I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
V TH HUYN NGC BảO Vệ QUYềN Và LợI íCH HợP PHáP CủA NHà ĐầU TƯ
KHÔNG CHUYÊN NGHIệP TRÊN THị TRƯờNG CHứNG KHOáN
TậP TRUNG THEO PHáP LUậT VIệT NAM LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2014
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
V TH HUYN NGC
Vũ Thị Huyền Ngọc
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
TẬP TRUNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI
ÍCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ KHÔNG CHUYÊN NGHIỆP TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG 6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, bản chất của thị trường chứng khoán tập trung 6
1.2. Các chủ thể trên thị trường chứng khoán tập trung 9
1.3. Khái niệm, phân loại nhà đầu tư chứng khoán 11
1.3.1. Khái niệm nhà đầu tư chứng khoán 11
1.3.2. Phân loại 13
1.3.3. Khái niệm, đặc điểm nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp 15
1.4. Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư không chuyên
nghiệp trên thị trường chứng khoán tập trung 19
1.4.1. Khái niệm 19
1.4.2. Nội dung pháp luật về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà
đầu tư không chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán tập trung 21
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
CỦA NHÀ ĐẦU TƯ KHÔNG CHUYÊN NGHIỆP TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TẬP TRUNG TRONG PHÁP LUẬT
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 40
CTCK: Công ty chứng khoán
IFC: Tổ chức tài chính quốc tế
NĐT: Nhà đầu tư
TTCKTT: Thị trường chứng khoán tập trung
UBCKNN: Ủy ban chứng khoán Nhà nước
VSD: Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam.
WB: Ngân hàng thế giới
1
MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trường chứng khoán ra đời như một tất yếu khách quan của nền kinh tế
thị trường và giữ vai trò đặc biệt quan trọng với nền kinh tế. Phát triển và đảm bảo
sự ổn định của thị trường chứng khoán luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc
gia trên thế giới bởi thị trường chứng khoán giúp khơi thông các nguồn vốn trong
xã hội và phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn này vào những dự án đầu tư mang lại
hiệu quả kinh tế cao.
Hiện nay trên thế giới các học giả cũng như các nhà quản lý kinh tế có những
quan điểm rất khác nhau về việc làm thế nào để tổ chức và quản lý thị trường chứng
khoán một cách tối ưu, tuy nhiên họ đều thống nhất nhau ở một điểm là các nhà đầu
tư luôn phải được coi là trọng tâm của thị trường. Một thị trường chứng khoán
không thể là kênh huy động và phân bổ vốn có hiệu quả khi mà các nhà đầu tư
không có niềm tin vào thị trường này, hay nói cách khác là khi quyền và lợi ích hợp
pháp của họ không được bảo vệ.
Tại Việt nam, thị trường chứng khoán tập trung được chính thức đi vào hoạt
động bằng hoạt động tại hai trung tâm giao dịch chứng khoán: TTGDCK Hồ Chí
hình ảnh của Việt Nam trước con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, học viên đã chọn đề tài “Bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của nhà đầu tư không chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán
tập trung theo pháp luật Việt Nam” để làm luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tính hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư nói chung là vấn đề
được nhiều học giả quan tâm và nghiên cứu như “Báo cáo về môi trường kinh
doanh” ra hàng năm của Ngân hàng Thế giới, luận văn thạc sĩ luật học của Phạm
Thanh Tú về "Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường
chứng khoán tập trung theo pháp luật Việt Nam" (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2006); Luận văn “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị
trường chứng khoán tập trung theo quy định của pháp luật chứng khoán” của Trần
Thị Hà Trang (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội, 2008), bài nghiên cứu của tác 3
giả Hoàng Thị Quỳnh Chi về "Hoàn thiện các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư chứng
khoán", đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 19 năm 2006, bài nghiên cứu của tác giả
Phạm Thị Giang Thu về “Bàn về bảo vệ nhà đầu tư theo Luật chứng khoán và vấn
đề bảo đảm thực hiện” trên Tạp chí Luật học, số 8/2006… và nhiều bài viết khác
trên các báo, tạp chí.
Phần lớn các bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa học về bảo vệ nhà đầu tư
trong đó có nhà đầu tư không chuyên nghiệp liên quan đến việc bảo vệ nhà đầu tư
trên thị trường phi tập trung. Một số bài viết liên quan đến nhà đầu tư trên thị trường
tập trung nhưng các bài viết nói trên mới dừng ở mức độ nêu ra tình huống nhà đầu tư
bị thiệt hại và dẫn chiếu lại các quy định của pháp luật Việt Nam để xác định trong
những tình huống đó thì nhà đầu tư nên làm gì để bảo vệ quyền lợi cho mình và trách
nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước cần làm đến đâu để bảo vệ quyền lợi cho nhà
đầu tư. Cũng có một số công trình nghiên cứu về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên
TTCKTT, song cách tiếp cận của các công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung
thực tiễn của các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo vệ nhà đầu tư không
chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán tập trung. Trên cơ sở đó, luận văn đề
xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư
không chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán tập trung, góp phần vào việc đáp
ứng tốt hơn yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng
khoán tại Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu những quy định pháp lý và thực tiễn việc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư không chuyên nghiệp trên thị
trường chứng khoán tập trung ở Việt nam theo quy định tại Luật Chứng khoán số
70/QH11 năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành
hiện nay, trong đó tập trung chủ yếu vào nghiên cứu các quy định công nhận quyền
và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư không chuyên nghiệp. Các quyền của nhà đầu tư
với tư cách là cổ đông của công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp và
các văn bản hướng dẫn thi hành không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này.
5. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nhà đầu tư không chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán tập trung. 5
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát chung về thị trường chứng khoán tập trung và bảo vệ
quyền nhà đầu tư không chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán tập trung
Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư chứng khoán
không chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán tập trung trong pháp luật chứng
khoán Việt nam
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật
chứng khoán trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư chứng khoán không
khoán, là nơi mà các thành viên thị trường tiến hành các giao dịch với chứng khoán
được phép niêm yết và giao dịch tại thị trường [35, tr.125]. TTCKTT được tổ chức
bởi sở giao dịch hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán. Các tổ chức này không sở
hữu chứng khoán, không mua bán các loại chứng khoán mà chỉ cung cấp các dịch
vụ kỹ thuật, tạo điều kiện cho hoạt động mua bán chứng khoán, giám sát các hoạt
động giao dịch để bảo đảm các hoạt động mua bán chứng khoán diễn ra trong
khuôn khổ pháp luật.
Ở Việt nam thời kỳ đầu của sự phát triển TTCK, khái niệm thị trường chứng
khoán tập trung hầu như được đồng nhất với khái niệm thị trường chứng khoán.
Nghị định số 48/1998/NĐ-CP quy định về chứng khoán và TTCK định nghĩa “giao
dịch chứng khoán là việc mua bán chứng khoán trên thị trường giao dịch tập
trung” [13, Điều 2]. Điều này không đúng về bản chất vì việc giao dịch chứng
khoán bất kể nó được diễn ra tại một địa điểm hay hệ thống thông tin tập trung hay
không thì đó vẫn là giao dịch chứng khoán. Ở đây đã có sự nhầm lẫn giữa hành vi
giao dịch chứng khoán và phương thức tổ chức cho việc diễn ra hành vi đó. Luật
chứng khoán hiện hành không đưa ra định nghĩa thị trường chứng khoán tập trung
mà chỉ có khái niệm thị trường giao dịch chứng khoán, theo đó “Thị trường giao
dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh
mua bán và giao dịch chúng khoán” [29, Điều 18]. Theo định nghĩa này thị trường 7
giao dịch chứng khoán bao gồm thị trường tập trung và phi tập trung. Xét về mặt
hình thức khái niệm này có thể đúng, tuy nhiên xét về mặt bản chất thì chưa hoàn
toàn chính xác. Thị trường giao dịch chứng khoán có thể là thị trường tập trung
hoặc phi tập trung. Khi các lệnh giao dịch (lệnh mua và lệnh bán) được tập trung tại
địa điểm nhất định thì đó chính là dấu hiệu đặc thù của thị trường giao dịch tập
trung. Ở thị trường giao dịch phi tập trung (thị trường OTC) thì ngược lại, các lệnh
giao dịch không được tập trung và không được thực hiện tại địa điểm nhất định mà
thông qua hệ thống trao đổi thông tin do nhà tổ chức thị trường tạo lập ra. Điều đó
được cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực chứng khoán và TTCKTT cấp phép
thành viên mới được tham gia thị trường. Các chủ thể khi tham gia thị trường đều
phải đảm bảo tuân thủ những quy định và nguyên tắc nhất định và đều được điều
chỉnh thống nhất bằng hệ thống các quy định pháp luật, quy chế của Sở giao dịch
chứng khoán nhằm tạo nên một quá trình hợp tác hiệu quả, thông suốt.
Năm là: là thị trường được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật chặt chẽ.
Với tính chất là một thị trường nhạy cảm, nhiều rủi ro và có khả năng tác động, ảnh
hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế-xã hội của mọi quốc gia, TTCKTT đòi hỏi phải
có sự quản lý chặt chẽ và minh bạch. Vì vậy để điều hành quản lý TTCKTT Nhà
nước đã ban hành một hệ thống đầy đủ các văn bản pháp luật mà tất cả các chủ thể
tham gia thị trường đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh. Mọi hành vi vi phạm đều có
những chế tài thích hợp. Đó là sự điều chỉnh của pháp luật đặc thù –pháp luật chứng
khoán, sự điều chỉnh của luật doanh nghiệp về các vấn đề tổ chức và phân chia lợi
nhuận, sự điều chỉnh của pháp luật khác về các vấn đề có liên quan. Ngoài ra
TTCKTT còn chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ của UBCKNN với tư cách cơ
quan quản lý nhà nước về chuyên ngành.
Sáu là: là thị trường hoạt động dựa trên nguyên tắc trung gian. Đây là đặc
điểm nổi bật của TTCKTT so với các thị trường khác. Nguyên tắc trung gian
nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực, đảm
bảo lợi ích nhà đầu tư, và để TTCKTT hoạt động lành mạnh, liên tục, hợp pháp
và phát triển. Theo nguyên tắc này thì mọi giao dịch tên thị trường đều phải được
thực hiện qua trung gian là các thành viên thị trường. Các nhà đầu tư không được
đặt lệnh mua, bán trực tiếp mà phải gián tiếp thông qua các trung gian là thành
viên của thị trường này. 9
Thị trường chứng khoán tập trung hoạt động theo nguyên tắc công bằng,
minh bạch, công khai thông tin, tôn trọng quyền tự do mua, bán, kinh doanh dịch vụ
chứng khoán của tổ chức, cá nhận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán: bao gồm cơ quan quản
lý nhà nước, sở giao dịch chứng khoán, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán.
Cơ quan quản lý nhà nước: Cơ quan này được thành lập để thực hiện chức
năng quản lý, giám sát của nhà nước đối với thị trường chứng khoán. Cơ quan quản
lý, giám sát thị trường chứng khoán được hình thành dưới nhiều mô hình, hoạt động
khác nhau, có nước do các tổ chức tự quản thành lập, có nước cơ quan này trực
thuộc chính phủ, nhưng có nước lại kết hợp quản lý giữa các tổ chức tự quản và nhà
nước. Nhưng nhìn chung, cơ quan quản lý này do Chính phủ của các nước thành lập
nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của người đầu tư và bảo đảm cho thị trường chứng
khoán hoạt động lành mạnh, suôn sẻ và phát triển vững chắc. Cơ quan này có những
tên gọi khác nhau, tuỳ từng nước. Tại Trung Quốc có Cơ quan Giám quản chứng
khoán của Quốc vụ viện Trung Quốc [53]. Tại Anh có Uỷ ban đầu tư chứng khoán
(SIB- Securities Investment Board). Ủy ban này là một tổ chức được thừa nhận
trong đạo luật về các dịch vụ tài chính ban hành năm 1986. Tại Mỹ, Uỷ ban chứng
khoán và Giao dịch chứng khoán (SEC - Securities And Exchange Comission) là
một cơ quan của liên bang có tư cách pháp lý thực hiện việc kiểm soát thị trường
chứng khoán. Ở Nhật Bản có Uỷ ban giám sát chứng khoán và Giao dịch chứng
khoán (ESC - Exchange Surveillance Comission) được thành lập vào năm 1992 và
đến năm 1998 đổi tên thành FSA - Financial Supervision Agency, có chức năng cơ
bản là tiến hành điều tra và xử lý các giao dịch gian lận trên thị trường chứng
khoán, do Bộ tài chính Nhật Bản đảm nhiệm. Tại Hàn Quốc có Ủy ban chứng
khoán và giao dịch chứng khoán (ESC-Securities and Exchange Commission) và
Ban Giám sát chứng khoán (SSB – Securities Supervise Board) được đặt dưới sự
giám sát của Bộ Kinh tế- Tài chính. Và ở Việt Nam có Uỷ ban chứng khoán nhà
nước được thành lập theo Nghị định số 75/CP ngày 28/11/1996.
Sở giao dịch chứng khoán: Sở giao dịch chứng khoán thực hiện việc vận
hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục
vụ các hoạt động trên sở giao dịch. Ngoài ra Sở cũng ban hành những quy định điều
chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên sở, phù hợp các quy định của luật
thông thường, nhà đầu tư trên TTCKTT vừa đóng vai trò là người mua vừa là người 12
bán các loại chứng khoán trên thị trường. Trên TTCKTT nhà đầu tư mua các loại
chứng khoán không nhằm mục đích tiêu thụ hoặc sử dụng các loại chứng khoán mà
họ mua về mà nhằm đầu tư thực hiện việc mua đi, bán lại các loại chứng khoán giao
dịch trên thị trường nhằm mục đích kiếm lời từ việc mua bán của mình.
Định nghĩa về nhà đầu tư chứng khoán trong quy định của pháp luật Việt
Nam cũng có những sự khác nhau nhất định. Về khái niệm nhà đầu tư nói chung,
Điều 3.4, Luật đầu tư cũng qui định “Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt
động đầu tư…” theo đó có “bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để
hình thành tài sản…” [28, Điều 3, Khoản 4]. Về khái niệm nhà đầu tư chứng khoán
cũng được nhắc đến trong các văn bản pháp luật về chứng khoán, tại nghị định
48/1998/NĐ-CP quy định “Người đầu tư là người sở hữu chứng khoán, người mua
hoặc dự kiến mua chứng khoán” [13, Điều 2, Khoản 22]. Theo khái niệm này thì
nhà đầu tư chứng khoán có thể bao gồm những người đã mua chứng khoán, và đang
nắm giữ chúng hoặc những người có ý định mua chúng. Nghị định 144/2003/NĐ-
CP không đưa ra định nghĩa về nhà đầu tư [14]. Đến luật Chứng khoán 2006 có đưa
ra khái niệm nhà đầu tư chứng khoán như sau “Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt
nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán”
[29, Điều 6, Khoản 10]. Với quy định như trên khái niệm nhà đầu tư trên TTCK
Việt nam đã được mở rộng và có nội dung đầy đủ hơn. Theo quy định của Luật
chứng khoán nhà đầu tư trên TTCK Việt nam bao gồm cả tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước có sở hữu tham gia mua bán các loại chứng khoán trên TTCK Việt nam.
Với quy định này, Luật chứng khoán đã quy định đầy đủ hơn về các đối tượng được
phép mua bán chứng khoán trên TTCK Việt nam. Các tổ chức, cá nhân mua bán
chứng khoán ở đây không còn đơn giản là các cá nhân, các tổ chức đơn thuần mà nó
còn được hiểu là các công ty quản lý quỹ, các công ty đầu tư, các quỹ đầu tư
Nhưng đây chỉ là một khái niệm chung chung, mới chỉ ra được các đối tượng có thể
3. Quỹ đầu tư, công ty đầu tư chứng khoán có tỷ lệ tham gia góp
vốn của bên nước ngoài trên 49%.
4. Cá nhân nước ngoài là người không mang quốc tịch Việt Nam,
cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam [15, Điều 1]
Hai là, căn cứ theo tính tổ chức, người ta phân ra làm nhà đầu tư cá nhân và
nhà đầu tư tổ chức. 14
(i) Nhà đầu tư cá nhân được hiểu là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân
sự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi mua bán chứng khoán của chính
mình, có khả năng tài chính hoặc có đủ số chứng khoán đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
thanh toán của mình. Đây là chủ thể nếu được tập hợp có khả năng cung ứng một
khối lượng tiền tệ rất lớn cho thị trường chứng khoán. Khi có vốn nhàn rỗi tạm thời,
họ mua chứng khoán với mục đích đầu tư kiếm lời, còn khi có nhu cầu thu hồi vốn
hoặc khi nhận thấy chứng khoán tăng, giảm giá họ đem bán lại chứng khoán đó để
tránh rủi ro hoặc để hưởng chênh lệch giá. Thực tế cho thấy những nhà đầu tư cá
nhân thường có những quyết định nhanh chóng trong đầu tư chứng khoán và ít khi
theo đuổi những chính sách đầu tư dài hạn.
(ii) Nhà đầu tư có tổ chức hay còn gọi là các định chế đầu tư, là những pháp
nhân thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường như là
một phần hoạt động kinh doanh của mình. Các tổ chức này thường có các bộ phận
chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và
đưa ra các quyết định đầu tư. Đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư có ưu điểm nổi
bật là có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư và các quyết
định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm.
Ba là, căn cứ trình độ của các nhà đầu tư, thì nhà đầu tư được phân loại thành
nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư không chuyên nghiệp. Ở đây chúng ta sẽ đi
sâu tìm hiểu đối tượng nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp
(i) Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp: Nhà đầu tư chuyên nghiệp là
hiện nay khá nhiều. Cho đến nay có gần 1,2 triệu tài khoản giao dịch, trong đó nhà
đầu tư chuyên nghiệp chiếm khoảng 7%. Hơn 90% số tài khoản còn lại là nhà đầu
tư không chuyên nghiệp.
1.3.3. Khái niệm, đặc điểm nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp
Nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán
tập trung có thể hiểu là cá nhân đầu tư chứng khoán và các tổ chức không phải nhà
đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp tham gia đầu tư chứng khoán. Đây là những cá
nhân, tổ chức thực hiện việc mua bán chứng khoán không thường xuyên và không
chuyên nghiệp với mục đích tạo nguồn thu nhập bổ sung.
Nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp nhìn chung có một số đặc
điểm chính sau đây: 16
Một là, về chủ thể: Nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp là tất cả
các nhà đầu tư cá nhân và doanh nghiệp hoặc tổ chức mà không phải nhà đầu tư
chứng khoán chuyên nghiệp.
Hai là, về trình độ chuyên môn: Nhà đầu tư không chuyên nghiệp không am
hiểu nhiều về nghiệp vụ đầu tư chứng khoán. Không giống như nhà đầu tư chuyên
nghiệp, là các tổ chức có các bộ phận chức năng riêng tư vấn hiểu biết về TTCK,
(các bộ phận này bao gồm nhiều chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm về thị
trường chứng khoán). Không chỉ là những kiến thức tự trau dồi và kinh nghiệm qua
thực tiễn, những chuyên gia làm việc trong các tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên
nghiệp còn phải đạt được chứng chỉ hành nghề do Ủy ban chứng khoán nhà nước
cấp (Theo quyết định số 15/2008/QĐ-BTC thì cá nhân chỉ được hành nghề chứng
khoán tại công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán
khi được Ủy ban chứng khoán Nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề, ví dụ để được
cấp chứng chỉ hành nghề phân tích ngoài các tiêu chuẩn chung như có trình độ đại
học trở lên, đạt yêu cầu trong kỳ thi sát hạch cấp chứng chỉ cá nhân còn phải có
chứng chỉ chuyên môn như tư vấn tài chính và bảo lãnh phát hành kinh doanh
chức niêm yết, sự phân tích và đầu tư mang tính cá nhân, không dành toàn bộ thời
gian và công sức của mình để theo sát các diễn biến chứng khoán, không quá coi
trọng và cũng không có đủ số vốn để đầu tư một hệ thống thiết bị và nhân lực quy
mô, bài bản, chỉ tập trung vào việc nghiên cứu phân tích chứng khoán như vậy.
Bốn là về nguồn vốn đầu tư. Đa số nhà đầu tư không chuyên nghiệp có
nguồn vốn đầu tư hạn hẹp. Tất nhiên không phủ nhận có một số nhà đầu tư nghiệp
dư có số vốn đầu tư lớn, tuy nhiên số lượng những nhà đầu tư này không nhiều.
Nguồn vốn này từ vốn nhàn rỗi do tiết kiệm hoặc từ đầu tư kinh doanh, thừa kế
khác mà chưa có mục đích sử dụng. Tuy nhiên, ngay cả khi nguồn vốn đó dành để
đầu tư chứng khoán thì cũng không quá nhiều trên tổng số tiền mà họ có. Đa phần
do không có mục đích đầu tư lâu dài và có kế hoạch nên họ cũng không có khoản
dự phòng rủi ro. Điều này khác với những nhà đầu tư chuyên nghiệp, bao giờ cũng
có tiềm lực tài chính lớn hơn, do họ có thể huy động vốn từ nhiều cổ đông. Và
những nhà đầu tư chuyên nghiệp do có mục đích, kế hoạch kinh doanh dài hạn nên
bao giờ cũng dành một khoản vốn để dự phòng rủi ro khi thị trường đi xuống
Năm là, về chiến lược đầu tư: Thường không có tư duy xác định đầu tư lâu 18
dài (thông thường họ chỉ đầu tư dưới 1 năm), họ mong muốn kiếm lời nhanh. Đây
cũng là điểm khác cơ bản với nhà đầu tư chuyên nghiệp, họ thường có chiến lược
đầu tư lâu dài (trên 1 năm).
Sáu là, tâm lý đầu tư: thiếu bản lĩnh, tâm lý đám đông. Phương thức đầu tư
của nhiều nhà đầu tư nghiệp dư đó là khi chỉ số giá chứng khoán tăng thì ào ào mua
vào, khi chỉ số chứng khoán giảm thì ào ào bán ra để cắt lỗ.
Đây là nhóm nhà đầu tư có vai trò tương đối quan trọng trên thị trường
chứng khoán tập trung ở Việt Nam hiện nay, cần được bảo vệ và tạo điều kiện phát
triển bởi các quy định pháp luật do các lý do sau đây
Một là, xuất phát từ vai trò của nhóm nhà đầu tư này trên TTCKTT ở nước ta
+ Nhà đầu tư không chuyên nghiệp chủ yếu là nhà đầu tư ngắn hạn và thị
giữ cho nguyên vẹn” [50]. Như vậy, có thể hiểu rằng, bảo vệ là việc Nhà nước công
nhận những quyền lợi, giúp những quyền lợi đó được thực thi trên thực tế, và chống
lại mọi hành vi xâm phạm đến những quyền lợi đó. Trong ý nghĩa của từ bảo vệ, có
bao hàm nghĩa của từ “bảo đảm”. Cũng theo từ điển Tiếng Việt “bảo đảm là làm
cho chắc chắn được thực hiện, duy trì“. Như vậy, bảo vệ quyền lợi đồng nghĩa với
sự bảo đảm nhưng cao hơn một mức, thể hiện ở chỗ Nhà nước thực hiện sự bảo
đảm này một cách chủ động, tức là Nhà nước không chỉ công nhận và duy trì những
quyền lợi đó, mà còn tác động bằng các quy định của pháp luật để những quyền lợi
đó được phát triển và được thực thi một cách có hiệu quả trên thực tế.
Như vậy, pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư không chuyện
nghiệp được hiểu là tổng hợp các quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong quá trình NĐT không chuyên nghiệp giao dịch trên thị trường
chứng khoán tập trung, nhằm công nhận duy trì các quyền lợi hợp pháp của nhà đầu
tư không chuyên nghiệp và đảm bảo các quyền đó được thực thi trên thực tế.
Pháp luật về bảo vệ nhà đầu tư không chuyên nghiệp bao gồm hai nội dung
chính sau.
Thứ nhất là, Nhà nước xác lập cơ chế bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư chứng
khoán không chuyên nghiệp bằng cách ban hành các quy định mang tính công nhận
quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm nhà đầu tư này trong quá trình đầu tư chứng
khoán. Việc công nhận bằng pháp luật đối với những quyền và lợi ích của chủ thể này