ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC VŨ HỒNG GIANG
NGHIÊN CỨU TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG
CƯ DÂN VEN BIỂN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện
trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn
khoa học của GS.TS Nguyễn Trọng Hiệu. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là
trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.
Học viên
Vũ Hồng Giang
LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Biến đổi khí hậu “Nghiên cứu tính dễ bị
tổn thương do biến đổi khí hậu của cộng đồng cư dân ven biển tỉnh Nghệ An”
đã hoàn thành vào tháng 12 năm 2014. Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn vè
và gia đình.
Trước hết tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo GS.TS Nguyễn
Trọng Hiệu đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu và hoàn
2. Mục tiêu của luận văn
2
3. Đối tượng nghiên cứu
2
4. Nội dung nghiên cứu
2
5. Phương pháp nghiên cứu
2
6. Kết quả thực hiện
3
7. Kết cấu chính của luận văn:
3
Chương 1: Tổng quan về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu 4
1.1.
Các thuật ngữ liên quan
4
1.1.1. Một số khái niệm chung 4
1.1.2. Khái niệm và định nghĩa về tính dễ bị tổn thương 5
1.1.3. Tính dễ bị tổn thương của con người 8
1.2.
Các công trình nghiên cứu TDBTT ngoài nước
9
1.2.1. Đánh giá về tính dễ bị tổn thương 10
1.2.2. Các phương pháp luận đánh giá tính dễ bị tổn thương 18
1.2.3. Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương 19
1.2.4. Một vài mô hình đánh giá TDBTT 22
1.3.
2.3.5. Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho tỉnh Nghệ An 41
Chương 3: Kết quả đánh giá tổn thương trên các huyện ven biển Nghệ An 43
3.1. Điều kiện tự nhiên của các huyện ven biển Nghệ An
43
3.1.1. Đặc điểm chung 44
3.1.2. Đặc điểm tự nhiên cụ thể của từng huyện liên quan đến đánh giá tổn
thương 49
3.2. Điều kiện kinh tế xã hội của các huyện ven biển Nghệ An
52
3.2.1. Đặc điểm chung 52
3.2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội cụ thể của từng huyện liên quan đến đánh giá tổn
thương 55
3.3 Kết quả nghiên cứu về tổn thương cho từng lĩnh vực của cộng đồng cư dân
ven biển Nghệ An
58
3.3.1. Đánh giá tổn thương trong lĩnh vực sản xuất lúa 58
3.3.2. Kết quả đánh giá tổn thương trong lĩnh vực đánh bắt thủy hải sản 60
3.3.3. Kết quả đánh giá tổn thương trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng 62
3.4. Tổng hợp kết quả nghiên cứu về tổn thương do BDKH của cộng đồng cư dân
ven biển Nghệ An
65
3.5 Một số đề xuất về định hướng thích ứng………………………………… ……66
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
iii
Danh mục chữ viết tắt
AC
Ngân hàng thế giới iv
Danh mục các bảng
Bảng 1.1: Đặc điểm của các đánh giá tính dễ bị tổn thương liên quan đến hiểm họa
tự nhiên và biến đổi khí hậu 19
Bảng 2.1. Bảng qui ước mức độ tổn thương 31
Bảng 2.2. Các thành tố của độ phơi nhiễm tác động đến cộng đồng cư dân biển 32
Bảng 2.3. Các chỉ số quan trắc cần thu thập để phục vụ nghiên cứu 35
Bảng 2.4. Tổng lượng mưa qua từng thập kỷ ở Nghệ An 36
Bảng 2.5. Số ngày có lượng mưa lớn hơn 100mm và lượng mưa ngày lớn nhất tại
trạm thủy văn Vinh 36
Bảng 2.6. Sốt đợt rét đậm, rét hại ở Nghệ An (ĐVT: Đợt) 37
Bảng 2.7. Số đợt nắng nóng xảy ra ở Nghệ An trong những năm gần đây 37
lĩnh vực đánh bắt thủy hải sản. 60
Bảng 3.6. Đánh giá tham số phụ và trị số trung bình của độ nhạy cảm (S) trong lĩnh
vực đánh bắt thủy hải sản 61
v
Bảng 3.7. Đánh giá tham số phụ và trị số trung bình của khả năng thích ứng (AC)
trong lĩnh vực đánh bắt thủy hải sản 61
Bảng 3.8. Tính chỉ số tổn thương (V) trong lĩnh vực đánh bắt thủy hải sản 62
Bảng 3.9. Đánh giá tham số phụ và trị số trung bình của độ phơi nhiễm (E) trong
lĩnh vực cơ sở hạ tầng. 62
Bảng 3.10. Đánh giá tham số phụ và trị số trung bình của mức độ nhạy cảm (S)
trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng 63
Bảng 3.11. Đánh giá tham số phụ và trị số trung bình của khả năng thích ứng (AC)
trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng 64
Bảng 3.12. Tính chỉ số tổn thương (V) trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng 64
Bảng 3.13. Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu về tổn thương theo phương án 1 65
Bảng 3.14. Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu về tổn thương theo phương án 2 65
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Theo các nhà khoa học trên thế giới, khí hậu đã đang và sẽ có những thay đổi
hết sức mạnh mẽ; tác động tới mọi lĩnh vực tự nhiên và kinh tế, xã hội: nông nghiệp,
đánh bắt thủy hải sản, giao thông vận tải, công nghiệp, sức khỏe con người, môi
trường với quy mô toàn cầu và trở thành một trong những thách thức hết sức to lớn
với sự tồn vong của loài người trong tương lai.
Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng hậu quả của biến đổi khí hậu đối với
Việt Nam là rất nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm
nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của
đất nước (Bộ tài nguyên và môi trường, 2009). Mặt khác nước ta có dân số sinh sống
phần lớn ở vùng nông thôn, miền núi, ven biển và nguồn sinh kế của họ đặc biệt là
nguồn sinh kế của hộ nghèo từ nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp là chủ yếu và
nó phụ thuộc rất nhiều vào khí hậu và điều kiện tự nhiên. Biến đổi khí hậu đã đặt ra
cho họ những thách thức lớn hơn trong việc xóa đói giảm nghèo và duy trì nguồn
sinh kế bền vững.
Trong bối cảnh BĐKH trên toàn cầu và ở Việt Nam, vùng ven biển Tỉnh
Nghệ An là một trong những nơi bị ảnh hưởng do tác động.Vùng ven biển là nơi có
tỷ lệ hộ nghèo cao và biến đổi khí hậu ở đây có những biểu hiện rõ rệt nhất là các
hiện tượng khí hậu cực đoan như nước biển dâng, bão, áp thấp nhiệt đới, xâm nhập
mặn, hạn hán kéo dài, các hiện tượng này xuất hiện thất thường khó dự đoán.Những
kiểu thời tiết cực đoan này tác động tới đời sống người dân đặc biệt là hộ nghèo
sống trong cộng đồng làm cho họ dễ bị tổn thương hơn, cuộc sống của họ trở nên bất
ổn, nguồn sinh kế của họ bị đe dọa. Cụ thể diện tích lúa giảm do xâm nhập mặn,
năng suất cây trồng giảm, việc đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản cũng bị ảnh
hưởng do cường độ bão và áp thấp nhiệt đới tăng, việc dự báo cũng gặp nhiều khó
khăn do đường đi của bão và áp thấp nhiệt đới có diễn biến phức tạp…
Hiện nay chưa có nghiên cứu nào liên quan tới tính dễ bị tổn thương, năng
lực thích ứng với biến đổi khí hậu tại khu vực này chính vì vậy tác giả quyết định
- Phương pháp điều tra và khảo sát thực địa: Phương pháp nghiên cứu thực
địa nhằm so sánh, đối chiếu các khu vực khác nhau, kiểm định và khẳng định những
3
kết quả đạt được từ quá trình phân tích, tính toán, thu thập các số liệu thực tế tại khu
vực nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này huy động được kinh nghiệm và
hiểu biết của nhóm chuyên gia liên ngành về lĩnh vực nghiên cứu, từ đó sẽ cho các
kết quả có tính thực tiễn và khoa học cao, tránh những trùng lặp với nghiên cứu đã
có, đồng thời sẽ kề thừa các thành quả nghiên cứu đã đạt được.
- Phương pháp chỉnh lý số liệu và tính toán các tham số, chỉ số: Phương
pháp chỉnh lý số liệu và tính toán các tham số, chỉ số là phương pháp đặc biệt quan
trọng nhằm chỉnh lý số liệu thu thập được và tính toán các chỉ số tổn thương đã được
lựa chọn.
- Phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp: Đây là phương pháp nhằm
phân tích các chỉ số đã tính toán được và đúc kết phân bố các chỉ số đó nhằm đi tới
những nhận định cuối cùng về mức độ tổn thương do BĐKH trên vùng nghiên cứu.
6. Kết quả thực hiện
Đánh giá được mức độ tổn thương của từng khu vực trong vùng ven biển
Tỉnh Nghệ An và so sánh được đâu là vùng bị tổn thương ít nhất và đâu là vùng bị
tổn thương nhiều nhất. Lựa chọn được công thức phù hợp nhất cho việc đánh giá tổn
thưởng.
7. Kết cấu chính của luận văn:
Chương 1: Tổng quan về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và số liệu
Chương 3: Kết quả đánh giá tổn thương lên cộng đồng cư dân ven biển Nghệ An.
4
Chương 1: Tổng quan về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu
- Thích ứng với biến đổi khí hậu
Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con
người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng
bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng
các cơ hội do nó mang lại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)
- Cộng đồng
Cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm
tương đối giống nhau, có những quan hệ nhất định với nhau (Korten,1987). Theo Tô
Duy Hợp và cộng sư (2000) thì cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức
(Chặt chẽ hoặc không chặt chẽ) là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu rằng buộc
bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa
các thành viên.
Các đặc điểm đó có thể là:
+ Đặc điểm kinh tế , xã hội: Cộng đồng làng xã, khu dân cư đô thị
+ Huyết thống: Cộng đồng các thành viên thuộc một họ tộc
+ Mối quan tâm và quan điểm: Nhóm sở thích trong một dự án phát triển
+ Môi trường, nhân văn
1.1.2. Khái niệm và định nghĩa về tính dễ bị tổn thương
Tính dễ bị tổn thương là một khái niệm rất trừu tượng được để cập trong
nhiều tài liệu và chưa được thống nhất một cách cụ thể.Tính dễ bị tổn thương bao
hàm nhiều vấn đề như kinh tế, xã hội và tài nguyên (Susman, O’Keefe, và Wisner
1983; Cannin, 1994), các biểu hiện vật lý (Mitchell,1989; Scheneider và
Chen,1980); mối quan hệ của nơi xảy ra tai biến với hệ thống xã hội (Dow,1992;
Cutter,1996)… Tính dễ bị tổn thương đề cập đến khả năng của một hệ thống bị tổn
hại do một tác động bên ngoài (ví dụ một mối đe dọa). Nó thường được định nghĩa
như là một hàm số của sự lộ diện, tính nhạy cảm với tác động và năng lực đối phó
hoặc thích nghi. Việc tiếp xúc hay lộ diện đối với những hiểm họa như xung đột, hạn
hán hoặc biến động giá cả, và cũng có khi là điều kiện cơ sở kinh tế xã hội, thể chế
và môi trường. Mức độ nghiêm trọng của những tác động không chỉ phụ thuộc vào
mức độ tiếp xúc, mà còn phụ thuộc vào tính nhạy cảm của các hợp phần cụ hể (ví dụ
TDBTT. Trước tiên, phân biệt TDBTT kinh tế và tính nhạy cảm sinh thái và cho
rằng tổn thương kinh tế bao gồm cả các yếu tố sinh thái. Do vậy, TDBTT phản ánh
7
tính nhạy cảm kinh tế và sinh thái đối với những sự cố hay biến động từ bên ngoài.
Tiếp theo là phân biệt giữa TDBTT cấu trúc bắt nguồn từ tình hình chính trị và
TBDTT bắt nguồn từ các chính sách kinh tế. Theo đó, TDBTT được coi là sự mất
mát/tổn thất do các hiện tượng tự nhiên có cường độ khác nhau.
- Cơ quan phát triển quốc tế của Hoa Kỳ (USAID, 1999) thì coi tính tổn
thương như là một công cụ đánh giá trong Hệ thống cảnh báo sớm nạn đói nghèo
(Famine Early Warning System - FEWS). Họ cho rằng mọi người đều bị tổn thương
nhưng ở mức độ khác nhau phụ thuộc vào nguyên nhân, diễn thế và điều kiện.
- Uỷ ban Địa học ứng dụng Nam Thái Bình Dương (The South Pacific Applied
Geo-science Commission - SOPAC, 1999) thì cho rằng tính tổn thương là khả năng
ứng phó và phục hồi của hệ thống đối với các tác động của tai biến. Liên quan đến
khía cạnh BĐKH, nghiên cứu và đánh giá TDBTT đã được đề cập, thực hiện với
nhiều công trình của các giả và tổ chức trên thế giới
- Theo quan niệm của Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (USEPA, 2006) trong
Chương trình đánh giá TDBTT vùng (Regional Vulnerability Assessment
Programme) thì TDBTT của một hệ thống là mức độ tổn thất của hệ đó dưới tác
động của một áp lực nào đó từ bên ngoài hay bên trong hệ thống. Ví dụ, suy thoái
chất lượng nước mặt và ô nhiễm môi trường khí là căn cứ để nhận biết TDBTT của
hệ môi trường.
- Khái niệm về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đã được đưa ra từ
nhiều nghiên cứu, nhưng được xem xét một cách đầy đủ nhất, bao trùm nhất là định
nghĩa của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu năm 2007 (IPCC, 2007), theo
đó “Tính dễ bị tổn thương tới biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống dễ bị tổn
thương và không thể đối phó được, với tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, bao
gồm cả những dao động và hiện tượng khí hậu cực đoan”. Tính dễ bị tổn thương là
hàm số của đặc tính, quy mô, và tốc độ của biến đổi khí hậu và nhiễu động mà một
Những người dân di tản, những nhóm người di cư, di chuyển, những người trẻ và
người già, phụ nữ và trẻ em thường là những người dễ bị tổn thương nhất (UNEP
2002). Báo cáo GEO-3 của UNEP xác định 3 lĩnh vực có mối liên hệ chặt chẽ nhất
tới tính dễ bị tổn thương, đó là sức khỏe con người, an ninh lương thực và thiệt hại
kinh tế. Hai nhóm chính sách ứng phó thường được đưa ra là:
+ Giảm hiểm họa thông qua những sáng kiến ngăn ngừa và phòng bị
9
+ Nâng cao khả năng ứng phó của nhóm những người dễ bị tổn thương nhằm
giúp họ có thể chống chịu được với những hiểm họa này.
1.2. Các công trình nghiên cứu TDBTT ngoài nước
Hiện nay, trên thế giới, TDBTT đang là tiêu chí để đánh giá một quốc gia
phát triển bền vững hay không. Phân tích TDBTT là công tác của nhiều tổ chức
quốc tế và chương trình nghiên cứu liên quan tới giảm đói nghèo và phát triển bền
vững của FAO; Hội chữ thập đỏ, UNDP, UNEP, WB, Ban đầu, TDBTT được tập
trung đánh giá mức độ nguy hiểm từ các mối đe dọa tự nhiên (Burton và cộng sự,
1978; Hewitt, 1983; Blaikie và cộng sự, 1994; Wisner, 1994; Cutter, 1996, 2003;
NOAA, 1999). Cách tiếp cận này cũng được áp dụng cho khía cạnh an ninh lương
thực (Watts và Bohle, 1993; Bohle, 1993; Bohle, Downing và Watts, 1994); cũng
như trong đói nghèo và sinh kế (Chambers, 1989; Chambers và Conway, 1992), phát
triển các ngành kinh tế - xã hội (Adger và Kelly 1999; Watts và Bohle, 1993); bảo
tồn tài nguyên và các hệ sinh thái (Turner, 2003; Adger và cộng sự, 2005; DeyiLi và
Shuwen Zhang, 2009). Các mối đe dọa từ bên ngoài được xét đến là các tai biến như
lũ lụt, bão, hạn hán và động đất, sóng thần, trong đó BĐKH đã được như là yếu tố
gây tổn thương. Các đối tượng bị tổn thương là con người, kinh tế và môi trường, hệ
sinh thái. Các nghiên cứu đã chứng minh, tuy cùng tiếp xúc với một đe dọa nhưng
các nhóm kinh tế - xã hội khác nhau có mức tổn thương khác nhau. Theo hướng tiếp
cận này đói nghèo, sự cách ly, xung đột, thiếu quyền lợi và nguồn tiếp tế là những
yếu tố quyết định đến tính dễ bị tổn thương. Phân tích tính dễ bị tổn thương giúp
chúng ta xác định được những khu vực, nhóm người và hệ sinh thái có thể chịu tác
người, thường được ẩn náu trong cơ sở dữ liệu quốc gia tổng hợp, là tính không
đồng nhất theo không gian của người dân; người nghèo thường sống ở các khu vực
có nguy cơ cao tiếp xúc với rủi ro môi trường, như ô nhiễm và hiểm họa tự nhiên và
do con người. Càng ngày, sự kết hợp của bản đồ địa-lý-sinh và kinh tế xã hội (đói
nghèo hoặc khả năng dễ bị tổn thương) thường được sử dụng đểxác định những
người nào có nguy cơ lớn nhất từ mực nước biển dâng, các hiện tượng thời tiết cực
đoan hoặc những căng thẳng môi trường khác.
1.2.1. Đánh giá về tính dễ bị tổn thương
Việc đánh giá tính dễ bị tổn thương là hết sức phức tạp do đó phương pháp
đánh giá mà mọi người tiếp cận và áp dụng là sử dụng bộ chỉ số gồm có các chỉ thị
về mức độ nguy hiểm, tổn thất và khả năng ứng phó, phục hồi. Tính dễ bị tổn
thương được định lượng trên cở sở tổng hợp từ nhiều yếu tố khác nhau như yếu tố
11
tự nhiên, yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường, sinh thái và cả sự tác động qua lại của
các mối quan hệ tới thể chế. Đánh giá tính dễ bị tổn thương là kiểm kê có hệ thống
về các yếu tố trang thiết bị xây dựng, các nhóm dân cư hoặc các thành phần của nền
kinh tế để xác định các tính năng dễ bị thiệt hại từ những tác động của thiên tai
(Schroter and CS 2005). Đánh giá tính dễ bị tổn thương thường tập trung vào tác
động của BĐKH và thích ứng. Ba dạng nghiên cứu thường gặp bao gồm hai dạng
nghiên cứu truyền thống, đánh giá tác động và nghiên cứu rủi ro, hiểm họa, thường
tập trung vào nhiều hiệu ứng của một căng thẳng duy nhất. Đánh giá rủi ro, hiểm
họa có thể bao gồm các sự kiện tiềm năng khẩn cấp chẳng hạn như lũ lụt, động đất.
Một dạng thứ 3 của đánh giá là tập trung vào các nguyên nhân của một hiệu ứng duy
nhất. Những dạng đánh giá tính dễ bị tổn thương phần lớn bắt nguồn từ ba dạng
đánh giá này. Một số phương pháp đánh giá TDBTT thường được biết đến như sau:
a) Đánh giá TDBTT kinh tế
Đánh giá TDBTT kinh tế được phát triển từ năm 1991, để phân loại sự phát
triển của mỗi quốc gia, UN căn cứ theo nhóm các chỉ tiêu gồm có: tổng sản phẩm
quốc nội (GDP); chỉ số tài sản con người (Human assets index - HAI) và chỉ số tổn
thương xã hội. Các chỉ thị được tổng hợp từ các phân tích thống kê của hơn 500
ngàn người đang phải chịu áp lực căng thẳng về kinh tế và tổn thương xã hội. Chỉ số
tổn thương xã hội ở Tây Ban Nha được xây dựng hàng năm đối với cả người lớn và
trẻ nhỏ.
TDBTT xã hội hiện được phát triển và đánh giá theo hai nội dung cơ bản sau:
- Thiết kế các mô hình để diễn tả tổn thương và nguyên nhân gây tổn thương.
- Phát triển các chỉ thị và chỉ số để xây dựng bản đồ tổn thương mô tả theo thời
gian và không gian.
- Các khía cạnh về thời gian và không gian của tổn thương được kiểm nghiệm
bằng thực tế. Trong đó, các khía cạnh chủ yếu được đề cập trong đánh giá TDBTT
xã hội:
- Nguyên nhân và thảm họa được xác định ảnh hưởng tới cả quá trình và cấu
trúc xã hội.
13
- Các nhóm xã hội khác nhau nếu cùng phải hứng chịu một mối nguy hiểm,
nhưng tác động của hiểm họa đến các nhóm là khác nhau do năng lực ứng xử trước
các tác động khác nhau.
c) Đánh giá TDBTT môi trường
Đánh giá TDBTT môi trường được phát triển bởi Ban ứng dụng khoa học địa
chất Nam Thái Bình Dương (SOPAC) và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc
(UNEP), áp dụng cho các quốc gia thuộc các vùng đảo nhỏ (SIDS) từ năm 1999.
Sau đó công trình này được mở rộng và phát triển thành chỉ số tổn thương môi
trường (Environmental Vulnerability Index - EVI). Chỉ số này cung cấp một phương
pháp đánh giá nhanh chóng và chuẩn hóa các đặc trưng tổn thương một cách tổng
thể và kết hợp cả ba khía cạnh “trụ cột” của phát triển là: môi trường, kinh tế và xã
hội. Bởi vậy, EVI ngày càng trở nên quan trọng để có thể định lượng được TDBTT
ở các khía cạnh khác nhau, kể cả mức độ thiệt hại và xây dựng khả năng ứng phó,
phục hồi. EVI là một trong những chỉ số đầu tiên của công cụ quản lý môi trường
theo hướng hiện đại. Quy mô phát triển của một quốc gia là phù hợp nếu các điều
Chỉ số HSI đã được phát triển trong 232 quốc gia, vùng lãnh thổ và được dự
định làm con số đại diện để công bố hàng năm. HSI hiện đang được cân nhắc là một
trong số 30 chỉ số hành đầu về kinh tế, môi trường và xã hội. HSI được đánh giá qua
3 chỉ số thành phần:
- Chỉ số kinh tế: được đánh giá thông qua: 1) GDP bình quân đầu người; 2)
Sự bình đẳng về phân phối thu nhập; 3) Quản trị kinh tế - tài chính (nguy cơ khó
khăn thông quan thương mại không bền vững hoặc nợ, hoặc do thiên tai thảm khốc);
- Chỉ số môi trường: được đánh giá thông qua 1) TDBTT môi trường; 2) Bảo
vệ môi trường và các chính sách; 3) Môi trường bền vững;
- Chỉ số xã hội: thông qua các số liệu về 1) Y tế; 2) Giáo dục và trao quyền
thông tin; 3) Bảo vệ và hưởng lợi từ xã hội; 4) An lạc; 5) Quản trị, gồm cả chống lại
hành vi bất hợp pháp và tham nhũng; 6) An ninh lương thực.
Ngoài ra, các phương pháp và công cụ hỗ trợ cho quá trình đánh giá TDBTT
theo chỉ chị gồm có: thu thập dữ liệu, thống kê và phân loại dữ liệu, xác định
15
ngưỡng ảnh hưởng, các công cụ phân tích kinh tế - xã hội và phân tích không gian.
Trong đó:
- Thu thập, thống kê và phân loại số liệu có nhiệm vụ: 1) thu thập dữ liệu và
thiết kế các nghiên cứu có định lượng; 2) hỗ trợ quá trình tìm hiểu bản chất của vấn
đề; 3) là số liệu đầu vào cho các công cụ phân loại, xác định ngưỡng, phân tích kinh
tế và môi trường để định lượng hóa tính tổn thương. Đánh giá tổn thương đòi hỏi
nguồn cơ sở dữ liệu thống kê từ đa ngành như: tự nhiên (địa lý, địa chất, thủy văn,
hải văn, khí hậu,…); kinh tế - xã hội và môi trường, sinh thái. Đánh giá tổn thương
môi trường (EVI) với 50 chỉ tiêu để định lượng tổn thương từ các số liệu về BĐKH,
đa dạng sinh học, tài nguồn nước, sản xuất nông nghiệp và thủy sản, sức khỏe con
người. Đánh giá chỉ số an ninh con người cần các số liệu thống kê về: GDP, thuế, tài
chính, vay vốn, y tế, giáo dục, truyền thông, phúc lợi xã hội,… Số liệu kinh tế, xã
hội và dân số có thể lấy từ nguồn niên giám thống kê và hoặc bằng các phương pháp
điều tra xã hội học. Số liệu liên quan tới tự nhiên như: khí tượng thủy văn, BĐKH,