Pháp luật về hội đồng quản trị của công ty cổ phần và thực tiễn áp dụng tại Công ty Hóa chất Việt Trì - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THỊ KIM XUYẾN
PHÁP LUẬT VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
CÔNG TY HOÁ CHẤT VIỆT TRÌ Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

5
1.1.1
Khái lược về công ty cổ phần
5
1.1.2.
Hội đồng quản trị trong mối tương quan với các thiết chế
quản lý khác của công ty cổ phần
8
1.1.3.
Mô hình và cơ chế hoạt động của Hội đồng quản trị
11
1.1.4.
Phong cách làm việc của Hội đồng quản trị
17
1.1.5.
Mô hình Tricker - một khuôn khổ để phân tích về các hoạt
động của Hội đồng quản trị
18
1.2.
Một số nội dung về quản trị công ty theo OECD
20
1.2.1.
Nhận thức về quản trị công ty theo OECD
20
1.2.2.
Trách nhiệm của Hội đồng quản trị theo OECD
21
1.3.
Khái lược pháp luật về Hội đồng quản trị ở Việt Nam
22

37
2.1.4.
Thành phần Hội đồng quản trị
38
2.1.5.
Chủ tịch Hội đồng quản trị
39
2.1.6.
Thẩm quyền của Hội đồng quản trị
44
2.1.7.
Trách nhiệm và nghĩa vụ của Hội đồng quản trị, thành viên
48

Hội đồng quản trị

2.1.8.
Cuộc họp của Hội đồng quản trị
50
2.1.9.
Các Tiểu ban của Hội đồng quản trị
52
2.1.10.
Thư ký Hội đồng quản trị
53
2.1.11.
Thù lao của Hội đồng quản trị
54
2.2.
Thành viên Hội đồng quản trị độc lập

71
3.3.
Một số đề nghị cụ thể của tác giả góp phần hoàn thiện những
quy định của pháp luật Việt Nam về Hội đồng quản trị
75
3.3.1.
Đối với những quy định về Hội đồng quản trị theo
76

Luật doanh nghiệp 2005

3.3.2.
Đối với các công ty cổ phần
80

KẾT LUẬN
83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
84

PHỤ LỤC
88
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hình
Tên hình
Trang

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á
CIEM: Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
ĐHĐCĐ: Đại hội đồng cổ đông
IFC: Quỹ tiền tệ quốc tế
HĐQT: Hội đồng quản trị
NXB: Nhà xuất bản
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
VNR: Câu lạc bộ 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam
WB: Ngân hàng Thế giới
1

MỞ ĐẦU

hành công ty tốt. Việc phân bổ thẩm quyền giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ
chức của công ty cổ phần còn nhiều những bất cập, chồng chéo. Địa vị pháp
lý của Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần ở Việt Nam còn được nhìn
nhận thấp, được coi là người quản lý công ty nhưng pháp luật thiết kế cho họ
một địa vị pháp lý không tương xứng.
Vấn đề này càng trở nên cấp thiết hơn khi các công ty cổ phần ra đời
ngày càng nhiều, nhiều công ty mong muốn mở rộng thị trường ra nước
ngoài, thị trường chứng khoán đang phát triển, nhiều nhà đầu tư đang có xu
hướng bỏ vốn mua cổ phần của các công ty. Hội đồng quản trị không làm tròn
trách nhiệm của mình, ban giám đốc thì lạm quyền, quyền lợi của các nhà đầu
tư không được bảo vệ, đặc biệt là các cổ đông nhỏ. Điều đó làm giảm khả
năng huy động vốn trên thị trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển
bền vững của nền kinh tế.
Nhằm tìm hiểu một cách có hệ thống, đầy đủ những quy định của pháp
luật Việt Nam, pháp luật quốc tế về Hội đồng quản trị, góp phần đưa ra các
khuyến nghị cần thiết để hoàn thiện pháp luật về Hội đồng quản trị ở Việt
Nam, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Pháp luật về Hội đồng quản trị của công ty cổ
phần và thực tiễn áp dụng tại công ty Hoá chất Việt Trì” làm Luận văn tốt
nghiệp cao học Luật.
2. Tình hình nghiên cứu
Hội đồng quản trị là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ
phần, một mắt xích quan trọng trong quản trị công ty. Vì thế, Hội đồng quản
trị đang được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập đến với tư cách là một
3

thiết chế, một khâu trong quản lý, điều hành của công ty cổ phần (corporate
governnance). Đầu tiên phải kể đến bài viết “The Modern Corporation and
Private Property” (Công ty theo kiểu hiện đại và tư nhân) xuất bản năm 1932
của Adolf A. Berle và Gardiner C. Mean, một tác phẩm được đánh giá là tạo
bước thay đổi quan trọng đối với mô hình công ty cổ phần. Hay cuốn “Separ

– BTC ngày 13/3/2007).
Phương pháp so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với pháp
luật quốc tế về Hội đồng quản trị; xem xét kế thừa những yếu tố hợp lý là nền
tảng cho sự đề xuất cải tổ Hội đồng quản trị.
5. Giới hạn nghiên cứu
Các số liệu phân tích và khung pháp luật về Hội đồng quản trị được
luận văn nghiên cứu được cập nhật và có giá trị tại thời điểm 20/8/2010.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về Hội đồng quản trị;
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về Hội đồng quản trị ở Việt Nam và
thực tiễn áp dụng tại Công ty Hoá chất Việt Trì;
Chƣơng 3: Một số khuyến nghị và giải pháp góp phần hoàn thiện
những quy định của pháp luật Việt Nam về Hội đồng quản trị. 5

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
1.1. Khái luận chung về Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần
1.1.1. Khái lược về công ty cổ phần
Công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới ra đời vào khoảng thế kỷ XVIII
nhưng đến đầu thế kỷ XIX vẫn còn rất hiếm. Khi quá trình tập trung tư bản đã
phát triển ở mức độ cao và nhất là sau khi có sự bùng nổ của các cuộc cách
mạng công nghiệp đã trực tiếp dẫn đến sự hình thành các công ty cổ phần.
Cho đến giữa thế kỷ XIX, công ty cổ phần đã phát triển mạnh mẽ và rộng
khắp trên các nước tư bản nhờ sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí và
sự phát triển rộng rãi của chế độ tín dụng. Từ góc độ pháp lý, có thể khái quát

đơn. Đại hội đồng cổ đông sẽ bầu chọn các thành viên của Hội đồng giám đốc
(thường có từ ba đến hai chục thành viên). Mọi quyền lực và các vấn đề của
công ty được pháp luật đặt vào tay Hội đồng giám đốc, trừ những vấn đề
thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông. Tiếp đó, Hội đồng giám đốc lại bổ
nhiệm các thành viên của mình hoặc người khác điều hành hoạt động kinh
doanh hàng ngày của công ty. Sự phân chia quyền lực này khác với việc phân
chia quyền lực trong các công ty cổ phần của các nước châu Âu lục địa,
Trung Quốc và Việt Nam. Vì thế, Hội đồng giám đốc trong công ty Anh - Mỹ
có nhiều quyền lực hơn các đồng nghiệp của họ trong Hội đồng quản trị công
ty của các nước châu Âu lục địa, Trung Quốc, Việt Nam.
7

Mô hình hai cấp có nguồn gốc từ nước Đức, xứ sở của dòng họ luật
German civil law. Cấu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần theo luật Đức
gồm có: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng giám sát (Aufsichtsrat), và Ban quản
trị. Việc quản lý - điều hành công ty cổ phần được phân chia cho hai cơ quan
là Hội đồng giám sát và Ban quản trị, như một thiết chế hai tầng, mà ở đó,
Hội đồng giám sát nằm ở tầng trên. Vì thế, giới luật học trên thế giới gọi đây
là cấu trúc hội đồng kép hay hội đồng hai tầng. Và trong mô hình hai cấp, Đại
hội đồng cổ đông, thậm chí cả người lao động, sẽ bầu chọn Hội đồng giám
sát. Hội đồng giám sát có quyền bầu Ban quản trị, giám sát hoạt động của Ban
quản trị. Ban quản trị thực hiện chức năng điều hành hoạt động kinh doanh
hàng ngày của công ty.
Theo luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005, thì cấu trúc quản trị nội
bộ của công ty cổ phần ở Việt Nam, xét một cách toàn diện, không phải là
cấu trúc đơn theo mô hình luật công ty Anh - Mỹ, cũng chẳng phải là cấu trúc
hai cấp như mô hình của luật Đức. Nó có vẻ là cấu trúc pha trộn giữa hai mô
hình nói trên, đặc biệt có rất nhiều điểm tương đồng với mô hình theo luật
công ty năm 2005 của Trung Quốc. Cấu trúc nội bộ của công ty cổ phần ở
Việt Nam cũng gồm có các cơ quan: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị,

đi đúng hướng hay không, vốn của nhà đầu tư có được sử dụng một cách hiệu
quả không. Hình ảnh này được ví như một chiếc xe chở khách. Khách đi trên
xe (tương tự như các cổ đông trong công ty) ai cũng muốn đến nơi (cùng
muốn có lãi) nhưng không biết đi đường nào, lại cũng không biết lái xe, do đó
họ bèn lựa một người làm đại diện chỉ đường (HĐQT). Người này đóng vai
trò “cai “ xe, sẽ đi tìm thuê một anh lái xe (ban giám đốc), thương lượng, trả
9

một số tiền để anh ta lái chiếc xe (công ty) chạy theo bản đồ về hướng mà
người cai xe được khách ủy nhiệm đã vạch ra.
1.1.2.1. Hội đồng quản trị với Đại hội đồng cổ đông
Cổ đông của công ty là những người góp vốn/người sở hữu cổ phần
trong công ty cổ phần. Như trên đã đề cập, công ty cổ phần có số lượng cổ
đông rất lớn, có cổ đông là cá nhân và cũng có cổ đông là tổ chức. Nhưng chỉ
có các cổ đông có quyền biểu quyết mới được tham gia Đại hội đồng cổ đông.
Đại hội đồng cổ đông/tập hợp các cổ đông (chủ sở hữu công ty) là cơ quan có
quyết định cao nhất của công ty cổ phần [34, tr.64]. Một trong những quyền
đó là lựa chọn những người có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt để quản lý,
lèo lái công ty - Hội đồng quản trị.
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, do Đại hội đồng cổ đông
bầu ra, người đại diện cho quyền lợi của các cổ đông/người góp vốn. Hội
đồng quản trị phải chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước các cổ
đông/Đại hội đồng cổ đông và trước công ty. Hội đồng quản trị được thực
hiện tất cả các quyền, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng
cổ đông.
1.1.2.2. Hội đồng quản trị với Ban giám đốc
Tập tục của các nước trên thế giới, Tổng giám đốc (CEO) đều do Hội
đồng quản trị lựa chọn. Trong công ty của Hoa Kỳ, CEO thông thường là
thành viên Hội đồng quản trị; nhưng theo luật của Pháp thì CEO không nhất
thiết là thành viên Hội đồng quản trị. Cũng giống như luật công ty của Pháp,

giám sát Ban quản trị. Còn trong cấu trúc hội đồng một tầng lại không có bộ
phận kiểm soát độc lập. Ngoài việc bổ nhiệm Tổng giám đốc, Hội đồng giám
11

đốc trực tiếp giám sát hoạt động của Tổng giám đốc. Tuy nhiên, trong các
công ty lớn, đặc biệt là các công ty niêm yết, xu hướng đa số thành viên Hội
đồng giám đốc là thành viên độc lập không điều hành đang thắng thế. Các
thành viên độc lập không điều hành sẽ đảm nhiệm chức năng xem xét, đánh
giá một cách độc lập về các quyết sách quản trị của Hội đồng giám đốc và
giám sát hoạt động của bộ phận điều hành.
Luật doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam lại quy định Ban kiểm soát
là một thiết chế độc lập so với Hội đồng quản trị, do Đại hội đồng cổ đông
bầu, từ ba đến năm người, nhiệm kỳ không quá 5 năm. Thành viên Hội đồng
quản trị không thể là thành viên Ban kiểm soát. Bởi nhiệm vụ của Ban kiểm
soát là kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị nên cần có sự độc
lập giữa hai thiết chế này. Nếu Hội đồng quản trị có quyền giám sát hoạt động
của Tổng giám đốc/Giám đốc thì Ban kiểm soát lại giám sát Hội đồng quản
trị, kiểm tra tính hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý
của Hội đồng quản trị [32, điều 123]. Sự phân chia quyền lực như trên phần
nào hạn chế sự lạm quyền, vụ lợi của Hội đồng quản trị, bảo vệ lợi ích nhà
đầu tư,
So với mô hình cơ quan giám sát của cả hai cấu trúc quản trị phổ biến
trên thế giới như đã nói ở trên, thì mô hình Ban kiểm soát độc lập từ Hội đồng
quản trị và do Đại hội đồng cổ đông bầu trong các công ty cổ phần ở Việt
Nam là cấu trúc khá độc đáo và hiệu quả, nếu Ban kiểm soát làm việc thực sự
như được thiết kế trong luật [20].
1.1.3. Mô hình và cơ chế hoạt động của Hội đồng quản trị
Cấu trúc Hội đồng quản trị của các công ty trên thế giới theo truyền
thống được chia làm bốn loại [2, 279]. Ở Anh và Mỹ, người ta dùng một hội
đồng duy nhất hay cấu trúc đơn. Đó là một hội đồng bao gồm những thành

ngành nghề kinh doanh của chính doanh nghiệp. Do vậy, các định hướng họ đưa
ra thường là phù hợp và thành viên hội đồng quản trị có thể đưa ra các quyết
nhanh chóng. (ii) Thu nhập của thành viên Hội đồng quản trị gắn liền với sự
thành bại của doanh nghiệp, đó chính là động lực khiến các thành viên hội đồng
quản trị làm việc hết mình, gắn bó lâu dài vì sự phát triển của doanh nghiệp.
Nhược điểm của cơ cấu Hội đồng quản trị phần lớn thành viên tham gia
điều hành là: (i) Thành viên Hội đồng quản trị có thể chú trọng công việc liên
quan đến lĩnh vực kinh doanh mà người đó đảm nhiệm, từ đó có thể làm giới
hạn quan điểm chiến lược của Hội đồng quản trị. (ii) Hội đồng khó có thể
hoạt động một cách chuyên nghiệp vì các thành viên phải mất quá nhiều thời
gian tham gia vào công tác điều hành của doanh nghiệp [19, tr. 61].
1.1.3.3. Hội đồng quản trị có đa số thành viên không kiêm nhiệm
Khi doanh nghiệp phát triển đến một mức độ nhất định có thể thống trị
trong ngành, lĩnh vực kinh doanh, để có những bước tăng trưởng mới, một số
doanh nghiệp có thể niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc kêu gọi từ các
nhà đầu tư quan trọng. Trong trường hợp này, doanh nghiệp cần có thêm các
thành viên Hội đồng quản trị không kiêm nhiệm. Tập tục của các công ty lớn
và hàng đầu ở Anh và Mỹ là có các hội đồng loại này. Trong các công ty đó,
thành phần không kiêm nhiệm vượt trội thành phần kiêm nhiệm. Mô hình
quản trị công ty cổ phần theo cấu trúc hội đồng đơn kiểu Anh - Mỹ không có
một cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát những người quản lý - điều
hành công ty như mô hình của Việt Nam hay Trung Quốc. Hội đồng quản trị
không làm đúng vai trò của mình, dễ dàng thông đồng với CEO che giấu
những giao dịch với các bên liên quan hoặc làm các nhà đầu tư hiểu sai về giá
trị của công ty, gây rủi ro cho các nhà đầu tư. Đặc biệt, ở Mỹ trước khi xuất
hiện những khó khăn nhấn chìm Enron và nhiều công ty cổ phần khác, việc
14

quản trị công ty cổ phần đã chú ý đến việc sử dụng các thành viên Hội đồng
quản trị độc lập để kiềm chế quyền lực của Ban giám đốc, đồng thời bảo vệ

+ Yêu cầu các công ty trong danh sách chấp nhận thực hiện cũng như
cáo bạch một bộ quy tắc về hành vi đạo đức kinh doanh áp dụng cho các
thành viên HĐQT, các quan chức và nhân viên của công ty, và nhanh chóng
cáo bạch mọi trường hợp khước từ bộ quy tắc này đối với các thành viên
HĐQT hay các quan chức điều hành.
Yêu cầu phải có các thành viên Hội đồng quản trị độc lập nảy sinh là vì
khả năng xung đột lợi ích giữa những người cung cấp vốn, tức là cổ đông, và
ban giám đốc. Do những người điều hành công ty thường không nắm giữ vốn
góp đáng kể trong công ty, có nguy cơ họ dành ưu tiên cho các quyền lợi
riêng của họ hơn là quyền lợi của cổ đông. Vì thế, một trong những vai trò
của thành viên Hội đồng quản trị độc lập là giám sát Ban giám đốc.
1.1.3.4. Hội đồng quản trị hai tầng
Các công ty gọi vốn công chúng ở Đức thường có loại hình này [2, tr.
280]. Hội đồng gồm hai phần, ở trên được gọi là Hội đồng giám sát; ở dưới là
Ban quản trị (Hội đồng chấp hành), Hội đồng này đề bạt giám đốc. Hội đồng
ở trên yêu cầu Hội đồng dưới đệ trình các kế hoạch và đề nghị để xem xét,
chấp thuận, sau đó kiểm tra lại và đánh giá kết quả thực hiện. Hà Lan và Pháp
cũng áp dụng mô hình này.
Hội đồng hai tầng được thiết lập vì người Đức cho rằng các tổ chức lớn
phải có một mối tương quan bền chặt giữa vốn và lao động. Trong ủy ban
giám sát, số thành viên đại diện cho cổ đông và cho người lao động ngang
16

nhau. Việc kiêm nhiệm trong hội đồng hai tầng không được chấp nhận.
Quyền lực của Hội đồng giám sát nằm ở chỗ họ được bổ nhiệm và bãi nhiệm
thành viên của hội đồng chấp hành. Ưu điểm của mô hình hội đồng hai tầng
là: (i) Hội đồng giám sát có thể là các chuyên gia đầu ngành ở các lĩnh vực
khác nhau tham gia ủng hộ doanh nghiệp để đổi mới doanh nghiệp. (ii) Doanh
nghiệp có nhiều cơ hội thu nhận được các đóng góp của nhóm người giàu
kinh nghiệm cho chiến lược phát triển và sự tăng trưởng của doanh nghiệp. 1.1.4. Phong cách làm việc của Hội đồng quản trị
Phong cách của một Hội đồng quản trị phụ thuộc nhiều vào cách làm
việc của Chủ tịch hội đồng. Thông thường phong cách của Hội đồng quản trị
có bốn loại [2, tr.285]:
- Gật đầu phê chuẩn: thành viên trong Hội đồng quản trị loại này
không quan tâm nhiều đến công việc của hội đồng hay sự giao tiếp giữa các
thành viên với nhau. Điển hình của loại hội đồng này là Hội đồng quản trị của
những công ty không có gì ngoài một địa chỉ liên lạc có đăng kí tại các nước
có chế độ thuế rất thấp mà người ta gọi là “thiên đàng của thuế”. Các buổi
Hình 1.1: Mô hình Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần
Nguồn: [2, tr.283]

18

họp của hội đồng hoàn toàn mang tính hình thức. Thực sự họ làm biên bản mà
không cần họp. Hội đồng của một số công ty chưa phát hành chứng khoán coi
buổi họp của hội đồng chỉ là thủ tục, có thể vì một người thống trị và quyết
định tất cả, hoặc có thể vì các thành viên đã gặp nhau trong các cuộc họp của
ban giám đốc rồi.
- Câu lạc bộ: Hội đồng loại này quan tâm chủ yếu đến sự giao tiếp giữa
các thành viên với nhau; còn công việc đứng hàng thứ hai. Hội đồng của các
công ty đã có từ lâu và từng thành công trong quá khứ là điển hình cho loại
này. Mỗi lần họp có nhiều lễ nghi, phòng họp trang hoàng lộng lẫy với nhiều
hình ảnh của các vị cựu chủ tịch. Ở hội đồng này, truyền thống được tôn
trọng, sáng kiến không được khuyến khích.
- Hội đồng có tính cơ cấu: Hội đồng loại này quan tâm đến công việc


Hình 1.2: Mô hình Tricker
Vai trò phục tùng/tuân thủ Vai trò hoạt động Trách nhiệm Chiến lược
Giám sát và hỗ trợ Chính sách Hướng tới hiện tại và Hướng tới tương lai
qúa khứ
Tác động
bên ngoài

Tác động
bên trong
Làm việc với/thông qua
Giám đốc/Tổng giám đốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status