Đặc điểm của hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam - Pdf 28

Đề tài: Đặc điểm của hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
LỜI NÓI ĐẦU
Hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam được thể hiện rõ nét qua
nhiều thời kỳ. Mỗi thời kỳ lại có những đặc điểm về hình phạt khác nhau, được
thể hiện từ thời Ngô – Đinh - Tiền Lê cho đến thời kỳ nhà Nguyễn. Những hình
phạt phong kiến đều được sử cũ ghi lại rất cụ thể. Điển hình, như ở thời Lê sơ thì
các hình phạt được quy định rõ trong bộ Quốc triều hình luật (QTHL)- dân gian
quen gọi là bộ luật Hồng Đức, bộ luật tiêu biểu cho pháp luật phong kiến Việt
Nam. Ngoài ra còn có bộ, Hoàng Việt luật lệ (HVLL) của nhà Nguyễn cũng đều
quy định rõ nét những hình phạt dã man tàn bạo và thể hịên được tính phổ biến
của hình phạt trong pháp luật phong kiến. Sau đây là những phân tích của em về
đề tài: “ Đặc điểm của hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam”. Trong
quá trình làm bài còn nhiều thiếu sót, em mong các thầy cô giáo góp ý và sửa
chữa giúp em, để bài làm được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn !
PHẦN NỘI DUNG
Đặc điểm về các hình phạt trong pháp luật phong kiến được thể hiện qua
bốn phương diện sau :
1. Hình phạt dã man tàn bạo.
Hình phạt dã man tàn bạo được thể hiện ngay từ thời kì Ngô – Đinh – Tiền
lê cho đến thời nhà Lê, thì những hình phạt này được thể hiện rõ nét hơn trong
bộ Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức), đến thời Nguyễn thì các hình phạt
được sử cũ ghi lại trong Hoàng việt luật lệ (Luật Gia Long). Các hình phạt trong
các bộ luật này đều mang tính hà khắc, nhiều hình phạt mang tính dã man, tàn
bạo như thích chữ, chém bêu đầu, lăng trì. Điển hình đó là hệ thống hình phạt
1
Đề tài: Đặc điểm của hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
ngũ hình và các hình phạt khác ngoài ngũ hình nhưng hình phạt thuộc về ngũ
hình gĩư vai trò chủ đạo. Các hình phạt thuộc về ngũ hình bao gồm:
Thư nhất là xuy (phạt roi) là hình phạt đánh bằng roi mây nhỏ vào mông
người bị trừng phạt làm cho họ thấy xấu hổ, nhục nhã để tự sửa lỗi lầm của
mình. Hình phạt này là nhẹ nhất trong hệ thống hình phạt. Chúng được chia làm

trên. Còn đối với HVLL thì Đồ (làm việc nặng nhọc)là hình phạt được áp dụng
đối với người phạm tội hơi nặng. Người phạm tội bị gửi về quản thúc tại trấn nơi
họ ở, đồng thời người bị áp dụng hình phạt này phải làm những công việc nặng
nhọc với thời hạn từ 1 năm đến 3 năm. Đồ được chia làm 5 bậc, mỗi bậc là 10
trượng và đồ là nửa năm. Đồng thời, tuỳ theo thời hạn bị áp dụng là ngắn hay dài
mà mỗi bậc lại áp dụng thêm một phụ hình với mức phạt 60 trượng đến 100
trượng. Việc áp dụng hình phạt này được coi là một sự tiến bộ hơn hẳn so với
hình phạt khổ sai (5 bậc). Các phạm nhân không bị giam giữ tại trạm giam sau
khi làm việc, do đó tránh được họ cảnh lao tù và giúp họ có điều kiện để hoàn
lương vì họ vẫn được tiếp xúc với xã hội.
Thứ tư là lưu (đi đầy) là hình phạt đày đi nơi xa. Loại hình phạt này đứng
hàng thứ tư trong thang hình phạt cổ. Trong QTHL thì lưu được quy định áp
dụng kèm theo xuy, trượng, thích chữ hoặc đeo xiềng. Lưu có ba bậc là Châu
gần, Châu ngoài, Châu xa, tuỳ theo tội mà tăng giảm. Như ở bậc Châu xa thì
đánh 100 trượng, thích vào mặt 10 chữ, bắt đeo xiềng 3 vòng, đày đi làm việc
Cao Bằng. Còn trong HVLL hình phạt lưu được chép đúng như luật nhà thanh và
chia làm ba bậc, phạm nhân phải đày đi nơi xa 2000 dặm, 2500 dặm, hoặc 3000
dặm là những khoảng cách giữa nơi sinh sống và nơi phạm tội phải chấp hành
hình phạt. Ví dụ như nếu tỉnh của phạm nhân cư trú là Quảng Nam mà bị phạt
lưu 2000 dặm thì nơi mà người phạm tội phải đi đầy là Biên Hoà. Các phạm
nhân được tự do làm việc tuy nhiên người dân xưa thường khiếp sợ hình phạt
3
Đề tài: Đặc điểm của hình phạt trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
này vì đối với họ phải sống xa quê là một cực hình và nhiều trường hợp người đi
đày không trở về quê hương được nữa .
Thứ năm là Tử (tội chết) là hình phạt được quy định áp dụng độc lập và
được chia làm 3 bậc tuỳ theo mức nặng nhẹ là: Bậc thứ nhất là thắt cổ (giảo),
chém (trảm); bậc thứ hai là Chém bêu đầu (trảm kiều); bậc thứ ba là Lăng trì (róc
thịt cho chết dần). Như vậy, theo Quốc triều hình luật thì chỉ có tử là hình phạt
có khả năng được áp dụng độc lập. Còn theo HVLL thì tử là hình phạt nghiêm

không được đòi chuộc lại (chiếu 6/1135 và chiếu 3/1292), người nào cố tình đòi
chuộc phạt 80 trượng. Trong QTHL thời Lê quy định tại chương điền sản (từ
điều 342 đến điều 400), ví dụ như điều 397: Hướng dẫn cách chia hương hảo
một trường hợp cụ thể, hay tại điều 356 quy định: “Những người tá điền cày nhờ
ruộng ở nhà người khác mà trở mặt thì phạt 60 trượng, biếm 2 tư...”
Trong hôn nhân và gia đình: Cả QTHL và HVLL đều quy định tội bất hiếu
là một trong 10 trọng tội và được xếp vào nhóm tội thập ác. Ví dụ như điều 475,
QTHL quy định: “Lăng mạ ông bà cha mẹ thì xử tội lưu châu ngoài, đánh thì xử
tội lưu đi châu xa, đánh bị thương thì xử tội giảo, vì lầm lỡ mà làm chết người thì
xử tội lưu châu ngoài, bị thương thì xử tội đồ, làm chủng điền binh”. Các quan hệ
khác như: Vợ - chồng, vợ cả và vợ lẽ, anh chị em...nếu làm trái điều quy định thì
càng bị xử lý bằng hình phạt.
Trong hình sự, tại điều 428, QTHL quy định về tội ăn cướp rồi lại hiếp dâm
“Ăn cướp mà lại hiếp dâm thì sử tội chém bêu đầu, ăn trộm mà lại hiếp dâm thì
xử tội chém..."; điều 235, HVLL quy định về tội cướp giật mạnh “Phàm cướp
giật mạnh nhưng không lấy được tiền thì phạt 100 trượng, lưu 300 dặm”. Nhìn
chung, tính phong kiến còn thể hiện ở chỗ pháp luật phong kiến có xu hướng mở
rộng diện trách nhiệm hình sự. Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, pháp luật
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status