SKKN Phương pháp tích hợp giáo dục sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng trong giảng dạy Vật lí bậc Trung học cơ sở - Pdf 28

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, việc sử dụng năng lượng trên
thế giới, và cả ở Việt Nam, đang phải đối mặt với hai vấn đề nan giải có khả
năng làm sụp đỗ công cuộc phát triển kinh tế và đe dọa sự phồn vinh của các
quốc gia. Đó là nguy cơ thiếu hụt năng lượng, và nguy cơ biến đổi khí hậu
gây ra bởi việc sử dụng các nhiên liệu hoá thạch. Để góp phần giải quyết
đồng thời hai vấn đề này, chúng ta cần có những giải pháp để vượt qua những
rào cản trước các biện pháp tiết kiệm năng lượng.
Nước Việt Nam chúng ta được thiên nhiên ưu đãi, có sự giàu có về tài
nguyên năng lượng nhưng thực tế cho thấy khả năng khai thác, chế biến, sử
dụng còn nhiều hạn chế, gây nên sự lãng phí và hiệu quả không cao. Nếu tình
trạng này cứ tiếp tục kéo dài thêm sẽ hết sức nguy hiểm. Do vậy việc giáo dục
sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng thiết nghĩ là một việc làm cấp bách
và thiết thực. Bởi vì, hành động và ứng xứ của con người đối với các nguồn
năng lượng quý giá bị điều chỉnh bởi chính thái độ và nhận thức của họ mà
giáo dục có vai trò to lớn.
Trong số các môn học ở trường Trung học cơ sở thì môn Vật lí là một
trong những môn học thực nghiệm, nó cung cấp cho học sinh rất nhiều các
kiến thức cơ bản về thế giới tự nhiên, đặc biệt là các kiến thức về các dạng
năng lượng. Vì thế qua môn học này, mỗi khi cung cấp một đơn vị kiến thức
cơ bản có liên quan đến năng lượng thì người thầy có thể tích hợp giáo dục sử
dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng vào từng đơn vị kiến thức này hoặc
từng bài giảng của mình.
Hiện nay, nội dung về giáo dục sử dựng tiết kiệm và hiệu quả năng
lượng đã được trình bày tích hợp vào chương trình cấp Trung học cơ sở. Tuy
nhiên, giáo viên còn lúng túng khi dạy học tích hợp do tư liệu, phim, ảnh cụ
1
thể phục vụ việc tích hợp vào từng bài học chưa có, đội ngũ giáo viên còn gặp
khó khăn về việc tìm kiếm tư liệu, phim, ảnh khi tích hợp vào từng bài dạy.
2. Mục đích nghiên cứu:

- Dựa vào công tác điều tra, khảo sát, tìm hiểu tình hình sử dụng năng
lượng trong nhà trường, và gia đình học sinh.
- Dựa vào kinh nghiệm thực tế, các hoạt động thực tiễn, từ đó phân tích,
tổng hợp để lựa chọn nội dung, tư liệu, hình ảnh tích hợp vào từng bài giảng.
3
PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận của vấn đề:
1.1. Cơ sở pháp lý:
+ Nghị định số 102/2003/NĐ-CP của Chính phủ về “sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả”. Điều 18 về chương trình mục tiêu quốc gia về
sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nêu yêu cầu giáo dục, đào tạo, phổ
biến thông tin, tuyên truyền cộng đồng trong lĩnh vực phát triển, thúc đẩy sử
dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường.
+ Pháp lệnh số 02/1998/PL-UBTVQH10 về thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí: quy định các tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng tài nguyên thiên
nhiên phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
+ Luật Điện lực (2005), quy định về tiết kiệm trong phát điện, truyền tải
và phân phối điện nhằm tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn năng
lượng, bảo vệ môi trường sinh thái. Điều 6 của Luật yêu cầu tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật về điện lực và trường học tổ chức phổ biến, giáo
dục và hướng dẫn sử dụng an toàn, tiết kiệm, hiệu quả và chấp hành nghiêm
chỉnh các quy định pháp lệnh về điện lực.
+ Chương trình mục tiêu quốc gia về “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả” theo Quyết định số 79/2006/QĐ-TTg-CP của Thủ tướng Chính phủ.
Đề án thứ ba của Chương trình là: Đưa các nội dung về giáo dục sử dụng
năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vào hệ thống giáo dục quốc gia, trong đó qui
định rõ: Xây dựng nội dung, giáo trình, phương pháp giảng dạy lồng ghép các
kiến thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vào các môn học, phù
hợp với từng cấp học từ tiểu học đến trung học phổ thông.
+ Đề án “Đưa các nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu

là gần 24 triệu người, chiếm hơn 1/4 dân số cả nước (hơn 91 triệu người –
theo Wikipedia) trong đó học sinh, giáo viên các cấp Trung học cơ sở, Trung
học phổ thông là gần 16 triệu người. Đó là một lực lượng hùng hậu, là đối
tượng quan trọng thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Đồng
5
thời đây cũng là lực lượng quan trọng thực hiện tuyên truyền, giáo dục, vận
động các đối tượng khác trong xã hội thực hiện mục tiêu sử dụng năng lượng
tiết kiệm và hiệu quả.
+ Việc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay là cơ sở cho việc đưa các
nội dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vào hệ thống
giáo dục quốc dân. Vì một trong các yêu cầu đối với giáo dục là nội dung và
phương pháp giáo dục phải đáp ứng các yêu cầu của xã hội.
2. Thực trạng của vấn đề:
2.1. Thực trạng:
Ở Việt Nam, việc tiết kiệm năng lượng cũng đã và đang trở thành chủ đề
nóng bỏng. Theo báo cáo gần đây nhất của Bộ Công Thương, dự báo đến cuối
thế kỷ này, nguồn năng lượng của Việt Nam sẽ trở nên khan hiếm, các mỏ
dầu và khí đốt sẽ dần cạn kiệt, trong khi đó tình trạng lãng phí năng lượng
trong sản xuất công nghiệp, xây dựng dân dụng, giao thông vận tải… của
nước ta hiện nay là rất lớn, hiệu suất sử dụng nguồn năng lượng còn rất thấp
so với các nước phát triển. Vấn đề tiết kiệm năng lượng trở nên đặc biệt quan
trọng khi Việt Nam đang và sẽ trở thành nước phải nhập khẩu năng lượng.
Trong khi các nguồn năng lượng tái tạo (gió, mặt trời ) hầu như chưa được
khai thác, sử dụng thì các nguồn năng lượng không tái tạo (dầu thô, than đá)
đang cạn kiệt dần. Nếu chúng ta không có những biện pháp, chiến lược hợp lý
trong vấn đề tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả, thì trong thời gian
không xa nữa chúng ta sẽ thiếu hụt trầm trọng năng lượng.
Trong quá trình giảng dạy môn vật lí trong trường phổ thông, tôi tin rằng
tất cả giáo viên đều có đề cập đến các biện pháp để giáo dục học sinh về việc
sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Tuy nhiên, việc làm này có thể

3. Các giải pháp giải quyết vấn đề:
3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp :
Hiện nay, tình trạng sử dụng năng lượng lãng phí ở Việt Nam đang ở
mức báo động. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do trình độ khoa
7
học công nghệ của nước ta còn lạc hậu, sử dụng các loại máy móc có hiệu
suất thấp; một phần là do ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm của người dân
còn yếu. Nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài sẽ dẫn đến những hậu quả khôn
lường cho quá trình phát triển của đất nước. Đứng trước tình hình đó, Đảng
và nhà nước ta đã quyết định đưa công tác giáo dục sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả vào chương trình mục tiêu quốc gia. Từ năm học 2010 -
2011 Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức triển khai đề án “Đưa các nội dung
giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vào các chương trình giáo
dục của các cấp học”.
Tuy nhiên, sau hai năm thực hiện đề án thì tình trạng sử dụng năng
lượng lãng phí vẫn chưa chuyển biến tích cực. Để cho nội dung tích hợp giáo
dục sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng trong giảng dạy bộ môn Vật lí
bậc Trung học cơ sở đạt hiệu quả hơn, tôi xin mạnh dạn trình bày một số
phương pháp tích hợp cụ thể như sau:
3.2. Các giải pháp chủ yếu:
3.2.1. Xây dựng nội dung tích hợp phù hợp với nội dung bài dạy:
Để giúp học sinh có nhận thức đúng về tác dụng của việc sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với đời sống con người thì trước tiên phải đưa
ra những vấn đề thực sự gần gũi với nhận thức của các em, phải động đến
những vấn đề mà các em thường gặp phải trong đời sống hàng ngày.
Đối với bộ môn Vật lí, chúng ta rất có điều kiện để tích hợp giáo dục sử
dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vào từng bài học cụ thể vì trong nội
dung chương trình của bậc Trung học cơ sở có rất nhiều bài học có liên quan
đến năng lượng. Vấn đề cốt lõi là phải xây dựng nội dung tích hợp thật sự phù
hợp với nội dung bài dạy.

+ Chuẩn bị: Hình ảnh bàn là, phim về hoạt động của băng kép trong bàn
là, hình ảnh một số thiết bị dân dụng khác có sử dụng băng kép để đóng ngắt
tự động mạch điện như nồi cơm điện, ấm nước điện.
9
Bàn là điện Cấu tạo bàn là điện

Nồi cơm điện Ấm nước điện
- Tiết 30&31 - Bài 26& 27: Sự bay hơi và sự ngưng tụ
+ Địa chỉ tích hợp: Sau khi học xong phần vận dụng
+ Nội dung tích hợp: - Nước bay hơi làm giảm nhiệt độ môi trường
chung quanh. Khi xây nhà, con người đã biết thiết kế các hòn non bộ, các hồ
nhân tạo có nước để vừa làm đẹp cho ngôi nhà vừa tận dụng việc nước bay
hơi để làm mát ngôi nhà, hạn chế sử dụng năng lượng điện cho các thiết bị
làm mát
10

- Trong trồng trọt, người nông dân thường dùng
tấm bạt nylông phủ lên luống cây trồng hoặc tưới cây theo phương pháp nhỏ
giọt… nhằm hạn chế sự bay hơi của nước trong đất, tiết kiệm được 30%-60%
so với phương pháp tưới truyền thống, tiết kiệm được nhiều năng lượng khi
bơm tưới cũng như tránh sự xói mòn đất. Giáo dục HS ý thức tiết kiệm khi sử
dụng nước.
+ Mức độ tích hợp: Liên hệ
+ Phương pháp: Thuyết trình & dẫn chứng cụ thể bằng phim, ảnh.
+ Chuẩn bị: Hình ảnh về sử dụng nước làm hạ nhiệt, hình ảnh việc sử
dụng bạt nylông, phương pháp tưới nhỏ giọt trong trồng trọt nông nghiệp;
phim về tình trạng xói mòn đất.
Sử dụng bạt nylon chống thoát hơi nước trong trồng trọt
11
Hệ thống tưới nhỏ giọt

+ Chuẩn bị: Hình ảnh bóng tối phía sau vật cản ở các đô thị; bảng cảnh
báo: tắt các thiết bị điện khi ra khỏi phòng.

- Tiết 4 - Bài 4: Định luật phản xạ ánh sáng
+ Địa chỉ tích hợp: Phần II: Định luật phản xạ ánh sáng
+ Nội dung tích hợp: Hiện tượng ánh sáng bị hắt lại khi gặp gương
phẳng gọi là hiện tượng phản xạ ánh sáng. Con người đã biết tận dụng tính
chất này của gương phẳng để tăng cường ánh sáng mà không cần sử dụng
nhiều các thiết bị chiếu sáng gây tiêu tốn điện năng.
+ Mức độ tích hợp: Liên hệ
+ Phương pháp: Thuyết trình & dẫn chứng cụ thể bằng phim, ảnh.
+ Chuẩn bị: Hình ảnh bố trí gương phẳng hợp lí trong nhà nhằm tăng
cường ánh sáng tự nhiên, hạn chế các thiết bị chiếu sáng gây tiêu hao năng
lượng điện.
14

- Tiết 8 - Bài 8: Gương cầu lõm
+ Địa chỉ tích hợp: Phần II. Sự phản xạ ánh sáng trên gương cầu lõm
+ Nội dung tích hợp: Gương cầu lõm có tác dụng biến đổi một chùm tia
tới song song thành một chùm tia phản xạ hội tụ tại một điểm, mà ánh sáng
có mang năng lượng, khi ánh sáng được tập trung tại một điểm có thể sinh ra
một nhiệt lượng lớn. Người ta ứng dụng tính chất này của gương cầu lõm để
chế tạo các dụng cụ tận dụng năng lượng ánh sáng phục vụ đời sống hàng
ngày của con người, nhằm hạn chế việc sử dụng các nguồn năng lượng hoá
thạch.
+ Mức độ tích hợp: Bộ phận
+ Phương pháp: Thuyết trình & dấn chứng cụ thể bằng phim, ảnh.
+ Chuẩn bị: Hình ảnh sử dụng gương cầu lõm làm các vật dụng phục vụ
đời sống


không ngừng nghiên cứu và chế tạo ra các loại đèn tiêu thụ ít năng lượng điện
hơn nữa như đèn compac, đèn L.E.D
- Để giảm tác dụng nhiệt, cách đơn giản nhất là làm dây dẫn bằng vật
liệu dẫn điện tốt. Việc sử dụng nhiều kim loại để làm vật liệu dẫn điện dẫn
đến cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Ngày nay người ta cố gắng chế tạo ra vật
liệu siêu dẫn để giảm thiểu tối đa năng lượng hao phí do tỏa nhiệt nhằm sử
dụng năng lượng hiệu quả và bền vững.
+ Mức độ tích hợp: Liên hệ
+ Phương pháp: Thuyết trình & dẫn chứng cụ thể bằng phim, ảnh.
17
Làm thí nghiệm kiểm tra (thắp sáng hai loại bóng đèn
rồi cùng kiểm tra nhiệt độ).
+ Chuẩn bị:- Hình ảnh các loại bóng đèn (sợi đốt, huỳnh quang, compac,
L.E.D); dây dẫn bằng vật liệu siêu dẫn.
- Hai loại bóng đèn, nguồn điện, 2 nhiệt kế.

Bóng đèn sợi đốt Bóng đèn huỳnh quang

Bónh đèn Compac Bóng đèn L.E.D
18
Dây siêu dẫn Sapphire có khả năng truyền tải điện cao gấp 40 lần dây đồng
* Vật lí 8
- Tiết 7 - Bài 6: Lực ma sát
+ Địa chỉ tích hợp: Phần II. Lực ma sát trong đời sống và kỹ thuật
+ Nội dung tích hợp: Giảm ma sát có hại bằng cách bôi trơn các chi tiết
chuyển động của các thiết bị, máy móc hoặc phối hợp các vật liệu thích hợp
khi chế tạo các chi tiết này sẽ làm cho hiệu suất sử dụng chúng được nâng cao
góp phân vào việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Nếu tiết kiệm
được năng lượng cũng đồng thời giảm thiểu được sự phát thải các khí gây ôi
nhiễm môi trường, giảm được tiếng ốn khi hoạt động (liên quan đến ô nhiễm

- Tiết 18 - Bài 19 : Sử dụng an toàn và tiết kiệm điện
+ Địa chỉ tích hợp: Phần II: Sử dụng tiết kiệm điện năng.
+ Nội dung tích hợp: GV đưa ra các bài tập tính toán của các thiết bị
điện hoạt động, từ đó đặt ra câu hỏi: Để tiết kiệm điện chúng ta cần phải làm
gì?
+ Mức độ tích hợp: Toàn phần
+ Phương pháp: Vấn đáp
+ Chuẩn bị: Bài tập tính toán
Tiết 40 - Bài 36: Truyền tải điện đi xa
+ Địa chỉ tích hợp:- Phần II: cách làm giảm hao phí trên đường dây tải
điện.
- Phần củng cố
22
+ Nội dung tích hợp: GV đưa ra các bài tập cho HS, từ đó đặt ra câu hỏi:
Để giảm hao phí trên đường dây tải điện cần áp dụng các biện pháp nào, biện
pháp nào là tối ưu?
+ Mức độ tích hợp: Bộ phận
+ Phương pháp: Vấn đáp
+ Chuẩn bị: Bài tập tính toán, hình ảnh truyền tải điện, máy biến thế

- Tiết 61 - Bài 56: Các tác dụng của ánh sáng
+ Địa chỉ tích hợp: - Phần I: tác dụng nhiệt của ánh sáng
- “Có thể em chưa biết”
+ Nội dung tích hợp: - Hãy kể tên một số công việc trong đó con người
sử dụng tác dụng nhiệt của ánh sáng để phục vụ đời sống và sản xuất.
- Ánh sáng có năng lượng rất lớn, để sử dụng được nguồn năng lượng
đó, em cần có những biên pháp nào?
+ Mức độ tích hợp: Bộ phận
+ Phương pháp: Thuyết trình & dẫn chứng cụ thể bằng phim ảnh.
+ Chuẩn bị: Hình ảnh ứng dụng tác dụng nhiệt của ánh sáng phục vụ đời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status