính
đã làm cho đời sống của công nhân, lao động luôn đứng trước tình trạng bất ổn,
bảo vệ lợi ích người lao động của các Công đoàn đứng trước những khó khăn
thử thách mới… Điều này cho thấy, các luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về
hoàn cảnh ra đời về vị trí, chức năng của Công đoàn theo quan điểm duy vật biện
chứng về xã hội vẫn giữ nguyên giá trị khoa học.
Với tư cách chức năng của tổ chức, thiết chế thuộc kiến trúc thượng tầng
của xã hội, chức năng của Công đoàn không phải là bất biến. Tuỳ theo vị trí, địa
vị kinh tế, chính trị, xã hội của giai cấp công nhân, lao động nắm giữ trong từng
giai đoạn lịch sử, chức năng của Công đoàn tất yếu có sự bổ sung, phát triển.
Ngoài chức năng bẩm sinh, chức năng vốn có là bảo vệ lợi ích, còn có sự hình
đặc biệt quan trọng, không thể thay thế.
Trong hệ thống chuyên chính vô sản, Công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng, cộng tác chặt chẽ với chính quyền v.v. như V.I.Lênin xác định Công đoàn
là “sợi dây chuyền”, là trong những “bộ phận truyền lực” nối liền đội tiên phong
với quần chúng lao động, là “bể chứa nhà nước” v.v[31, tr.16-17]. Từ đó,
V.I.Lênin kiên quyết chống lại mưu toan nhằm phủ nhận Công đoàn trong tình
hình mới ở nước Nga. Người khẳng định: "Bỏ qua không thừa nhận Công đoàn là
một sai lầm nghiêm trọng. Vì như thế là sợ đảm nhận vai trò tiên phong của giai
cấp vô sản là huấn luyện, giác ngộ, giáo dục, lôi cuốn vào cuộc sống đông đảo
những người công nhân lao động trong quá trình củng cố chính quyền chuyên
chính vô sản và tổ chức xây dựng chủ nghĩa xã hội" [32, tr.39].
Xuất phát từ sự thay đổi lớn lao về vị trí dẫn tới sự thay đổi về chất vai trò
của Công đoàn trong chủ nghĩa xã hội. Nếu như dưới chủ nghĩa tư bản, Công đoàn
là trung tâm tập hợp lực lượng công nhân, lao động chống lại áp bức bóc lột, là
trường học đấu tranh giai cấp thì trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Công
đoàn đóng vai trò là trường học quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Theo V.I.Lênin,
Công đoàn, phải gánh vác lấy những nhiệm vụ đặc biệt và một trách nhiệm đặc
16
biệt trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo V.I.Lênin: “Việc giai cấp
vô sản giành được chính quyền… là một bước tiến vĩ đại. Vì thế Đảng phải giáo
dục, lãnh đạo công đoàn nhiều hơn trước kia, theo lối mới chứ không phải theo lối
cũ, nhưng đồng thời không được quên rằng, Công đoàn vẫn còn và sẽ còn lâu dài
là "trường học chủ nghĩa cộng sản" không thể thiếu được là trường học dự bị cho
giai cấp vô sản học tập, áp dụng chuyên chính của mình, là sự tập hợp tất yếu của
công nhân để làm cho việc quản lý toàn bộ nền kinh tế trong nước tuần tự chuyển
trước hết sang tay giai cấp công nhân… rồi sau sang tay toàn thể nhân dân lao
động” [32, tr.42]. Đó là yêu cầu, đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng xã
hội mới dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước của giai cấp công nhân. Thực
tiễn đó đòi hỏi Công đoàn: “phải lôi cuốn ngày càng sâu rộng giai cấp công nhân
Trong khi đấu tranh với những quan điểm sai lầm về chức năng của Công
đoàn, V.I.Lênin đã có những chỉ dẫn hết sức quý giá trong về việc bảo vệ lợi ích
của công nhân, lao động của Công đoàn trong hoàn cảnh lịch sử mới, đặc biệt là
trong việc thực hiện Chính sách kinh tế mới (NEP) ở nước Nga. Hoạt động Công
đoàn trong chế độ XHCN không giống hoạt động Công đoàn trong chế độ
TBCN mà đã có sự thay đổi căn bản. Trong chế độ tư bản, để bảo vệ lợi ích
người lao động, Công đoàn tập hợp CNLĐ đấu tranh chống lại chủ Tư bản,
chống lại Nhà nước của giai cấp tư sản. Trong chế độ XHCN, Công đoàn vẫn đại
diện và bảo vệ lợi ích cho CNLĐ nhưng Công đoàn không chống lại Nhà nước,
mà còn bảo vệ Nhà nước, bởi vì Nhà nước là của dân, do dân và vì dân, Công
đoàn chỉ chống lại thói hư tật xấu, những tàn dư của tư tưởng xã hội cũ còn để
lại như quan liêu, cửa quyền, hách dịch, coi thường và vi phạm lợi ích của người
lao động. V.I.Lênin khẳng định: “Công đoàn có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của
người lao động theo ý nghĩa đúng đắn và trực tiếp của từ đó” [34, tr.418-419].
Nội dung, hình thức, biện pháp bảo vệ lợi ích của công nhân được thực hiện
trong điều kiện giai cấp công nhân nắm chính quyền đòi hỏi có sự cụ thể hóa, bổ
sung và phát triển mới. Trước hết ở những xí nghiệp tư bản nhà nước, V.I.Lênin
chỉ rõ Công đoàn có nhiệm vụ: “đấu tranh với những người tuyển công nhân vào
làm việc để bảo vệ lợi ích giai cấp của giai cấp vô sản và của quần chúng lao
động” cũng như “chống lòng tham lam vô độ có tính chất giai cấp của những tên
tư bản mà nó chưa kiểm soát được” [34, tr.418-419]. V.I.Lênin xác định đó là
18
một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất và được xếp vào vị trí hàng đầu của
Công đoàn. Còn đối với các nhà máy, xí nghiệp nhà nước thì sao? Theo
V.I.Lênin, việc thực hiện chức năng bảo vệ lợi ích của Công đoàn vẫn mang tính
tất yếu. Bởi vì: “Nhà nước công nhân còn mắc bệnh quan liêu. Và chúng ta buộc
phải gắn cho Nhà nước - biết nói như thế nào nhỉ - cái nhãn hiệu đáng buồn đó.
Đó là tình hình thực tế của bước quá độ. Trong một Nhà nước được hình thành
trong những điều kiện cụ thể như vậy, chẳng lẽ Công đoàn lại không có cái gì để