TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
BỘ MÔN LUẬT KINH TẾ
Tiểu luận:
NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
HOẠT ĐỘNG M&A
VÀ THỰC TIỄN M&A TẠI VIỆT NAM
GVHD : PGS.TS. BÙI XUÂN HẢI
SVTH : Vũ Duy Chương
Phạm Công Doanh
Nguyễn Thị Thùy Dương
Nguyễn Thị Xuân Hà
Lê Xuân Hùng
Đoàn Duy Khánh
Lê Thị Huỳnh Phương
Trần Thị Kim Thanh
TP. Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2013
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH 1
MỤC LỤC 2
CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VỀ SÁP
NHẬP, HỢP NHẤT DOANH NGHIỆP 5
1.1 Khái niệm về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp 5
1.2 Phân loại sáp nhập, hợp nhất 8
1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp 8
1.3.1 Luật doanh nghiệp 2005 9
1.3.2 Luật đầu tư 2005 9
1.3.3 Luật cạnh tranh 2004 9
1.3.4 Luật chứng khoán 2006 9
2.3.3 Nguyên nhân hợp nhất 38
2.3.4 Hoạt động của ngân hàng SCB sau một năm thực hiện hợp nhất 38
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động M&A là một trong những giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp ở hầu hết các lĩnh vực, Việt Nam cũng đã và đang nghiên cứu áp dụng. Trong những
năm gần đây, Việt Nam có nhiều thương vụ M&A diễn ra. Bên cạnh những mặt tích cực thì hoạt
động M&A cũng có những hạn chế nhất định. Và khi các bên tiến hành các thương vụ M&A,
doanh nghiệp cần trang bị những kiến thức về pháp luật quy định cho hoạt động này như thế nào?
Trước thực tiễn đó, bài nghiên cứu của nhóm được xây dựng nhằm phân tích qui định của
pháp luật Doanh nghiệp về sáp nhập, hợp nhất Doanh nghiệp. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng
phân tích và đánh giá ba vụ M&A thực tiễn nhằm cung cấp cái nhìn thực tế về hoạt động M&A tại
Việt Nam.
Nội dung đề tài gồm 2 chương:
Chương I: Phân tích quy định của Pháp luật Doanh nghiệp về sáp nhập, hợp nhất Doanh nghiệp
Chương II: Phân tích, đánh giá ba vụ M & A thực tiễn ở Việt Nam trong những năm gần đây
CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DOANH
NGHIỆP VỀ SÁP NHẬP, HỢP NHẤT DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp
Khái niệm về sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp của Việt Nam được đề cập đến trong nhiều
văn bản luật khác nhau như: Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Đầu tư 2005; Luật Cạnh tranh 2004;
Bộ luật Dân sự 2005, Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 quy định về việc sáp nhập,
hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng. Chi tiết về khái niệm hợp nhất và sát nhập doanh nghiệp của
pháp luật doanh nghiệp ở Việt Nam như sau:
• Theo Luật doanh nghiệp 2005:
Hợp nhất doanh nghiệp (khoản 1, điều 152, Luật doanh nghiệp 2005): Hai hoặc một số công ty
cùng loại (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi
là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang
công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất.
nhân được sáp nhập được chuyển giao cho pháp nhân sáp nhập.
• Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 quy định về việc sáp nhập, hợp nhất,
mua lại tổ chức tín dụng thể hiện cụ thể như sau (khoản 1 và 2, điều 4):
Sáp nhập tổ chức tín dụng là hình thức một hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ
chức tín dụng bị sáp nhập) sáp nhập vào một tổ chức tín dụng khác (sau đây gọi là tổ chức tín dụng
nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức
tín dụng nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập.
Hợp nhất tổ chức tín dụng là hình thức hai hoặc một số tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức
tín dụng bị hợp nhất) hợp nhất thành một tổ chức tín dụng mới (sau đây gọi là tổ chức tín dụng hợp
nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang tổ chức tín dụng
hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các tổ chức tín dụng bị hợp nhất.
Như vậy, theo quy định hiện tại thì pháp luật Việt Nam chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất
và cụ thể về hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp. Ở Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Canh tranh
2004 đều có quy định khái niệm về sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp. Thế nhưng hai khái niệm ở
hai luật này lại không thống nhất với nhau. Cụ thể nếu so sánh về mặt từ ngữ thấy theo Luật Doanh
nghiệp 2005 thì các công ty sáp nhập, hợp nhất phải là công ty “cùng loại” còn ở Luật Cạnh tranh
2004 thì không quy định cụm từ này. Đây cũng là một cụm từ dễ gây tranh cãi bởi rất khó có thể
đoán được chính xác ý nghĩa thật sự mà các nhà làm luật ở đây muốn hướng tới. Không những thế,
đến các văn bản hướng dẫn dưới luật thì các nhà quản lý cũng bỏ qua việc hướng dẫn thế nào là
“cùng loại”. Thực chất hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh của các địa phương cũng đang hiểu
“cùng loại” ở đây là cùng về loại hình tổ chức doanh nghiệp. Và trong quá trình thực hiện thủ tục
cho các doanh nghiệp thì các cơ quan đăng ký kinh doanh cũng xử lý theo cách hiểu này. Và từ
thực tế này có thể suy ra rằng các công ty thuộc các loại hình tổ chức khác nhau thì không tiến
hành các hoạt động sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp lại với nhau được. Từ đây, lại phát sinh thêm
“cái khó” cho các doanh nghiệp khi thực hiện. Bởi các doanh nghiệp khi tiến hành xác định mục
tiêu sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp thì yếu tố cùng mô hình tổ chức không phải là yếu tố hàng
đầu mà họ quan tâm. Vì vậy các doanh nghiệp phải chuyển đổi loại hình tổ chức doanh nghiệp
mình cho “cùng loại” nhau. Ở Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định số 139/2007/NĐ-CP còn có
hướng mở cho vấn đề này và các doanh nghiệp đành phải chấp nhận phương án này để có thể đạt
được mục tiêu sáp nhập, hợp nhất của mình. Mặc dù cả hai luật này cùng điều chỉnh vấn đề sáp
- Hỗn hợp: sáp nhập giữa các công ty trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và không có
liên quan, nhằm giảm cơ bản rủi ro và để khai thác các hình thức kinh tế khác nhau trong các lĩnh
vực tài chính, tài nguyên…
1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp
Hiện nay, khung pháp lý liên quan đến hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nhiệp ở Việt
Nam nằm ở nhiều văn bản luật khác nhau như: Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư 2005, Luật
cạnh tranh 2004, Luật chứng khoán 2006 và Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 quy
định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng. Mỗi văn bản luật trên chi phối hay điều
chỉnh các vấn đề khác nhau liên quan đến hoạt động sáp nhập và hợp nhất.
1.3.1 Luật doanh nghiệp 2005
Liên quan đến hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nhiệp, luật này điều chỉnh cách thức tổ
chức lại công ty và các thủ tục đăng ký kinh doanh cần thực hiện với cơ quan nhà nước (khoản 2,
điều 152 và khoản 2, điều 153).
1.3.2 Luật đầu tư 2005
Hoạt động sáp nhập doanh nghiệp được coi là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp.
1.3.3 Luật cạnh tranh 2004
Theo luật Cạnh tranh 2004, việc sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp là hành vi tập trung kinh
tế, do đó việc sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp bị cấm trong trường hợp tạo ra thị phần kết hợp
của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan (khoản
2, điều 11, Luật cạnh tranh 2004). Điều chỉnh của Luật cạnh tranh 2004 đối với hoạt động sáp nhập
và hợp nhất chủ yếu là vấn đề liên quan đến tính cạnh tranh của ngành, hoặc sản phẩm nào đó trên
thị trường. Chẳng hạn, nếu một công nào đó mua lại công ty khác mà tổng thị phần quá lớn sẽ dẫn
đến tình trạng độc quyền có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng.
1.3.4 Luật chứng khoán 2006
Theo luật này, việc sáp nhập, hợp nhất các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ phải
được chấp thuận của Ủy ban chứng khoán nhà nước trước khi thực hiện (điều 69, Luật Chứng
khoán 2006).
1.3.5 Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 quy định về việc sáp nhập, hợp
nhất, mua lại tổ chức tín dụng
Thông tư quy định quá trình tổ chức thực hiện việc sáp nhập và hợp nhất của các tổ chức tín
Mặc dù Luật chứng khoán 2006 điều chỉnh công ty cổ phần đại chúng, nhưng không điều
chỉnh việc tổ chức hoạt động doanh nghiệp như Luật doanh nghiệp 2005.
Luật cạnh tranh 2004 hiện nay cấm các hoạt động sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp có
thể dẫn tới việc một doanh nghiệp có mức tập trung kinh tế lớn hơn 50% thị trường liên quan. Tuy
nhiên, vấn đề đặt ra là Luật cạnh tranh và các văn bản dưới luật không có quy định rõ ràng về khái
niệm “thị trường liên quan”. Và trong trường hợp một doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng
(có nhiều thị trường khác nhau) thì tùy theo các cách tính khác nhau có thể dẫn đến kết quả là
doanh ngghiệp đó có thể bị coi là có “tập trung kinh tế” trên 50% hoặc có thể dưới.
1.4.3 Chưa quy định cụ thể hình thức thanh toán trong sáp nhập và hợp nhất doanh
nghiệp
Luật doanh nghiệp 2005 quy định về sáp nhập, hợp nhất thì không quy định cụ thể hình
thức thanh toán. Chẳng hạn như trường hợp, một công ty phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông của
công ty khác để đối lấy số cổ phiếu của cổ đông của công ty đó, hay nói cách khác đây là hình thức
sáp nhập kiểu hoán đổi cổ phiếu. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2005 vẫn chưa có khung pháp lý
quy định vấn đề này. Điều này sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho các công ty, đặc biệt là các công ty
cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam khi tiếp hành sáp nhập và hợp nhất doanh
nghiệp.
Từ các phân tích ở trên có thể thấy, các quy định liên quan đến hoạt động sáp nhập và hợp
nhất doanh nghiệp ở Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản khác nhau. Tuy nhiên, các quy
định này hầu như mới chỉ dừng lại ở việc xác lập về mặt hình thức của hoạt động sáp nhập và hợp
nhất doanh nghiệp, tức là mới chỉ giải quyết được các vấn đề về mặt“thay tên, đổi họ” cho doanh
nghiệp. Trong khi đó, sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp là một giao dịch thương mại, tài chính,
nó đòi hỏi phải có quy định cụ thể, phải được cung cấp thông tin nhanh chóng, chuyển giao và xác
lập sở hữu, chuyển dịch tư cách pháp nhân, cổ phần, cổ phiếu, các nghĩa vụ tài chính, người lao
động, thương hiệu Đồng thời, còn hàng loạt vấn đề liên quan trực tiếp đến sáp nhập và hợp nhất
doanh nghiệp mà pháp luật nước ta còn chưa có quy định cụ thể như kiểm toán, định giá, tư vấn,
môi giới, bảo mật, thông tin, cơ chế giải quyết tranh chấp…
Hộp 1: Công ty xi măng Hà tiên 2 sáp nhập vào Hà tiên 1
Tại đại hội, nhiều cổ đông cá nhân của Hà Tiên 2 đã lên tiếng phản đối việc sáp nhập này vì cho rằng sẽ
gây thiệt hại cho nhà đầu tư lẫn hoạt động của chính công ty trong thời gian tới. Tuy nhiên, với sự đồng ý
vụ bảo đảm là gì? Có thể công ty nhận sáp nhập đứng ra bảo lãnh cho các chủ nợ về các nghĩa vụ
nợ.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng, điều 153 Luật doanh nghiệp chỉ quy định là thông báo cho
người lao động và chủ nợ, chứ không xem chủ nợ của công ty bị sáp nhập là một bên liên quan đến
quá trình sáp nhập và điều này có thể đưa đến rủi ro cho các chủ nợ. Bởi vì, trong quá trình sáp
nhập thì công ty bị sáp nhập sẽ làm thủ tục giải thể trước, nếu như sau khi làm thủ tục giải thể, vì
một lý do nào đó cuộc sáp nhập không thành, thì nghĩa nợ của công ty bị sáp nhập sẽ được xử lý
như thế nào. Hiện tại, Luật doanh nghiệp và các luật khác chưa quy định thể vần đề này.
Trong trường hợp việc sáp nhập là công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, nếu thời
gian sáp nhập dài sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông. Vì các cổ đông của công ty bị sáp
nhập, lúc này đã chấm dứt hoạt động, sẽ gặp khó khăn cho việc chuyển nhượng cổ phiếu của
mình cho cổ đông khác. Lúc này, rỏ ràng các cổ đông của công ty bị sáp nhập không được xem là
chuyển nhượng cổ phiếu (vì công ty bị sáp nhập đã chấm dứt hoạt động) mà chỉ có thể gọi là
chuyển nhượng “quyền nhận cổ phiếu được sáp nhập” vào công ty nhận sáp nhập.
1.4.5 Vấn đề tập trung kinh tế trong luật cạnh tranh 2004 đối với hoạt động hợp nhất, sáp
nhập
Luật Cạnh tranh hiện nay cấm các hoạt động mua lại và sáp nhập có thể dẫn tới việc một
doanh nghiệp có mức tập trung kinh tế lớn hơn 50% trên thị trường liên quan. Trong trường hợp
một doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng (có nhiều thị trường khác nhau), thì tùy theo các
cách tính khác nhau có thể dẫn đến kết quả là doanh nghiệp đó có thể bị coi là có “tập trung kinh
tế” trên 50% hoặc có thể dưới. (Khoản 1, điều 30 Luật cạnh tranh 2004).
Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 đã kế thừa và loại bỏ những hạn chế của
Quy chế về sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam được ban hành theo
Quyết định số 241/1998/QĐ-NHNN5 ngày 15/07/1998 của Ngân hàng Nhà nước, theo đó phạm vi
các đối tượng được/thuộc diện sáp nhập, hợp nhất được mở rộng; kế thừa tinh thần của Luật
Doanh nghiệp năm 2005 về hợp nhất, sáp nhập, Luật Cạnh tranh năm 2004 về tập trung kinh tế,
đồng thời đảm bảo tuân thủ các cam kết của Việt Nam đối với Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng
Còn tồn tại tình trạng không thống nhất về cơ sở tính toán mức độ tập trung trong ngân
hàng giữa Luật Cạnh tranh và Nghị định số 69/2007/NĐ-CP. Luật Cạnh tranh quy định giới hạn
Công ty TNHH Future Property Invest 1.056 100%
Công ty Cổ phần Du lịch Hòn Một 167,4 83,6%
Công ty TNHH Du lịch sinh thái Nam Qua 110 80,0%
Công ty TNHH khách sạn và du lịch Tây Hồ View 1.145 70,0%
Tình hình kinh doanh công ty cổ phần Vinpearl
Nhóm 10 – Đêm 4 – K22 Trang
15
Tiểu luận Luật Kinh Tế GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất Công ty Vinpearl năm 2008, 2009, 2010, 9m2011
Những thế mạnh nổi bật của Vinpearl
- Khả năng xây dựng và quản lý chuyên nghiệp các khu resort phức hợp quy mô lớn
- Phát triển thành công các dự án BĐS nghỉ dưỡng và khách sạn tại Việt Nam
- Quỹ đất rộng lớn, nằm tại các vị trí du lịch đắc địa, trải dài trên khắp Việt Nam
- Năng lực quản lý và vận hành chuyên nghiệp
2.1.1.2 Công ty Cổ Phẩn Vincom – Công ty nhận sáp nhập
Lịch sử hình thành:
Công ty Cổ phần Vincom (Vincom) tiền thân là Công ty Cổ phần Thương mại Tổng hợp Việt
Nam, được chính thức thành lập vào ngày 3/5/2002 tại Hà Nội với vốn điều lệ ban đầu là 196 tỷ
đồng. Vincom hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng, kinh doanh dịch vụ Bất động
sản, Trung tâm thương mại và là chủ sở hữu của các dự án quy mô trên khắp các thành phố trên cả
nước. Cổ phiếu của công ty được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP HCM với mã chứng
khoán VIC. Vốn điều lệ tại thời điểm 06/2011 là 3.911 tỷ đồng.
Cơ cấu sở hữu và số lượng cổ đông của Công ty (tại thời điểm 09/02/2010)
Danh mục Cổ Đông trong nước Cổ Đông nước ngoài Tổng
Số lượng CP Tỷ lệ Số lượng CP Tỷ lệ Số lượng CP Tỷ lệ
Cổ đông thể nhân 142.560.401 71,41% 436.996 0,22% 142.997.397 71,63%
Từ 5% trở lên 95.686.778 47,93% 0 0,00% 95.686.778 47,93%
Dưới 5% 46.873.623 23,48% 436.996 0,23% 436.996 23,48%
Cổ đông pháp nhân 43.118.438 21,60% 7.239.508 3.63% 50.357.946 25,23%
Từ 5% trở lên 0 0,00% 0 0,00% 0 0,00%
Vingroup – Công ty Cổ phần.
Sự kiện sáp nhập này nhằm tạo ra sức mạnh mới trong hoạt động quản trị doanh nghiệp, tập
trung trí tuệ và thống nhất chỉ đạo trong các phương thức, chiến lược đầu tư kinh doanh… Vincom
hoạt động chính trong lĩnh vực BĐS còn Vinpearl là Du lịch. Đây là hai lĩnh vực có sự liên quan
mật thiết và bổ trợ cho nhau nên sự sáp nhập này là rất hợp lý và chắc chắn sẽ tạo ra một sức bật
mới trên thị trường. Mặt khác, trong chiến lược vươn ra biển lớn, tham gia sâu rộng vào quá trình
hội nhập kinh tế toàn cầu, với sự sáp nhập này, hứa hẹn sẽ hình thành một pháp nhân tập đoàn có
tầm vóc quốc tế và đủ sức mạnh cạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài. Ngoài ra, việc sáp nhập
cũng hoàn toàn phù hợp với thông lệ Quốc tế và xu thế phát triển của các Tập đoàn bất động sản
lớn trong khu vực và trên thế giới.
2.1.3 Thương vụ sáp nhập Công ty Cổ phần Vinpearl (Vinpearl) vào Công ty Cổ phần
Vincom (Vincom)
Phương thức sáp nhập:
Nhóm 10 – Đêm 4 – K22 Trang
18
Tiểu luận Luật Kinh Tế GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
Công ty cổ phần Vincom (“Vincom”) sẽ nhận sáp nhập Công ty cổ phần Vinpearl
(“Vinpearl”). Việc sáp nhập được thực hiện theo hình thức hoán đổi cổ phần. Theo đó, Vincom sẽ
phát hành thêm cổ phần Vincom cho các cổ đông của Công ty Vinpearl để hoán đổi lấy 100% tổng
số cổ phần Vinpearl đang lưu hành trên cơ sở tỉ lệ hoán đổi nêu dưới đây.
Tỷ lệ hoán đổi:
VPL : VIC = 1 : 0,77
01 cổ phần Công ty Vinpearl (Mã chứng khoán: VPL) đổi lấy 0,77 cổ phần Công ty
Vincom (Mã chứng khoán: VIC).
Nguyên tắc hoán đổi
Cổ phần VIC hoán đổi mà cổ đông Công ty Vinpearl nhận được sẽ được làm tròn xuống
đến hàng đơn vị, số cổ phần VIC lẻ (phần thập phân) phát sinh (nếu có) sẽ được hủy.
Ví dụ: Cổ đông A sở hữu 1.243 cổ phần VPL, khi hoán đổi theo tỷ lệ VPL:VIC = 1: 0,77 sẽ
được 957,11 cổ phần VIC. Sau khi làm tròn xuống đến hàng đơn vị, cổ đông A sẽ nhận được 957
cổ phần VIC .
USD), Vingroup đang được đánh giá là một trong những tập đoàn có sự phát triển năng động và
bền vững nhất Việt Nam với nhiều tiềm lực hội nhập quốc tế để vươn lên tầm khu vực và thế giới.
Hoạt động chủ yếu của Vingroup là phát triển dự án, bán và cho thuê các trung tâm thương mại,
văn phòng, căn hộ, biệt thự và bất động sản cao cấp tại các Thành phố lớn của Việt Nam. Chiến
lược của Tập đoàn là tận dụng những kinh nghiệm quý báu tại thị trường bất động sản Việt Nam
để phát triển các dự án đa năng, các khu đô thị, khách sạn và khu nghỉ dưỡng cao cấp tại các vị trí
đắc địa ở những thành phố lớn và các địa điểm du lịch nổi tiếng trên khắp Việt Nam. Vingroup đã
niêm yết trên sàn chứng khoán TP HCM vào ngày 19/09/2007 và hiện là tập đoàn bất động sản
niêm yết lớn nhất Việt Nam theo giá trị vốn hóa thị trường.
Tình hình tài chính của Vingroup:
Nhóm 10 – Đêm 4 – K22 Trang
20
Tiểu luận Luật Kinh Tế GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất tập đoàn Vingroup năm 2011 và 2012
Đối tới tập đoàn Vingroup
Thuận lợi
- Tạo thành Tập đoàn BĐS lớn nhất Việt Nam và mang tầm khu vực, hoạt động trên toàn bộ
các lĩnh vực BĐS tại Việt Nam, với mức vốn hoá lớn nhất thị trường Việt Nam
- Vingroup sẽ có quỹ đất gấp hơn 5 lần quỹ đất hiện có của Vincom
- Tận dụng được thế mạnh vốn có của hai công ty, tạo sức mạnh tổng hợp: Kinh nghiệm triển
khai dự án và kinh doanh BĐS của Vincom cộng hưởng với Quỹ đất dồi dào của Vinpearl
- Tăng cường năng lực tài chính và linh hoạt dòng tiền từ hệ thống các dự án đang triển khai
mạnh mẽ của Vincom và các dự án biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp có mức sinh lời cao của
Vinpearl
Như vậy: Ngoài những lợi ích kinh tế từ hoạt động kinh doanh của công ty thì từ việc sát nhập
này còn tạo ra một doanh nghiệp mới với quy mô vốn và tài sản lớn hơn. Điều đó tăng năng lực
cạnh tranh huy động vốn của doanh nghiệp trên thị truờng tài chính trong nước và đặc biệt trên
thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, việc thu hút được sự quan tâm của các tổ chức và cá nhân đầu tư
lớn trên thế giới sẽ tốt cho cả thị trường nói chung.
Nhóm 10 – Đêm 4 – K22 Trang
Tiểu luận Luật Kinh Tế GVHD: PGS.TS Bùi Xuân Hải
Masan Consumer - là một trong những công ty hàng tiêu dùng nhanh lớn nhất và tăng trưởng
nhanh nhất tại Việt Nam với thị phần thống lĩnh trong các ngành hàng gia vị và thực phẩm tiện lợi.
Techcombank - là ngân hàng thương mại cổ phần lớn thứ ba ở Việt Nam tính theo tổng tài sản và
là ngân hàng có lợi nhuận cao nhất Việt Nam tính theo tỷ suất lợi nhuận trên vốn trung bình
(ROAE) trong năm 2011 và 2010. (Quyền sở hữu thực sự của Masan Group bao gồm cả các công
cụ có thể chuyển đổi, và Masan Group là cổ đông lớn nhất của Techcombank)
Masan Resources - Cuối năm 2010, Masan Resources hoàn thành thương vụ mua bán và sáp nhập
doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam trong năm thông qua giao dịch mua lại Công ty liên doanh khai
thác chế biến khoáng sản Núi Pháo với dự án khai thác vonfram và kim loại cơ bản.
Chiến lược kinh doanh
Dòng tiền bền vững - sự tăng trưởng bền vững trong thị trường như vậy cần đến việc xây dựng
được các doanh nghiệp có khả năng tạo ra dòng tiền. Masan không tham gia hoạt động mua bán tài
sản, chẳng hạn như mua quỹ đất hoặc tham gia đầu cơ ngắn hạn.Năm 2011, lợi nhuận trước lãi,
Nhóm 10 – Đêm 4 – K22 Trang
TECHCOMBANK
(31%)
MASSAN
CONSUMER (77%)
MASSAN
GROUP
MASSAN
RECOURCES (80%)
24
DÒNG TIỀN BỀNH VỮNG
Xây dựng các doanh nghiệp tạo ra dòng tiền, không mua
bán tài sản hoặc đầu cơ ngắn hạn
NỀN TẢNG VẬN HÀNG HÀNG ĐẦU
Xây dựng nền tảng vận hành tốt nhất với với
đội ngủ kiểm soát và quản lý hang đầu
Cổ phần thiểu số - Masan Group tin tưởng vào việc nắm giữ quyền sở hữu đa số hoặc các hình
thức kiểm soát trong những doanh nghiệp của mình và không đầu tư thụ động. Điều này giúp tập
đoàn chủ động nâng cao giá trị và áp dụng những chuẩn mực tốt nhất.
Nhóm 10 – Đêm 4 – K22 Trang
25