ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM NGỌC KHÁNH
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA
QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM NGỌC KHÁNH
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ MUA BÁN HÀNG HÓA
QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ DUNG
Hà Nội - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Ngọc Khánh
MỤC LỤC
Trang
35
2.1 Quy định về thành lập, cơ cấu tổ chức và hoạt động của
Sở giao dịch hàng hóa
35
2.1.1 Hình thức pháp lý của Sở giao dịch hàng hóa 35
2.1.2 Cơ cấu tổ chức Sở giao dịch hàng hóa 40
2.1.3 Thành lập và cấp phép hoạt động Sở giao dịch hàng hóa 44
2.2 Chủ thể tham gia hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở
giao dịch hàng hóa
46
2.2.1 Thành viên môi giới 47
2.2.2 Thành viên kinh doanh 49
2.2.3 Khách hàng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 52
2.3 Hàng hóa mua bán qua Sở giao dịch hàng hóa 56
2.4 Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 59
2.4.1 Hình thức của hợp đồng 60
2.4.2 Các nội dung chủ yếu của hợp đồng 61
2.4.3 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng 62
2.4.4 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng
hóa
66
2.5 Một số quy định khác về mua bán hàng hóa qua Sở giao
dịch hàng hóa
68
2.5.1 Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa nước ngoài 68
2.5.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động mua bán hàng hóa qua
Sở giao dịch hàng hóa
69
Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Các chữ viết tắt Đọc là
Luật Thương mại 2005 Luật Thương mại của Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005
NĐ 158/2006/NĐ-CP Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày
28/12/2006 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt
động mua bán hàng hóa qua Sở giao
dịch hàng hóa
TT 03/2009/TT-BCT Thông tư số 03/2009/TT-BCT ngày
10/12/2009 của Bộ Công thương
hướng dẫn hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp
giấy phép thành lập và quy định chế độ
báo cáo của Sở giao dịch hàng hóa theo
quy định tại Nghị định số
158/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật Thương mại về hoạt động mua
bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng
hóa
MỞ ĐẦU
1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Hoạt động mua bán hàng hóa giao sau tại Việt Nam hiện nay đang ở
những bước phát triển đầu tiên. Một số đề án thành lập Sở giao dịch Hàng hóa
đang được đẩy nhanh thực hiện, như đề án thành lập Sở giao dịch nông - lâm
- thủy sản của Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, đề án thành lập Sở giao
dịch Cà phê của UBND tỉnh Đắk Lắk…, thu hút sự tham gia góp vốn của rất
Với những cơ sở khoa học và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài
“Pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa”
làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Tác giả chọn đề tài “Pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa qua Sở
giao dịch hàng hóa” với mục đích nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận và
thực tiễn pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch,
so sánh và tiếp thu chọn lọc những kinh nghiệm của pháp luật về vấn đề này ở
một số nước trên thế giới, nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về mua bán
hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.
Với mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu tổng quan về thị trường hàng hóa giao sau và hoạt động
mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa, làm rõ về mặt lý luận hoạt
động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa, tổng quan pháp luật về
2
mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa của Việt Nam và của một số
nước trên thế giới…
- Làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về hoạt động mua bán hàng
hóa qua Sở giao dịch hàng hóa. Phân tích các quy định cụ thể về cơ chế tổ
chức, hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa, chủ thể, hàng hóa, hợp đồng…
trong mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa, hoạt động mua bán hàng
hóa của thương nhân Việt Nam qua các Sở giao dịch hàng hóa nước ngoài,
các hành vi bị cấm, hạn chế nhằm bảo vệ thị trường giao sau có tổ chức, khiếu
nại, xử lý vi phạm… Bên cạnh đó, nghiên cứu quy định của pháp luật một số
nước trên thế giới về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa, qua đó
đối chiếu, so sánh để nhận định những quy định còn thiếu, còn chưa phù hợp
nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Một số
nước ngay gần chúng ta như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan…
đều có Luật riêng điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa tương lai.
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua bán hàng hóa qua Sở
giao dịch hàng hóa theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Luật học (2007); Bùi
Thị Hương Xuân, Pháp luật về hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn trên
thị trường hàng hóa giao sau, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Luật, 2008; Phạm
Chí Dũng, Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa theo pháp luật Việt
Nam hiện hành, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Luật, 2008 ). Một công trình
nghiên cứu về vấn đề mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở cấp độ
cao học và đi sâu nghiên cứu, so sánh với pháp luật nước ngoài là chưa có.
4
Việc nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài
để hoàn thiện pháp luật về vấn đề này là điều cần thiết.
Đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động
mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa, nhằm tạo lập hành lang pháp lý
thúc đẩy sự phát triển của hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng
hóa tại Việt Nam, giúp nước ta có thêm một phương thức mua bán hiệu quả
cho những sản phẩm, hàng hóa của mình. Tác giả hy vọng rằng với sự đầu tư
thích đáng, kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị.
5. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp mới về mặt khoa
học trên những khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
hàng hóa, làm rõ những vấn đề lý luận về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
hàng hóa, các đặc điểm của hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch
hàng hóa, tổng quan pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước trên
thế giới về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.
Thứ hai, đi sâu phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về mua bán
hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa, trên cơ sở đó chỉ ra những tồn tại, bất
cập và những điểm còn thiếu trong các quy định hiện hành về tổ chức, hoạt
động của Sở giao dịch hàng hóa, chủ thể tham gia mua bán hàng hóa kỳ hạn,
quyền chọn qua Sở giao dịch, hàng hóa, hợp đồng trong mua bán giao sau,
người bán: người mua muốn đảm bảo nguồn cung cấp hàng hóa vào một thời
điểm nào đó trong tương lai (có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng sau…) để bảo
đảm kế hoạch kinh doanh cũng như kiểm soát được giá cả; người bán muốn
chắc chắn khả năng tiêu thụ hàng hóa, với giá cả dự liệu được ở một thời
điểm trong tương lai, thậm chí ngay từ khi hàng hóa của họ còn đang trong
quá trình sản xuất.
Thị trường hàng hóa giao sau là nơi ký kết các hợp đồng giao sau hay
còn gọi là hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai (Futures contract). Việc xác
định tính chất giao sau của quan hệ mua bán chủ yếu dựa theo yếu tố thời
điểm giao hàng và giá cả của hợp đồng. Hợp đồng giao sau luôn có thời điểm
7
giao hàng là một thời điểm nào đó trong tương lai (sau thời điểm ký kết hợp
đồng). Tuy nhiên, trên thị trường hàng hóa giao ngay, không phải lúc nào các
bên cũng thực hiện việc giao hàng ngay sau khi hợp đồng được ký kết, do mỗi
bên đều cần khoảng thời gian phù hợp để chuẩn bị cho việc giao nhận hàng
hóa.
Trong trường hợp này, việc xác định tính chất “giao sau” hay “giao
ngay” không chỉ dựa vào thời điểm giao hàng mà vấn đề quan trọng là “giá
cả”. Nếu như giá cả được thỏa thuận theo giá thị trường tại thời điểm ký kết
hợp đồng thì đây vẫn là hợp đồng mua bán giao ngay. Ngược lại, khi các bên
lựa chọn một mức giá có dự liệu đến sự biến động về giá cả của hàng hóa trên
thị trường tính đến thời điểm giao hàng (giá này có thể cao hơn thời điểm hiện
tại) thì quan hệ mua bán này có tính chất giao sau.
Thị trường hàng hóa giao sau được chia thành hai loại: thị trường giao
sau có tổ chức (tổ chức hoạt động mua bán hàng hóa tương lai qua Sở giao
dịch hàng hóa) và thị trường ngoài Sở giao dịch (thị trường OTC). Tương ứng
với hai loại thị trường đó, hình thành một số thuật ngữ khác nhau: Hợp đồng
mua bán hàng hóa tương lai, hợp đồng giao sau và hợp đồng mua bán hàng
hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.
Hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai được hiểu tương tự như hợp
- Nội dung hợp đồng tuân thủ những điều khoản đã được tiêu chuẩn
hóa của Sở giao dịch (những điều khoản theo mẫu) và đều liên quan đến việc
ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa ở một thời điểm trong tương
lai.
9
- Hàng hóa mua bán qua Sở giao dịch hàng hóa thông thường là những
loại hàng hóa có sự biến động lớn về giá, thu hút khối lượng lớn các nhà giao
dịch tham gia mua bán và không bên nào có khả năng chi phối được thị
trường.
- Việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng
hóa không chỉ bằng cách giao hàng hữu hình mà còn có thể thanh toán bù trừ
bằng tiền mặt khoản chênh lệch lợi nhuận giữa các bên.
- Các loại hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch bao gồm: hợp
đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn.
Dưới đây ta sẽ phân tích cụ thể những đặc điểm của hoạt động mua bán
hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng
hoá
1.1.2.1 Địa điểm diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa là Sở giao dịch hàng
hóa:
Sở giao dịch là điểm phân biệt thị trường giao sau có tổ chức với thị
trường OTC. Giao dịch giao sau được thực hiện tại một nơi gọi chung là Sở
giao dịch hàng hóa. Sở giao dịch được tổ chức gần giống như một công ty và
hình thức sở hữu của nó phụ thuộc vào quy định và điều kiện cụ thể của từng
nước. Rất nhiều nước trên thế giới đã có Sở giao dịch và số lượng Sở giao
dịch ngày càng tăng. Các Sở giao dịch nhộn nhịp nhất là ở Sydney,
Hongkong, Tokyo, Paris, London, Singapore và Toronto…
10
Khái quát có thể hiểu, Sở giao dịch hàng hoá là một công ty hoặc tổ
chức có tư cách pháp nhân, hoạt động nhằm cung cấp các phương tiện cần
được xác nhận các quyền hợp đồng từ Sở giao dịch. Do đó người ta còn nói
các hợp đồng giao dịch trên Sở giao dịch hàng hoá là hợp đồng mang tính vô
danh về đối tác. Bên cạnh đó, các khách hàng không phải là thành viên của Sở
giao dịch cũng không đặt các lệnh mua, bán trực tiếp tới Sở giao dịch, mà
thông qua trung gian là các nhà môi giới.
Các chủ thể thực hiện việc thanh toán theo hợp đồng thông qua Trung
tâm thanh toán bù trừ: Mỗi một Sở giao dịch hàng hóa có một Trung tâm
thanh toán bù trừ kèm theo để thanh toán mọi giao dịch ở Sở. Trung tâm
thanh toán bù trừ có thể là một tổ chức thuộc Sở giao dịch hoặc là một thể
nhân hoàn toàn độc lập. Trung tâm thanh toán bù trừ đảm nhận vai trò một
người trung gian cho mỗi giao dịch, bằng cách trở thành người bán để giao
dịch với mọi thành viên mua hoặc người mua giao dịch với mọi thành viên
bán. Theo đó, một hợp đồng giữa người bán và người mua bất kỳ đều được
chuyển thành hai hợp đồng: một hợp đồng giữa người bán và Trung tâm
thanh toán bù trừ và hợp đồng kia giữa Trung tâm thanh toán bù trừ và người
mua. Người bán thực hiện thanh toán theo hợp đồng không phải cho người
mua mà cho Trung tâm thanh toán bù trừ. Người mua thực thi nghĩa vụ thanh
toán không phải trực tiếp cho người bán mà cho Trung tâm thanh toán bù trừ.
Nhờ vậy, các bên tham gia mua bán trên sàn giao dịch không nhất thiết phải
xem xét khả năng thực tế của bên kia. Người mua không phải lo ngại về
chuyện hàng hoá là đối tượng của hợp đồng có đảm bảo hay không, ngược lại
12
người bán cũng không phải lo ngại về khả năng thanh toán thực tế của người
mua.
Việc giao nhận hàng hóa không thực hiện trực tiếp giữa người bán và
người mua mà thông qua Trung tâm giao nhận hàng hóa: Trong việc giao
hàng theo hợp đồng, hàng hoá sẽ được bên bán chuyển đến kho của Sở giao
dịch, Trung tâm giao nhận hàng hóa của Sở giao dịch thực hiện việc kiểm
duyệt hàng hóa theo tiêu chuẩn của Sở. Việc giao hàng được hiểu là chuyển
quyền sở hữu hàng hóa lưu kho từ bên bán sang bên mua chứ người bán và
…
Ngoài ra, tuỳ Sở giao dịch, càng ngày người ta càng đưa vào thị trường
giao sau nhiều loại hàng hóa khác để giao dịch. Các hàng hóa này còn được
gọi là hàng hóa cơ sở (underlying commodity), nó là cơ sở để các bên thiết
lập hợp đồng.
1.1.2.4 Hợp đồng mua bán hàng bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa
tuân theo những điều khoản đã được tiêu chuẩn hóa:
Hợp đồng trong mua bán giao sau tại Sở giao dịch hàng hoá do Sở giao
dịch quy định. Một trong những hoạt động quan trọng đang diễn ra hiện nay
của Sở giao dịch là phát triển những hợp đồng giao sau mới và đắc dụng. Hầu
14
hết các Sở giao dịch duy trì một đội ngũ cán bộ nghiên cứu không ngừng
kiểm tra tính khả thi của các hợp đồng mới.
Thông thường trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch chỉ
các điều khoản về loại hàng hóa, giá cả và thời gian giao nhận là cần các bên
thỏa thuận, còn điều khoản còn lại sẽ áp dụng theo điều khoản mẫu đã được
Sở giao dịch quy định. Điều khoản mẫu cho từng hợp đồng là quy mô, đơn vị
báo giá, biến động giá tối thiểu, phẩm cấp và giờ giao dịch, điều kiện giao
cũng như thủ tục giao hàng…
- Quy mô hợp đồng: là số lượng đơn vị cụ thể của một loại hàng hoá
cho mỗi hợp đồng. Số lượng này có thể là một số thùng đã định của một loại
ngũ cốc hay một lượng đô la đã định giá trị danh nghĩa của một công cụ tài
chính. Quyết định quy mô hợp đồng là một vấn đề quan trọng. Nếu quy mô
nhỏ quá, nhà đầu cơ sẽ phải chịu chi phí giao dịch cao hơn vì việc giao dịch
mỗi hợp đồng phải chịu một chi phí nhất định. Ngược lại, nếu quy mô hợp
đồng quá lớn, người mua bán có thể không đủ nhu cầu tương ứng bởi các hợp
đồng không thể phân chia ra được.
- Phẩm cấp hợp đồng: là chất lượng của một loại hàng hóa cho hợp
đồng. Hàng hoá đưa vào mua bán tại Sở giao dịch sẽ được phân chia phẩm
cấp, nhất là đối với hàng hoá nông sản. Các hàng hoá nông sản có thể có rất
bên cạnh đó các bên còn có thể thanh toán bằng tiền mặt.
Đối với giao hàng hữu hình, hàng hoá sẽ được bên bán chuyển đến một
trong những kho của Sở giao dịch. Vì hàng hoá lưu trong các kho sẽ được Sở
16
giao dịch phê duyệt, nên việc giao hàng chỉ có ý nghĩa là chuyển quyền sở
hữu hàng hoá lưu kho từ chủ này sang chủ kia, chứ không phải thực hiện một
việc giao hàng trực tiếp giữa họ.
Trên thực tế, nhiều hợp đồng giao sau không thực hiện việc giao hàng
hữu hình, dẫu việc giao hàng là một đặc tính quan trọng của hoạt động mua
bán. Thị trường giao sau không phải là con đường tốt nhất để mua hàng hoá.
Trong giao dịch giao sau, người sở hữu hợp đồng bảo hiểm hoặc đầu cơ giá
lên và giá xuống gặp nhau và thoả thuận về một giao dịch. Ví dụ, chủ trang
trại ký một hợp đồng kỳ hạn bán lúa mỳ cho công ty thương mại. Đến ngày
đáo hạn, giá lúa mỳ giao ngay thấp hơn giá kỳ hạn, chủ trang trại sẽ giao hàng
cho công ty thương mại và thu về được khoản lãi so với đem bán ở thị trường
giao ngay. Nhưng chủ trang trại và công ty thương mại cũng có thể thoả
thuận, thay vì giao nhận hàng của nhau thì cả hai cùng ra ngoài thị trường
giao ngay để bán và mua lượng lúa mỳ đó, và công ty thương mại vẫn trả cho
chủ trang trại khoản tiền lãi như trên. Ở đây, việc trên thực tế chủ trang trại có
bán hay công ty thương mại có mua lúa mỳ ở ngoài thị trường giao ngay hay
không không phải là mối quan tâm của nhau, chỉ có khoản tiền công ty
thương mại phải trả cho chủ trang trại là thực sự. Khoản tiền này được công
ty thương mại thanh toán qua việc nộp khoản tiền bảo chứng và việc thực
hiện thanh khoản hàng ngày của Trung tâm thanh toán bù trừ.
Đối với mỗi giao dịch được thiết lập, các bên tham gia sẽ phải nộp một
khoản tiền gọi là tiền bảo chứng, hay còn gọi là tiền ký quỹ kinh doanh
(trading margin). Tiền bảo chứng sẽ được gửi vào tài khoản của họ mở tại Sở
giao dịch và do Trung tâm thanh toán bù trừ quản lý. Tiền bảo chứng bao
gồm hai loại là tiền bảo chứng ban đầu và tiền bảo chứng biến đổi. Người
mua và người bán khi ký kết hợp đồng giao sau tại Sở giao dịch phải nộp một
thực tế có thể tốn kém cho các bên… Rõ ràng hình thức thanh toán bằng tiền
mặt thay thế cho giao hàng hữu hình tỏ ra rất linh hoạt. Trong Sở giao dịch,
các bên ký kết hợp đồng mua bán kỳ hạn, quyền chọn không hẳn để thiết lập
một việc giao nhận hàng hóa thực sự mà hầu hết chỉ coi đó là công cụ để bảo
hộ, để đầu cơ bằng nghiệp vụ thanh toán bù trừ. Trên thực tế, hợp đồng giao
sau được thanh toán bù trừ chiếm 97% - 98% số lượng hợp đồng giao sau
được ký kết, tức chỉ có 2% - 3% hợp đồng giao sau thực hiện việc giao nhận
hàng trong thực tế. Đối với các loại hợp đồng giao sau về chỉ số thì bắt buộc
phải thanh toán bù trừ hoàn toàn. Đây là một ưu thế của mua bán hàng hoá
thông qua Sở giao dịch, điều này không thể có được trong thị trường giao
dịch ngoài Sở cũng như trong thị trường giao ngay.
1.1.3 Các loại hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao
dịch hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai nói chung và hợp đồng trong
hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa bao gồm hai loại hợp
đồng cơ bản là hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn. Hai loại hợp đồng
này đều mang đặc điểm chung của hợp đồng mua bán giao sau, đều là những
hợp đồng mua bán hàng hóa mà việc thỏa thuận về giá cả, hàng hóa được
thực hiện tại thời điểm giao kết còn việc giao hàng thực hiện vào một thời
điểm trong tương lai. Tuy nhiên, hai loại hợp đồng này cũng mang những đặc
điểm riêng của chúng.
1.1.3.1 Hợp đồng kỳ hạn
Thị trường tiêu thụ hàng hoá nông sản có vai trò vô cùng quan trọng
trong sự phát triển của ngành nông nghiệp nói riêng cũng như của nền kinh tế
nói chung. Người ta đã sớm nhận ra rằng việc vận chuyển các hàng hoá nông
sản từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ phải mất nhiều thời gian và chi phí rất tốn
19