đại học quốc gia hà nội
khoa luật
hoàng thị nga
pháp luật về thu hồi đất, bồi th-ờng,
giải phóng mặt bằng ở việt nam hiện nay:
thực trạng và giải pháp
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
tóm tắt luận văn thạc sĩ luật học
hà nội - 2010
Công trình đ-ợc hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Quang Tuyến
Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ
TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
6
1.1.
Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất
6
1.1.1.
Đường lối, chính sách của Đảng về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất
6
1.1.2.
Cơ sở lý luận của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất
10
1.2.
Khái niệm và vai trò của bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trước hết là nhằm bảo
đảm lợi ích công cộng
23
1.2.4.2.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm bảo đảm giải
quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người bị
thu hồi đất
24
1.2.4.3.
Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư góp phần vào việc duy trì ổn
định chính trị, trật tự an toàn xã hội
25
1.3.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
25
1.3.1.
Giai đoạn trước khi ban hành Luật Đất đai năm 1993
25
1.3.2.
Giai đoạn sau khi ban hành Luật Đất đai năm 1993 đến trước
khi ban hành Luật Đất đai năm 2003
27
1.3.3.
Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay
29
1.4.
Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất ở Trung Quốc - những gợi mở đối với Việt Nam
31
2.1.1.1.
Quy định về phạm vi và đối tượng được bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
38
2.1.1.2.
Quy định về nguyên tắc chi trả bồi thường
41
2.1.2.
Những quy định về bồi thường về đất
41
2.1.2.1.
Quy định về nguyên tắc bồi thường về đất
41
2.1.2.2.
Quy định về điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
42
2.1.2.3.
Quy định về xác định giá đất tính bồi thường
47
2.1.2.4.
Quy định về bồi thường khi thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân
54
2.1.2.5.
Quy định về bồi thường khi thu hồi đất của tổ chức
60
2.1.3.
Những quy định về bồi thường, hỗ trợ về tài sản
61
2.1.3.1.
Quy định về nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ về tài sản
75
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
79
3.1.
Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
79
3.2.
Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất hoàn
81
3.3.
Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
87
3.3.1.
Sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn thông báo quyết định
thu hồi đất
87
3.3.2.
Sửa đổi, bổ sung quy định về thu hồi đất và quản lý quỹ đất
đã thu hồi
88
3.3.3.
Sửa đổi, bổ sung quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư cho người có đất bị thu hồi
90
b¶ng
Tªn b¶ng
Trang
1.1
Sự khác nhau về bản chất giữa bồi thường và hỗ trợ
21
2.1
Bảng so sánh thời gian hưởng hỗ trợ ổn định đời sống và
ổn định sản xuất giữa Nghị định số 69/2009/NĐ-CP và
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP
69 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Với một nước nông nghiệp có khoảng 70% dân số là nông dân như
Việt Nam thì đất đai luôn là vấn đề rất nhạy cảm và nhận được sự quan tâm
đặc biệt của toàn xã hội. Đặc biệt khi đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý đất đai mới bằng việc xác định hộ
gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông - lâm nghiệp; tiến hành
giao đất, cho thuê đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Chính
sự thay đổi cơ chế quản lý này đã trả lại cho đất đai những giá trị vốn có của
nó: Đất đai ngày càng trở nên có giá và được đem trao đổi trên thị trường;
dùng làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng thế chấp vay vốn với ngân
hàng, tổ chức tín dụng; được đem góp vốn liên doanh trong sản xuất - kinh
doanh. Người dân ngày càng nhận thức sâu sắc được giá trị to lớn của đất đai.
Số lượng các khiếu kiện, tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng v.v
Với việc đất đai ngày càng có giá thì vấn đề thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Xác lập định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện
pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về phát triển
kinh tế trong lĩnh vực đất đai nói chung và về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng;
3
- Các quy phạm pháp luật thực định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất;
- Các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất của Trung Quốc;
- Các báo cáo, tổng kết tình hình thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
b. Phạm vi nghiên cứu
Do tính chất phức tạp và rộng lớn của đề tài, luận văn giới hạn phạm
vi nghiên cứu ở việc đi sâu phân tích, tìm hiểu các quy định về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được ban hành từ năm 1987 (năm
ban hành Luật Đất đai lần đầu tiên) đến nay;
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học
Mác - Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa;
Quân: Bàn về giá đất khi bồi thường - Nên cao hay thấp? Tạp chí Tài nguyên
và Môi trường, số 8, 2005; Dự án khu đô thị Nam Thăng Long (CIPUTRA):
Từ những bất thường trong đền bù, giải phóng mặt bằng, của nhóm phóng
viên thời sự Báo Pháp luật Việt Nam, số 285, ngày 29/11/2005; Hoàng Lộc:
Nông dân góp vốn bằng …đất - Giải pháp đột phá trong đền bù giải tỏa, Thời
báo Kinh tế Việt Nam, số 253, ngày 21/12/2005 v.v Các công trình này chủ
yếu đi sâu nghiên cứu về vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa
tìm hiểu một cách thấu đáo khía cạnh hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi
5
đất. Tiếp tục kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình trên đây,
luận văn đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện về bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất dưới góc độ của pháp luật đất đai;
Nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp mới về mặt khoa
học trên những khía cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc xây dựng các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất;
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; trên cơ sở đó chỉ ra tồn tại, bất cập
và nguyên nhân của những hạn chế này trong các quy định hiện hành;
Thứ ba, đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn
thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất.
Chương 2: Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất ở Việt Nam.
Đảng ta vẫn luôn luôn coi trọng và bảo vệ quyền lợi về đất đai cho mọi người
7
dân nói chung và người nông dân nói riêng. Quan điểm này được thực hiện
một cách nhất quán khi cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới: Giai
đoạn phát triển kinh tế, kiến thiết đất nước. Ngày 13/01/1981, Ban Bí thư
Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100/CT-TƯ về "Cải tiến công tác khoán, mở
rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông
nghiệp" với nội dung quan trọng là tổ chức tốt việc giao diện tích ruộng đất
cho đội sản xuất, cho nhóm người lao động; khi diện tích giao khoán cho
người lao động được phân bố hợp lý thì có thể ổn định trong vài năm để xã
viên yên tâm thâm canh trên diện tích đó. Chính sách khoán và giao đất sử
dụng ổn định đã từng bước đưa người lao động gắn bó chặt chẽ, lâu dài với
đất đai và bước đầu động viên nông dân hăng hái lao động, sản xuất; đồng
thời là "bước đầu quá trình xác lập địa vị làm chủ ruộng đất thực sự của người
lao động" [66, tr. 53].
Tiếp đó, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội toàn quốc
lần thứ VI của Đảng năm 1986 khởi xướng đã làm thay đổi căn bản về nội
dung chính sách, pháp luật đất đai: đất đai từ chỗ do tập thể các hợp tác xã,
các đơn vị, tổ chức của Nhà nước quản lý đã từng bước được giao cho hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Sự thay đổi tư duy của Đảng trong
lĩnh vực đất đai được đánh dấu bằng sự kiện: Ngày 05/04/1988, Bộ Chính trị
đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp, trong đó khẳng định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản
xuất nông nghiệp và giao khoán ruộng đất ổn định, lâu dài cho hộ nông dân.
Tiến trình đổi mới tư duy này được tiếp tục ghi nhận trong các văn kiện Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 và các Hội nghị Trung ương tiếp
theo, đặc biệt là Hội nghị Trung ương lần thứ 2 (khóa VII, tháng 12/1991) và
Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII, tháng 6/1992) đã khẳng định thực
hiện nhất quán chủ trương: "Ruộng đất được giao cho nông dân sử dụng lâu
pháp hỗ trợ khác để giải quyết một cách cơ bản việc làm và thu nhập cho
người nông dân có đất bị thu hồi để sử dụng vào mục đích công cộng, phát
triển kinh tế - xã hội;
9
- Khi Nhà nước thu hồi đất của cá nhân hoặc tổ chức đang sử dụng
hợp pháp để phục vụ các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi
ích công cộng và phát triển sản xuất - kinh doanh, Nhà nước thực hiện chế độ
bồi thường, tái định cư, đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm. Nhà nước thu hồi
không bồi thường đối với đất lấn chiếm, đất sử dụng không hiệu quả, không
đúng mục đích;
- Chính phủ quy định khung giá đất cho từng địa bàn, trong từng thời
gian (có điều chỉnh theo tình hình thực tế) và nguyên tắc, phương pháp xác
định giá đất. Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
quy định giá cụ thể làm căn cứ bồi thường khi thu hồi đất;
- Phải lập và xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất đối với
những dự án thu hồi đất đang sử dụng; đồng thời chú trọng đào tạo để chuyển
đổi nghề cho lao động tái định cư. Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đào
tạo việc làm theo nguyên tắc "bảo đảm cho người bị thu hồi đất đến chỗ ở
mới có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ";
- Nhà nước có quy hoạch tổng thể về SDĐ trên địa bàn cả nước tạo
điều kiện cho các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch triển khai đồng bộ việc
bồi thường, tái định cư và hỗ trợ tạo việc làm khi thu hồi đất;
- Phải chú ý phân chia hợp lý phần giá trị tăng thêm do việc quy hoạch
và xây dựng cơ sở hạ tầng mang lại; đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước,
lợi ích của người đang SDĐ hợp pháp bị thu hồi và lợi ích của Nhà đầu tư,
trong đó phải chú trọng lợi ích của Nhà nước. Chính sách điều tiết này được
tiếp tục khẳng định tại Hội nghị Trung ương lần thứ 9 (khóa IX): "Thực hiện
chính sách điều tiết để đảm bảo lợi ích của Nhà nước với tư cách là người đại
diện chủ sở hữu và là Nhà đầu tư lớn nhất phát triển hạ tầng, làm tăng giá trị
đều phải được bồi thường theo giá thị trường;
Thứ hai, xét về bản chất, Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao
động thiết lập lên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân.
11
Nhà nước theo đuổi sứ mạng cao cả và mang đầy tính nhân văn là phục vụ và
chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh của người dân. Đặt trong bối cảnh đó, thì
khi Nhà nước thu hồi đất của người dân để sử dụng vào bất kể mục đích gì
(cho dù là sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng và phát triển kinh tế) mà làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp
pháp của họ thì Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa vụ phải bồi thường;
Thứ ba, xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người SDĐ
là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Hơn
nữa, trong điều kiện nhà nước và pháp quyền, mọi chủ thể trong xã hội bao gồm
Nhà nước, công dân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội v.v đều bình
đẳng với nhau trước pháp luật. Nước ta đang từng bước xây dựng một xã hội dân
sự văn minh và hiện đại nơi mà ở đó quyền lợi hợp pháp của mọi thành viên
trong xã hội phải được luật pháp tôn trọng và bảo vệ. Với cách tiếp cận như vậy,
khi Nhà nước thu hồi đất mà làm phương hại đến lợi ích hợp pháp của người
SDĐ thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ;
Thứ tư, Nhà nước ta đã và đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn
minh" trong điều kiện chịu rất nhiều thách thức do quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế đem lại. Để tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức của xu thế toàn cầu
hóa về kinh tế, chúng ta phải biết phát huy nội lực, tinh thần đoàn kết toàn
dân tộc và khơi dậy lòng yêu nước, tính năng động, sáng tạo của mỗi người
dân đóng góp vào sự nghiệp chấn hưng đất nước. Điều này chỉ có thể thực
hiện được khi Nhà nước biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng
của người dân. Đây cũng là một lý do dẫn đến việc ra đời chế định bồi thường
Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận xét: "Chế
độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ, Quyền
lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi
và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước" [74].
Như vậy, bằng việc pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền của người
SDĐ thì dường như người SDĐ ở nước ta là người "sở hữu" một loại quyền
13
về tài sản đó là "quyền sử dụng đất". Bởi lẽ, người SDĐ được pháp luật trao
cho các quyền năng liên quan đến quyền SDĐ: quyền chuyển nhượng, chuyển
đổi, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế quyền SDĐ; quyền thế chấp, bảo
lãnh, góp vốn bằng quyền SDĐ. Như vậy, một khi pháp luật đã thừa nhận
quyền SDĐ là một loại quyền về tài sản của người SDĐ, thì khi Nhà nước thu
hồi đất (có nghĩa là người SDĐ bị mất quyền SDĐ do hành vi thu hồi đất của
Nhà nước gây ra), Nhà nước phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho người SDĐ;
1.2. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH
CƢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
1.2.1. Khái niệm bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất
1.2.1.1. Định nghĩa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Trong đời sống hàng ngày, bồi thường là một thuật ngữ được sử dụng
trong trường hợp một người có hành vi gây thiệt hại cho người khác và họ
phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình
gây ra. Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: "Bồi thường: đền bù những tổn
hại đã gây ra" [77, tr. 79].
Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một
chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội. Trách nhiệm
này được rất nhiều các ngành luật đề cập như trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng trong lĩnh vực pháp luật dân sự; trách nhiệm bồi thường oan,
sai do hành vi của các cơ quan tố tụng gây ra trong lĩnh vực pháp luật hình sự;
trách nhiệm vật chất do hành vi của người lao động gây ra trong lĩnh vực pháp
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu
nại về đất đai.
Vậy hiểu như thế nào là bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất? Theo
quan niệm của Luật đất đai năm 2003: "Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu
hồi cho người bị thu hồi đất" (khoản 6 Điều 4).
Bồi thường trong lĩnh vực đất đai mang một số đặc trưng cơ bản sau đây:
15
- Vấn đề bồi thường chỉ đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất của người
SDĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng;
- Việc bồi thường cho người SDĐ không do lỗi của Nhà nước gây ra
mà xuất phát từ nhu cầu của xã hội, của cộng đồng;
- Việc bồi thường về đất thực hiện không căn cứ vào giá chuyển
nhượng quyền SDĐ thực tế trên thị trường (trao đổi ngang giá) mà dựa vào
khung giá do Nhà nước quy định tại thời điểm thu hồi đất;
Để hiểu rõ hơn bản chất của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, chúng
ta hãy phân biệt nó với các loại bồi thường trong các lĩnh vực pháp luật khác.
1.2.1.2. Phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với một
số trách nhiệm pháp lý về bồi thường trong các lĩnh vực pháp luật khác
(i) Phân biệt giữa bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất với
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự
Nghiên cứu, so sánh về bản chất của bồi thường thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân
sự có thể thấy giữa hai loại trách nhiệm bồi thường này có sự khác nhau ở
một số khía cạnh cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể bồi thường. Bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất là trách nhiệm của Nhà nước. Ở đây Nhà nước vừa là một tổ chức chính
trị, quyền lực vừa là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thực hiện
triển kinh tế. Vì vậy, trong nhiều trường hợp việc Nhà nước bồi thường cho
người bị thu hồi đất chưa hẳn đã phải do lỗi của mình gây ra mà ở đây Nhà
nước thực hiện nghĩa vụ bồi thường của xã hội đối với người SDĐ. Để thực
hiện trách nhiệm xã hội, Nhà nước không chỉ bồi thường về đất, thiệt hại về
tài sản trên đất mà còn thực hiện việc hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ di
17
chuyển chỗ ở; giải quyết vấn đề tái định cư; đào tạo chuyển đổi nghề, bố trí
việc làm mới cho người SDĐ;
Trong khi đó, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được đặt ra khi
người có trách nhiệm bồi thường có hành vi gây thiệt hại cho người khác.
Việc bồi thường trong trường hợp này được thực hiện dựa trên yếu tố lỗi và
thiệt hại thực tế xảy ra. Hơn nữa, người có trách nhiệm bồi thường chỉ chịu
trách nhiệm cá nhân đối với người bị thiệt hại. Điều này có nghĩa là họ chỉ
có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do lỗi của mình gây ra mà thôi;
Thứ năm, về tính chất bồi thường. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng chỉ thuần túy mang tính chất dân sự giữa cá nhân hoặc tổ chức với nhau.
Trong khi đó, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất lại hàm chứa cả tính chất
hành chính và tính chất dân sự: Tính chất hành chính của bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất thể hiện ở việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra một
quyết định hành chính (quyết định thu hồi đất) làm chấm dứt quyền SDĐ của
người sử dụng đối với một diện tích đất nhất định. Tính chất dân sự của loại
bồi thường này thể hiện các thiệt hại thực tế của người SDĐ về tài sản gắn
liền với phần đất bị thu hồi được Nhà nước bồi thường toàn bộ.
(ii) Phân biệt giữa bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất với
bồi thường oan sai trong pháp luật hình sự
Nghiên cứu, tìm hiểu về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi
thường oan sai trong pháp luật hình sự cho thấy giữa chúng cũng có những sự
khác nhau cơ bản như sau:
Thứ nhất, về nguyên nhân của việc bồi thường. Bồi thường khi Nhà
trong pháp luật hình sự chỉ xem xét bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh
thần do hành vi của chủ thể có trách nhiệm bồi thường gây ra cho người bị
oan sai;