Phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Thành Công - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
có thế giữ những vai trò với mức độ khác nhau. Ở Việt Nam số doanh nghiệp
vừa và nhỏ chiếm trên 90% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, đóng góp
khoảng 40% GDP, 37% tổng vốn đầu tư toàn nền kinh tế. Đây là bộ phận
kinh tế năng động, giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế và là trụ cột của
nền kinh tế địa phương. Nhận ra ý nghĩa quan trọng của doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong sự phát triển của đất nước, chính phủ có những chính sách khuyến
khích, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Nhưng trên thực tế, khối
doanh nghiệp vừa và nhỏ này còn gặp rất nhiều trở ngại trong quá trình giải
quyết những tồn tại của bản thân doanh nghiệp, những khó khăn từ môi
trường xung quanh, cũng như trong quá trình hội nhập nền kinh tế. Một trong
những vấn đề của doanh nghiệp vừa và nhỏ là vấn đề thiếu vốn hoạt động,
thiếu vốn để đổi mới công nghệ và nguồn vốn tài trợ chủ yếu cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ là nguồn vốn từ Chính phủ thông qua Ngân hàng thương
Mại. Sau một thời gian thực tập tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Thành
Công 30-32 Láng Hạ Hà Nội, em đã nghiên cứu, tìm hiểu tình hình hoạt động
của chi nhánh và đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển hoạt động cho vay
doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm bổ sung thêm nguồn vốn cho khối doanh
nghiệp này.
Với mục đích như trên, trong chuyên đề tốt nghiệp của mình, em đã
chọn đề tài nghiên cứu: “Phát triển hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Thành Công”. Ở đề tài này em
sẽ làm rõ những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, thực trạng hoạt
động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thương Thành Công và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển
hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại
thương Thành Công.

HĐQT : Hội đồng quan trị
CBTD : Cán bộ tín dụng
NQH : Nợ quá hạn
TSCĐ : Tài sản cố định
TSBĐ : Tài sản bảo đảm
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Các bảng dữ liệu
1) Bảng 1: Tình hình huy động vốn tại chi nhánh NHNT Thành Công
(trang 37)
2) Bảng 2: Tình hình cho vay tại chi nhánh NHNT Thành Công (trang 38)
3) bảng 3: Dư nợ cho vay các DNV&N tại chi nhánh NHNTTC (trang 52)
4) Bảng 4: Cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn tại chi nhánh NHNTTC
(trang 54)
5) bảng 5: Cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế tại chi nhánh
NHNT Thành Công (trang 55)
6) Bảng 6: Tình hình nợ quá hạn của chi nhánh NHNT (trang 57)
Các biểu đồ
1) Biểu đồ 1: Dư nợ cho vay phân theo quy mô của chi nhánh NHNTTC
(trang 53)
2) Biểu đồ 2: Cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn tại chi nhánh NHNTTC
(trang 54)
3) Biểu đồ 3: Cơ cấu dư nợ cho vay DNV&N theo thành phần kinh tế tại
chi nhánh NHNTTC (trang 56)
Sơ đồ
Sơ đồ bộ máy tổ chức chi nhánh NHNTTC (trang 34)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368

những khoản tiền nhàn rỗi nói riêng, đồng thời làm tăng khả năng hoạt động
của những người có nhu cầu về vốn là doanh nghiệp hay cá nhân. Có thể nói,
hoạt động cho vay tạo ra sự phát triển chung của cả nền kinh tế.
Thứ hai, bằng việc cho vay ngân hàng đã tạo ra khối lượng tiền tệ lớn
trong nền kinh tế. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh
toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch
vụ. Toàn bộ hệ thống ngân hàng đã tạo ra khối lượng tiền lớn khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho
vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì
sẽ tạo nên khoản thu ( tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác
tại một ngân hàng khác tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không có
một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ
thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh
toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay (tạo tín dụng).
Thứ ba, bằng việc cho vay với lãi suất ưu đãi cho một dự án phát triển
mang tính chất chiến lược cũng là hoạt động tài trợ nằm trong chính sách của
chính phủ để phát triển đất nước.
Thứ tư, cho vay là hoạt động mang lại thu nhập chính, lợi nhuận cao
cho ngân hàng, dùng chi trả các khoản lãi tiền gửi huy động và các khoản chi
phí quản lý, trang thiết bị, tiền lương và các khoản chi phí khác để duy trì hoạt
động của ngân hàng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.2.Các hình thức cho vay của ngân hàng
Theo các tiêu thức khác nhau có thể phân chia làm rất nhiều loại hình cho
vay khác nhau, cụ thể như sau:
1.1.2.1.Theo hình thức cấp tín dụng
Thấu chi : là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay
được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một thời gian nhất
định và trong một khoảng thời gian xác định. Giới hạn này là hạn mức thấu

thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không vượt quá hạn mứac tín dụng.
Mối lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp
các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau
khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền
cho khách hàng.
Đây là hình thức vay thuận tiện cho khách hàng vay mượn thường
xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng không ấn định ngày trả nợ mà sẽ thu nợ khi khách hàng có thu
nhập.. do đó tạo tính chủ động trong quản lý ngân quỹ cho khách hàng. Tuy
nhiên do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân
hàng khó có thể kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay.
Cho vay luân chuyển : là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng
hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay
để mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Việc cho vay dựa trên
luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều phải nghiên
cứu kế hoặch lưu chuyển hàng hoá để dự phòng ngân quỹ trong thời gian tới.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khi khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơn nhập hàng
và số tiền cần vay. Đồng thời khách hàng phải đảm bảo rằng tất cả số tiền cần
vay sẽ được trả cho người bán và mọi khoản thu bán hàng đều dùng trả vào
tài khoản tiền vay trước khi trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của
khách hàng.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng: thủ tục vay chỉ
cần thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay, khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn
kịp thời. Vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn. Còn đối
với ngân hàng, nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ (hàng hoá tồn
đọng…) thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của
khoản vay không được quy định rõ ràng.
Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng theo đó ngân hàng cho phép

chiu đựng được rủi ro khi dự án không thành công. Vì vậy khi nhận được dự
án vay vốn, ngân hàng này liên kết với nhiều ngân hàng khác để cùng tài trợ
cho dự án.
Cho vay khác: Ngoài các phương thức trên, ngân hàng có thể cho vay
theo các phương thức mà pháp luật không cấm, phù hợp với các quy định tại
các Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, điều kiện kinh doanh của tổ
chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay. Ví dụ như cho vay theo dự án
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các dự án đầu tư phục vụ đời
sống; cho vay gián tiếp - tức là ngân hàng cho vay thông qua các tổ chức
trung gian tổ, đội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội nông dân, Hội Cựu chiến
binh, Hội Phụ nữ…
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1.2.2. Theo thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian tính từ khi khách hàng nhận vốn
vay cho đến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Theo đó
thì cho vay có thể chia làm thành hai loại:
Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn cho vay đến 12
tháng. Hơn một nửa số khoản vay thương mại của ngân hàng được thực hiện
dưới hình thức cho vay ngắn hạn. Hầu hết những khoản cho vay là nhằm hỗ
trợ cho việc tăng dự trữ hàng hoá, dịch vụ cho nguời vay hoạt động theo mùa.
Khoản vay này được hoàn trả khi hàng tồn kho của người vay được bán và
các khoản thu của nó được thu hồi; lãi suất chỉ được tính trên số vốn vay thực
Cho vay trung và dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên
12 tháng đến 60 tháng đối với cho vay trung hạn và từ 60 tháng trở lên đối với
cho vay dài hạn. Trong một khoảng thời gian dài, các ngân hàng thương mại
không cho vay dài hạn, thậm chí cũng không cho vay trung hạn, bởi vì thiếu
các công cụ để quản lý rủi ro nảy sinh từ các hình thức cho vay trên, nhất là
thiếu nguồn vốn lâu dài và khó huy động vốn. Nhưng sau này để đáp ứng nhu

tài sản đảm bảo để thực hiện hoạt động kinh doanh, tuy nhiên có thể gây khó
khăn cho ngân hàng trong việc quản lý và kiểm soát tài sản đảm bảo bởi quá
trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản hoặc khách hàng có thể lợi dụng phân
tán, làm giảm giá trị tài sản, gây thiệt hại cho ngân hàng. Vì vậy ngân hàng
phải tăng khả năng đánh giá, xem xét kĩ vật thế chấp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Cho vay có tài sản đảm bảo theo hình thức cầm cố : là hình thức
cho vay theo đó người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền kiểm
soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết ( thường gọi
là thời gian tài trợ). Ngân hàng quản lý toàn bộ tài sản đó, mọi chi phí liên
quan đến việc quản lý do người vay chịu.
Các tài sản cầm cố thưòng gọn nhẹ, dễ quản lý, ít chiu ảnh hưởng của
các yếu tố môi trưòng tự nhiên. Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân
hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời viêc ngân
hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của người nhận tài
trợ. Khi tài trợ dựa trên đảm bảo bằng cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợp lệ
hợp pháp của vật cầm cố, sau đó ngân hàng cùng với khách hàng định giá vật
cầm cố, kí hợp đồng cầm cố quy định quyền và nghĩa vụ liên quan đến vật
cầm cố.
Cho vay không có tài sản đảm bảo: là hình thức đảm bảo đối nhân bao
gồm cho vay tín chấp và cho vay có bảo lãnh
+ Cho vay theo tín chấp: là hoạt động cho vay trong đó ngân hàng
không yêu cầu khách hàng có tài sản đảm bảo mà chỉ dựa trên uy tín của
khách hàng. Trong trường hợp này, khách hàng phải là khách hàng truyền
thống của ngân hàng, có uy tín lớn và tiềm lực tài chính mạnh.
+ Cho vay có bảo lãnh: Trong hình thức cho vay này có sự xuất
hiện của người thứ ba cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với ngân
hàng thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện được. Đối với
người bảo lãnh có uy tín (Nhà nước, các tổ chức tài chính lớn, các công ty

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
những điều kiện cụ thể là quốc gia nào, địa phương nào, thời điểm nào, tình
hình kinh tế nào, hoạt đông trong lĩnh vực kinh doanh nào.
Qua nghiên cứu và tìm hiểu cho thấy có rất nhiều tiêu thức phân loại
DNV&N phổ biến như số lượng lao động thường xuyên, số vốn sản xuất kinh
doanh, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng..trong đó thì hai tiêu thức được sử
dụng nhiều nhất là quy mô vốn và lao động.
Ở Việt Nam: theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11 của Chính phủ
về trợ giúp phát triển DNV&N đã đưa ra khái niệm: “ DNV&N là những cơ
sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký theo pháp luật hiện hành, có số
vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm
không quá 300 người”
Như vậy, DNV&N ở Việt Nam bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt đông theo Luật doanh nghiệp, Luật
doanh nghiệp Nhà nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng kí kinh doanh theo Nghị định
02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2001 về đăng kí kinh doanh
1.2.2.Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
Một nền kinh tế không thể tồn tại và phát triển nếu thiếu những cá
nhân, những hộ kinh doanh, những doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh. Trong đó các DNV&N là đối tượng năng động, nhanh nhạy
với cơ chế thị trường, phát huy được những ngành nghề truyền thống, tạo việc
làm và tăng thu nhập cho người lao động. Những doanh nghiệp này đã đóng
góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, cụ thể như sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần làm tăng tổng thu nhập
quốc nội, giải quyết việc làm và góp phần làm ổn định xã hội.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Thứ ba, DNV&N góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế địa
phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của vùng.
Chỉ có các DNV&N hoạt động trên khắp các vùng mới có điều
kiện hiểu rõ về tiềm năng cũng như thế mạnh riêng có của các vùng. Cùng với
các lĩnh vực hoạt động chính vốn có cộng với sự năng động của chính mình
thì các DNV&N có những điều kiện và cơ sở để phát huy những thế mạnh đó
của vùng. Ngoài ra, các DNV&N còn có điều kiện khai thác triệt để nguồn
nguyên nhiên liệu trong vùng, tránh tình trạng lãng phí cho xã hội. Thêm vào
đó, các DNV&N cũng góp phần khôi phục, duy trì và phát triển các ngành
nghề thủ công truyền thống bởi mô hình DNV&N phù hợp với điều kiện sản
xuất kinh doanh của làng nghề thủ công.
Thứ tư, là một bộ phận kinh tế năng động nên các DNV&N góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, thúc đẩy đô thị
hoá.
Mặc dù được coi là bộ phận quan trong để khôi phục, duy trì và
phát triển các ngành nghề truyền thống nhưng các DNV&N lại rất nhạy bén
với tình hình phát triển kinh tế. Hiện nay các DNV&N ngày càng triển khai,
phát triển các ngành dịch vụ, công nghiệp, giảm bớt tỷ trọng nông nghiệp, đặc
biệt là ở vùng nông thôn. Một bộ phận lớn lao động trong ngành nông nghiệp
đã được thu hút và chuyển sang làm các ngành công nghiệp, dịch vụ cho các
DNV&N ngay tại các địa phương chứ không cần phải chuyển lên các khu vực
thành thị, gây áp lực về các vấn đề xã hội lên khu vực đô thị.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.3. Đặc điểm chủ yếu của các DNV&N
Hiện nay ,trong nền kinh tế thế giới cũng như ở Việt Nam , số lượng
DNV&N chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng số doanh nghiệp. Đặc biệt là
trong giai đoạn này, nền kinh tế phát triển rất nóng, cơ sơ pháp lý cũng được
mở rộng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hình thành và phát triển. Nhìn
chung loại hình DNV&N cũng đa dạng, có thể là công ty trách nhiệm hữu

không kham nổi, những điều khoản ưu đãi mà Nhà nước dành cho các
DNV&N là không dễ dàng đạt được. Hiểu được tình hình đó, DNV&N phải
đề cao tinh thần tự lực, tự cường cao, đi lên trong cạnh tranh.
Thứ tư, do vốn đầu tư nhỏ, vốn thiết bị công nghệ không lớn, các
DNV&N dễ dàng đổi mới thiết bị, công nghệ và đối tượng kinh doanh để
nâng cao chất lưọng, hạ giá thành sản phẩm. Ngoài ra, DNV&N có thể dễ
dàng chuyển hướng kinh doanh kịp thời khi gặp những điều kiện bất lợi trong
kinh doanh và nền kinh tế có những biến động bất thường.
Những hạn chế, khó khăn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thứ nhất, điều kiện thành lập nên các DNV&N là rất đơn giản, không
đòi hỏi quá cao nên nhìn chung trình độ kĩ năng quản lý, trình độ tay nghề
công nhân còn hạn chế. Hiện nay, khoảng một nửa số chủ doanh nghiệp chưa
qua đào tạo chính thức, hầu hết là tự đào tạo lấy. Khả năng quản lý doanh
nghiệp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân, vào cách nhìn chủ quan của
các chủ doanh nghiệp, họ chưa thực sự hiểu đầy đủ về việc quản lý doanh
nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Thêm vào đó, tỷ lệ lao động
qua đào tạo còn ít, đặc biệt là tại một số vùng nông thôn, những vùng xa
thành phố..tỷ lệ lao động qua đào tạo có khi chỉ chiếm hơn 10%, không đáp
ứng được yêu cầu của công việc. Tình trạng này làm giảm năng suất lao động
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và hiệu quả làm việc của các DNV&N . Vì vậy, tại một số DNV&N luôn có
những chính sách đào tạo lại lao động khi vào làm hoặc vừa lao động vừa đào
tạo để nâng cao chất lượng lao động. Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp
chưa quan tâm đến trình độ nhân sự, đào tạo và bồi dưỡng lao động đã gây
khó khăn và giảm hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
Thứ hai, trình độ khoa học công nghệ ở Việt Nam nhìn chung là rất
thấp, thường yếu kém, lạc hậu, chậm đổi mới; và các DNV&N ở Việt Nam
không nằm ngoài thực trạng chung đó. Khả năng tiếp cận và xử lý thông tin
trên thị trường của các DNV&N còn hạn chế. Do qui mô nhỏ, hoạt động trong

quốc doanh. Cũng chính vì thiếu vốn mà các DNV&N không có điều kiện
mua đất đai, cơ sỏ hạ tầng làm mặt bằng sản xuất kinh doanh như các doanh
nghiệp lớn, họ chủ yếu phải đi thuê để hoạt động.
Như vậy đối với các DNV&N thì vấn đề lớn nhất chính là vấn đề thiếu
vốn. Giải quyết được vấn đề này đồng nghĩa với việc nâng cao trình độ công
nghệ, năng lực cạnh tranh cho các DNV&N .
1.2.4. Sự cần thiết phát triển hoạt động cho vay DNV&N
Thứ nhất, Doanh nghiệp vừa và nhỏ - Thị trường tiềm năng với các
Ngân hàng.
Số liệu thống kê gần đây cho thấy các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là
khu vực có nhiều tiềm năng phát triển:
- Số lượng DNV&N đang tăng lên rất nhanh:
Đến cuối năm 2005 cả nước có trên 200.000 doanh nghiệp ngoài quốc
doanh (trong đó hầu hết là các DNV&N), gấp 4 lần năm 2000, gấp 5 lần tổng
số Doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thành lập từ năm 1991 đến 1999
cộng lại. Số lượng doanh nghiệp đăng kí thành lập trung bình hàng năm gấp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.75 lần trung bình hàng năm thời kì 1991-1999, tốc độ tăng trưởng số lượng
doanh nghiệp bình quân khoảng 10%/ năm. Ngoài ra cả nước còn có gần 2.5
triệu hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp và 11 triêu hộ nông dân sản xuất
hàng hoá (Nguồn số liệu: Phát biểu của Thủ tướng Phạm Văn Khải tại Hội
nghi các doanh nghiêp tại Hà Nội ngày 9/2/2006)
- Các DNV&N được đánh giá là bộ phận năng động, hoạt động có hiệu
quả của nền kinh tế. Điều này xuất phát từ lợi thế của quy mô nhỏ, gọn nên
việc chuyển hướng trong kinh doanh của cac DNV&N dễ dàng hơn các doanh
nghiệp lớn. Các DNV&N hoạt động trên hầu hết mọi địa bàn, mọi ngành nghề
của nền kinh tế (trong đó tập trung lớn nhất vào các ngành thương mại, dịch
vụ và công nghiệp). Thêm vào đó, phần lớn các chủ DNV&N là lớp trẻ, rất
năng động, nhạy bén với những thay đổi trên thị trường; họ có nhiều ý tưởng

đã và đang bộc lộ tính kém hiệu quả.
Thứ ba, những lợi ích của ngân hàng từ phát triển cho vay đối với
DNV&N
Các DNV&N từ trước đến nay vẫn bị coi là nhóm khách hàng có độ
rủi ro và chi phí giao dịch lớn. Tuy nhiên nếu thực hiện tốt công tác thẩm định
và sàng lọc thì ngân hàng có thể duy trì một danh mục khách hàng hiệu quả.
Việc ngân hàng phát triển cho vay đối với DNV&N đem lại các lợi ích
cơ bản sau :
- Phân tán rủi ro : Do số lượng khách hàng DNV&N lớn, quy mô từng
khoản vay nhỏ, trải rộng trên hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực nên việc cho
vay các đối tượng này sẽ giúp phân tán rủi ro của các danh mục cho vay.
- Tạo điều kiện để tăng thu dich vụ ngân hàng do tổng số lượng giao dịch
lớn, các DNV&N lại thường có xu hướng sử dụng trọn gói dịch vụ tại một
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngân hàng do đó tạo cơ hội để ngân hàng nâng cao và thay đổi dần cơ cấu thu
nhập.
- Ngân hàng dễ dàng quản lý do DNV&N thường có quy mô nhỏ, gọn, địa
bàn hoạt động hẹp.
- Khai thác tối ưu mạng lưới chi nhánh rộng khắp trên cả nước : Do các
DNV&N có địa bàn hoạt động trải rộng trên cả nước nên các ngân hàng có
thể khai thác tối ưu mạng lưới chi nhánh tại hầu hết các tỉnh, thành phố.
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hoạt động cho vay các
doanh nghiệp vừa và nhỏ
Có rất nhiều nhân tố tác động tới việc phát triển hoạt động cho vay
của các ngân hàng đối với các DNV&N. Các nhân tố này có thể từ phía ngân
hàng hoặc từ bản thân các doanh nghiệp hoặc từ môi trường kinh tế vĩ mô.
1.2.5.1. Các nhân tố từ phía ngân hàng
Thứ nhất, chính sách tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay
của ngân hàng đối với các DNV&N. Chính sách tín dụng bao gồm các quy

toàn thoải mái về mặt tâm lý khi cho các DNV&N vay. Điều này cho thấy
rằng, nếu còn kéo dài tình trạng phân biệt giữa các doanh nghiệp lớn và các
DNV&N thì sẽ gây khó khăn rất lớn, cản trở hoạt động cho vay DNV&N,
đồng thời cũng cản trở sự phát triển của các DNV&N bởi loại hình doanh
nghiệp nào khi bước vào kinh doanh đều có thể gặp những rủi ro. Ngay cả các
doanh nghiệp lớn, khi thực hiện hoạt động kinh doanh đều có thể xảy ra rủi ro
và đặc biệt là nếu loại doanh nghiệp này mà xảy ra rủi ro thì tổn thất sẽ lớn
hơn các DNV&N rất nhiều. Vì vậy chỉ cần các ngân hàng quan tâm hơn đến
loại hình doanh nghiệp này, tổ chức kiểm tra thẩm định tốt thì việc cho vay
DNV&N sẽ có thể được mở rộng và thu được kết quả tốt.
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Trích đoạn Thực trạng hoạt động cho vay các DNV&N của chi nhánh NHNTTC 1 Khái quát về tình hình hoạt động của các DNV&N trên địa bàn Hà Cơ sở pháp lý về cho vay các DNV&N tại chi nhánh NHNTTC 1 Các VB pháp lý về cho vay các DNV&N Các điều kiện vay vốn của DNV&N Quy trình nghiệp vụ cho vay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status